Showing posts with label Hỏi đáp về Thuế. Show all posts
Showing posts with label Hỏi đáp về Thuế. Show all posts

Tuesday, 13 December 2011

Chứng từ đầu vào hoạt động cung cấp

Ảnh minh họa - nguồn Internet.
- Hỏi: Tôi là hộ kinh doanh chuyên cung cấp xuất ăn công nghiệp cho công nhân các doanh nghiệp. Tôi đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế. Trong quá trình kinh doanh chủ yếu có mua thực phẩm tươi sống là cá, đậu, rau, củ, quả của các hộ nông dân. Vậy tôi có phải làm hợp đồng để nên cơ quan thuế mua hóa đơn lẻ để làm chứng từ đầu vào hay không?

Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) trả lời như sau: Xuất ăn công nghiệp cho người lao động được sản xuất chế biến từ thực phẩm tươi sống mua của người nông dân trực tiếp sản xuất bán ra thì đương nhiên là không có hoá đơn. Tuy nhiên, nếu mua của người kinh doanh buôn bán thì các mặt hàng này sẽ phải chịu thuế GTGT là 5% .

Nếu người bán cho bạn là nông dân, chủ nông trại (chuyên trồng trọt, chăn nuôi, không phải nhà buôn/kinh doanh thương mại) thì có thể lập Bảng kê thu mua hàng nông sản, thực phẩm (mẫu số 01/TNDN ban hành kèm theo TT số 130/2008 của Bộ Tài chính) làm thủ tục nhập kho, ghi sổ kế toán để hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Bạn đọc có thể tham khảo quy định tại điểm 2.4, mục IV, phần C của Thông tư số 130/2008 của Bộ Tài chính ngay tại website này.

(Theo eFinance)

Quà bánh tặng khách hàng thân thiết có được đưa vào chi phí hợp lý?

Ảnh minh họa - nguồn Internet.
- Hỏi: Hàng năm, nhân dịp lễ, tết công ty tôi có mua quà (gồm bánh, rượu,..) tặng cho những khách hàng thân thiết. Những khoản chi phí mua quà này có được đưa vào chi phí hợp lý để khấu trừ TNDN không? Nếu được cần những thủ tục gì? (Nguyễn Như Mai - tomailmai@yahoo.com).

Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) trả lời như sau: Văn hoá dân tộc ta cho thấy việc tặng quà cho khách hàng thân thiết vào dịp lễ/tết là chuyện xảy ra phổ biến. Việc này có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN (vì không có bạn hàng thì DN bán cho ai đây ???) cho nên, về nguyên tắc là DN được tính vào chi phí khi tính thuế TNDN nếu có đủ chứng từ, hoá đơn hợp pháp.

Tuy nhiên khoản này thuộc loại chi phí bị khống chế theo tỷ lệ tối đa 10% tổng số chi phí (chi phí giao dịch, đối ngoại, tiếp tân, khánh tiết,…) chưa bao gồm khoản này đối với DN đang hoạt động (tỷ lệ 15% đối với DN thành lập mới từ 2009).

DN không phải làm thủ tục gì cả, chỉ hạch toán, kê khai đầy đủ, có chứng từ hoá đơn hợp pháp chứng minh rằng DN thực tế có chi.

(Theo eFinance)

Bán hàng không xuất hoá đơn


- Hỏi: Doanh nghiệp bán hàng không xuất hoá đơn, sau khi kiểm tra kết luận trốn thuế, gian lận thuế theo điều 14 của Nghị định 98. Nếu doanh nghiệp nộp số tiền trước khi ra quyết định xử lý thì có được chuyển sang hành vi khai sai thuế tại điểm c khoản 1 điều 13 Nghị định 98 không? (Ngọc Hải -lethingochaithue@gmail.com).

Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) trả lời như sau: Doanh nghiệp (DN) của bạn được kiểm tra, bị phát hiện và kết luận trốn thuế, gian lận thuế theo Điều 14 Nghị định số 98/2007 nhưng DN có thái độ thực sự cầu thị, cố gắng khắc phục hậu quả và tự giác nộp số thuế trước khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng mức xử phạt thấp nhất, mức phạt với hành vi vi phạm lần đầu.

Nếu như việc DN bán hàng không xuất hoá đơn, nhưng số tiền bán hàng có ghi vào trong hệ thống sổ sách kế toán, có khai nộp thuế GTGT, có hạch toán doanh thu thì không bị xếp vào hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

Bạn đọc vui lòng kiểm tra lại trường hợp của DN mình để đề nghị xem xét xử lý đối với sai phạm của mình.

(Theo eFinance)

Tuesday, 5 April 2011

Quên mã số thuế, có thể dùng số chứng minh nhân dân

Ảnh minh họa.
Hỏi: Công ty tôi là công ty xây dựng, nên thường xuyên phải thuê lao động thời vụ ở nhiều địa điểm khác nhau. Người lao động đã có mã số thuế nhưng họ không nhớ mã số thuế thì khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân (TNCN), công ty tôi dùng số chứng minh nhân dân của người lao động để quyết toán cho người lao động có được không? (Nguyễn Thị Trang, Công ty Cổ phần Xây dựng Hoàng Cường, trang15686@gmail.com)

Trả lời: Nguyên tắc chung của việc khai quyết toán thuế TNCN đối với người lao động ký hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng là đơn vị chi trả thu nhập phải lập bảng kê theo mẫu số 05B/BK-TNCN, trong đó danh sách phải được lập chi tiết, kê đủ tên, số CMND, mã số thuế ,… của từng cá nhân nhận thu nhập.

Tuy nhiên, thực tế không ít trường hợp cá nhân là lao động thời vụ, có MST rồi nhưng không nhớ được mà chỉ có CMND để ghi số vào danh sách đó thì cũng có thể chấp nhận được.

(Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính)

Xuất hoá đơn giá trị gia tăng cho khoản hoa hồng

Ảnh minh họa.
Hỏi: Theo công văn số 4058/TCT-CS thì 'khoản hoa hồng đại lý được hưởng từ việc bán các gói cước vận tải biển quốc tế từ các cảng trên thế giới về Việt Nam và ngược lại theo đúng giá qui định của hãng vận tải biển nước ngoài và thu hộ cho hãng tàu biển nước ngoài khoản tiền cước vận tải biển quốc tế mà đại lý trực tiếp bán không phải khai thuế giá trị gia tăng (GTGT)'. Vậy em xin hỏi Quý Bộ Tài chính, công ty em có phải xuất hoa đon không chịu thuế cho khoản hoa hồng này không hay là phải hạch toán thu khác và tính thuế thu nhập doanh nghiệp? Rất mong được sự hướng dẫn. Em xin cảm ơn. (Nguyễn Thị Thanh Hương. Địa chỉ: Lầu 6, 343 Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP.HCM. Email ntthanhhuonghb@yahoo.com)

Trả lời: Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính trả lời như sau:

Nguyên tắc chung là quan hệ giao dịch mua/bán hàng hoá, dịch vụ đều phải xuất hoá đơn GTGT, cho dù hàng hoá, dịch vụ đó thuộc diện không chiụ thuế GTGT.

Doanh nghiệp của bạn làm dịch vụ đại lý, được hưởng hoa hồng do đã cung cấp dịch vụ đại lý bán gói cước cho hãng tàu/hoặc chủ hàng. Với trường hợp bạn nêu trong thư hỏi thì cần phải xuất hoá đơn GTGT cho đối tác trả hoa hồng cho mình. Trên hoá đơn đó, nếu thuộc diện không chịu thuế GTGT thì dòng thuế GTGT được gạch chéo và ghi dòng giá trị tiền hàng đúng bằng dòng tổng giá thanh toán.

Chúc thành công.

(Theo eFinance)

Thuế đối với nhà thầu

Ảnh minh họa.
Hỏi: Đơn vị tôi đang quản lý một dự án sử dụng vốn vay tín dụng ưu đãi của Trung Quốc, dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt năm 2004. Năm 2006, Đơn vị tôi đã ký hợp đồng EPC với nhà thầu Trung Quốc với giá hợp đồng tạm tính. Theo đó, chính sách thuế và ưu đãi thuế đã được lập theo hướng dẫn tại Thông tư số 41/2002/TT-BTC ngày 3/5/2002.

Năm 2010, do nhiều nguyên nhân dẫn đến dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh, trong đó có bố trí thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho dự án. Ngày 23/10/2007, Thông tư số 123/2007/TT-BTC về việc hướng dẫn thực hiện chính sách thuế và ưu đãi thuế đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được ban hành thay thế Thông tư 41/2002/TT-BTC nêu ở trên. Đến nay, khi đơn vị tôi ký hợp đồng EPC với giá chính thức với nhà thầu Trung Quốc thì các chính sách về thuế hướng dẫn cho dự án ODA sẽ căn cứ theo Thông tư nào (Thông tư 41/2002/TT-BTC hay Thông tư 123/2007/TT-BTC) hay giữa đơn vị tôi và nhà thầu có thể thương thảo lựa chọn theo hướng dẫn của một trong hai Thông tư trên để thực hiện? (L.V.Thanh, thanhpd2@yahoo.com.vn)

Trả lời: Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính trả lời như sau:

Nguyên tắc chung của thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ được giao dịch mua/bán/tiêu dùng tại thời điểm nào thì áp vào chính sách tại thời điểm đó.

Dự án của bạn mới là vay vốn ưu đãi của Trung Quốc thôi, chưa phải loại được TQ viện trợ khônmg hoàn lại, cho nên cho dù có được ai duyệt, có được ai ký thì cũng phải áp dụng chính sách, pháp luật thuế có hiệu lực tại thời điểm các bên đối tác làm thủ tục bàn giao công trình/thiết bị, lập biên bản nghiệm thu, xuất hoá đơn,…

Với trường hợp bạn nêu, rõ ràng là chính sách thuế của dự án này không thể theo Thông tư 41/2002 mà phải tuân thủ theo quy định tại Thông tư 123/2007, Thông tư số 129/2008, Thông tư số 134/2008. Nói cách khác, bên Việt Nam phải bố trí đủ vốn đối ứng để nộp thuế theo quy định của các Luật thuế đang có hiệu lực.

(Theo eFinance)

Thời gian chạy thử và khấu hao tài sản cố định

Ảnh minh họa.
Hỏi: Công ty tôi có xây dựng dây chuyền sản xuất gạch tuynen đến tháng 6 đi vào chạy thử. Xin hỏi thời gian chạy thử của dây chuyền sản xuất tối đa là bao nhiêu, và thời gian trích khấu hao tài sản này được tính từ khi nào cho phù hợp? (Nguyễn Thị Kim Xinh, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 18, Xinhkt18@gmail.com)

Vụ Chính sách Thuế, Bộ Tài chính trả lời như sau:

Thời gian chạy thử của mỗi loại tài sản cố định (TSCĐ) sẽ phụ thuộc vào đặc điểm công nghệ, quy trình vận hành theo hỗ sơ kỹ thuật của chúng. Nhiều trường hợp còn phụ thuộc vào phương án tổ chức thi công xây lắp, chất lượng công tác lắp đặt thiết bị của mỗi công trình. Không có văn bản nào quy định cứng thời gian chạy thử cho mỗi dây chuyền, tuy nhiên, với dây chuyền gạch tuynen thì bạn đọc có thể tham khảo những doanh nghiệp có loại lò này để tham khảo và quyết định thời gian của mình cho phù hợp với thực tế cũng như các yêu cầu trên.

Về thời gian bắt đầu trích khấu hao: Khoản 9, điều 9 của chế độ khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính thì Việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng hoặc giảm. Doanh nghiệp thực hiện hạch toán tăng, giảm TSCĐ theo quy định hiện hành về chế độ kế toán doanh nghiệp.

Chúc bạn đọc sức khoẻ, thành công.

(Theo eFinance)

Thursday, 3 March 2011

Thuế thu nhập cá nhân với thu nhập làm thêm giờ của giáo viên




Theo quy định tại điểm 9, Mục III, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính, trong số các khoản thu nhập được miễn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) có thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.

Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

Ví dụ: Một cá nhân có mức lương trả theo ngày làm việc bình thường theo quy định của Bộ luật Lao động là 20.000 đồng/giờ.

- Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày thường, cá nhân được trả 30.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là: 30.000 đồng/giờ – 20.000 đồng/giờ = 10.000 đồng/giờ

- Trường hợp cá nhân làm thêm giờ vào ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cá nhân được trả 40.000 đồng/giờ thì thu nhập được miễn thuế là: 40.000 đồng/giờ – 20.000 đồng/giờ = 20.000 đồng/giờ

Căn cứ điểm 2, mục II Thông tư Liên tịch số 50/2008/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC ngày 9/9/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập:

Số giờ dạy thêm = Số giờ tiêu chuẩn thực hiện (-) Số giờ tiêu chuẩn định mức

Số giờ tiêu chuẩn thực hiện = Số giờ thực tế giảng dạy được quy đổi theo giờ tiêu chuẩn (+) Số giờ thực hiện các công việc khác được quy đổi theo giờ tiêu chuẩn (nếu có)

Tiền lương dạy thêm giờ = Số giờ dạy thêm (x) Tiền lương dạy thêm 1 giờ

Ngày 25/4/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

Căn cứ các quy định trên, thu nhập từ tiền lương, tiền công dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công được trả theo số giờ tiêu chuẩn định mức đã quy định thì được miễn thuế TNCN.

Việc xác định đơn giá thanh toán cho 1 giờ dạy theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 50/2008/TTLT-GGDĐT-BNV-BTC nêu trên và Quy chế chi tiêu nội bộ của từng trường.

Để đơn giản thủ tục hành chính, các cơ sở giáo dục công lập phải lập bảng kê phản ánh thời gian giảng dạy, thu nhập từ dạy thêm giờ đã trả cho nhà giáo. Bảng kê này không phải gửi cho cơ quan thuế. Cơ sở giáo dục công lập không phải khai và nộp tờ khai quyết toán thuế đối với trường hợp trong năm không có cá nhân nào thuộc quản lý của cơ sở thuộc diện phải nộp thuế TNCN.

(Theo eFinance)

Wednesday, 2 March 2011

Cách tính thu nhập chịu thuế đối với tiền thuê nhà được hưởng và % tiền thuê nhà được phép.

Câu hỏi: Chắc hẳn sẽ có một số đơn vị, cá nhân thắc mắc về khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với tiền thuê nhà cho chuyên gia nước ngoài và đề nghị được cơ quan chức năng hướng dẫn. Cũng như thắc mắc về cách tính thu nhập chịu thuế đối với tiền thuê nhà được hưởng và % tiền thuê nhà được phép.

Taichinh247.com xin trả lời thắc mắc của bạn đọc như sau:


Để việc thực hiện được thống nhất, Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể như sau:

Theo Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính, thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ.

Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính về thuế thu nhập cá nhân có hướng dẫn các khoản thu nhập chịu thuế, trong đó có các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho người lao động, như: Tiền nhà ở, tiền điện, nước và các loại dịch vụ khác kèm theo.

Trường hợp cá nhân ở tại trụ sở làm việc thì thu nhập chịu thuế căn cứ vào tiền thuê nhà, hoặc chi phí khấu hao, tiền điện, nước và các dịch vụ khác tính theo tỷ lệ giữa diện tích cá nhân sử dụng với diện tích trụ sở làm việc.

Tại Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC có hướng dẫn cụ thể như sau: Đối với các khoản lợi ích khác mà người lao động được hưởng thì chỉ tính vào thu nhập chịu thuế đối với các trường hợp xác định được đối tượng được hưởng; không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân đối với các khoản lợi ích không xác định được cụ thể người được hưởng.

Trong trường hợp khoản tiền thuê nhà do đơn vị sử dụng lao động chi trả hộ thì tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa bao gồm tiền thuê nhà).

Căn cứ hướng dẫn trên, Tổng cục Thuế trả lời: Trường hợp các chuyên gia nước ngoài sang Việt Nam công tác, giữ các chức vụ quản lý tại Việt Nam, hưởng lương tại Việt Nam theo hợp đồng lao động ký với doanh nghiệp tại Việt Nam thì khoản tiền thuê nhà do doanh nghiệp tại Việt Nam chi trả là khoản phúc lợi mà người lao động được hưởng và phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định, doanh nghiệp tại Việt Nam không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT của khoản tiền thuê nhà trong trường hợp này.

Trường hợp các chuyên gia nước ngoài vẫn là nhân viên của doanh nghiệp ở nước ngoài, chịu sự điều động của doanh nghiệp ở nước ngoài, được doanh nghiệp ở nước ngoài trả lương và hưởng các chế độ của doanh nghiệp ở nước ngoài trong thời gian sang Việt Nam công tác, giữa doanh nghiệp ở nước ngoài và doanh nghiệp tại Việt Nam có hợp đồng bằng văn bản nêu rõ doanh nghiệp tại Việt Nam phải chịu các chi phí về chỗ ở cho các chuyên gia nước ngoài trong thời gian công tác ở Việt Nam thì tiền thuê nhà cho các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam do doanh nghiệp tại Việt Nam chi trả được khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo quy định.


Ví dụ cách tính thu nhập chịu thuế đối với tiền thuê nhà được hưởng:

Giả sử lương $8000, housing deduction $500, house rental $1200
Vậy thu nhập chịu thuế sẽ là : $8000-$500 + (8000-500)*15% = 8625
hay $8000 + (1200 - 500) = 8700??

Bài giải:

Housing deduction ở đây là khoản trừ từ thu nhập của expat (thể hiện trong bảng payroll, payroll ghi rõ ràng là lưong bao nhiêu, housing deduction bao nhiêu, nên không thể khai lương 7500 đươc) vì công ty đã trả tiền nhà cho họ ở VN, vì vậy mình tính tổng thu nhập chiu thuế = 8000-500 + (8000-500)*15% = 8625
vì mình xem đó là khoản khấu trừ tại nguồn của thu nhập chịu thuế.

Nhưng Cục thuế không đồng ý, họ cho rằng số tiền này làm giảm tiền nhà trả hộ nên tính tổng thu nhập chịu thuế = 8000 + (1200-500) = 8700.

Chúc các bạn đọc được bài đọc lý thú và bổ ích...

(www.taichinh247.com)




Friday, 21 January 2011

Tiền sử dụng đất ngoài hạn mức tính như thế nào?



Hiện rất nhiều người dân vẫn chưa biết cách tính tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng vượt hạn mức giao đất. Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính đã có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Một số trường hợp phải xác định lại giá đất

Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 69/2009/NDD-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì: "Khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, cho thuê đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và trường hợp doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất mà giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm giao đất, cho thuê đất, thời điểm quyết định thu hồi đất, thời điểm tính giá đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp".

Để tháo gỡ vướng mắc khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giảm bớt nghĩa vụ tài chính về đất cho người dân và theo kiến nghị của UBND TP Hồ Chí Minh, ngày 14/7/2010 Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 1173/TTg-KTN về giải quyết vướng mắc trong việc thu tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Công văn hướng dẫn:

"1. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được công nhận quyền sử dụng đất ở đối với đất đang sử dụng hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích đất ở trong hạn mức, thì giá đất để tính thu tiền sử dụng đất theo bảng giá đất do UBND TP Hồ Chí Minh ban hành và công bố hàng năm.

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do lấn, chiếm để xây dựng nhà ở, nếu phù hợp với quy hoạch khu dân cư và đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật, thực hiện thu tiền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993: Đối với phần diện tích đất đang sử dụng trong hạn mức giao đất ở mới, thu 50% tiền sử dụng đất theo bảng giá đất do UBND thành phố ban hành và công bố hàng năm;

Đối với phần diện tích đất đang sử dụng vượt hạn mức giao đất ở mới, thu 100% tiền sử dụng đất theo giá đất do UBND thành phố quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy.

b) Trường hợp sử dụng đất từ 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004: Đối với phần diện tích đất đang sử dụng trong hạn mức giao đất ở mới, thu 100% tiền sử dụng đất theo bảng giá đất do UBND TP Hồ Chí Minh ban hành và công bố;

Đối với phần diện tích đất đang sử dụng vượt hạn mức giao đất ở thu 100% tiền sử dụng đất theo giá đất do UBND thành phố quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy.

Nếu người sử dụng đất không có nhu cầu sử dụng đất thì UBND TP Hồ Chí Minh thu hồi, quản lý, sử dụng đất theo quy định.

3. Đối với trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao đất không đúng thẩm quyền mà chưa nộp tiền sử dụng đất trước ngày 1/7/2004, thực hiện thu tiền sử dụng đất như sau:

a) Đối với phần diện tích trong hạn mức đất ở được giao trước ngày 15/10/1993 thu 40% tiền sử dụng đất và từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004 thu 50% tiền sử dụng đất theo bảng giá đất do UBND thành phố ban hành và công bố hàng năm;

Đối với phần diện tích đất đang sử dụng vượt hạn mức giao đất ở mới, thu 100% tiền sử dụng đất theo giá đất do UBND thanh fphố quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng QSD đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy.

b) Trường hợp người sử dụng đất không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính, UBND thành phố căn cứ nhu cầu của người đang sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất của thành phố để xem xét cho thuê hoặc thu hồi, quản lý và sử dụng đất theo quy định...".

UBND cấp tỉnh quyết định mức thu tiền sử dụng đất ngoài hạn mức

Căn cứ chỉ đạo nêu trên, trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất mà phải nộp tiền sử dụng đất thì giá đất tính thu tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất đang sử dụng trong hạn mức giao đất ở mới, là giá đất theo bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành và công bố hàng năm tại thời điểm cấp giấy hoặc chuyển mục đích sử dụng đất;

Đối với phần diện tích đất đang sử dụng vượt hạn mức giao đất ở mới, là giá đất do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy hoặc chuyển mục đích sử dụng đất.

Trường hợp người sử dụng đất đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ xin cấp Giấy chứng nhận, hồ sơ xin chuyển mục đích sử dụng đất nhưng cơ quan chức năng chậm làm thủ tục hoặc hướng dẫn lập hồ sơ không đúng quy định thì nghĩa vụ tài chính về đất được xác định tại thời điểm đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 4 Nghị định số 84/2007/NDD-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

Bộ Tài chính cũng đã nghiên cứu lấy ý kiến của các Bộ, ngành có liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Chính phủ ban hành Nghị định số 120/2010/NDD-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NDD-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất. Bộ Tài chính sẽ có hướng dẫn cụ thể về việc xác định giá đất tính thu tiền sử dụng đất tại Thông tư hướng dẫn Nghị định số 120/2010/NĐ-CP.


(Theo Efinance)

Wednesday, 29 September 2010

Thu nhập phát sinh ở nước ngoài vẫn phải nộp thuế thu nhập cá nhân



Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN), cá nhân người nước ngoài có thuê nhà để ở tại Việt Nam với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên được coi là cá nhân cư trú và thực hiện nộp thuế TNCN như cá nhân cư trú.

Tuy nhiên, Tổng cục Thuế vừa gửi công văn tới cơ quan thuế các địa phương khẳng định, theo thông lệ quốc tế, điều kiện cá nhân có nhà thuê để ở với thời hạn của hợp đồng trên 90 ngày chỉ được coi là đối tượng cư trú nếu cá nhân đó không chứng minh được là đối tượng cư trú tại nước khác.

Nếu cá nhân người nước ngoài ở Việt Nam trên 90 ngày đến dưới 183 ngày liên tục nhưng chứng minh được là đối tượng cư trú tại nước khác thì vẫn là đối tượng không cư trú tại Việt Nam.

Cũng theo Tổng cục Thuế, người nước ngoài thuộc đối tượng cư trú, có thu nhập từ hoạt động cho thuê nhà ở nước ngoài phải kê khai, nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Trường hợp cá nhân có thu nhập phát sinh ở nước ngoài đã nộp thuế TNCN ở nước ngoài thì được trừ số thuế đã nộp khi nộp thuế TNCN tại Việt Nam nhưng không được vượt quá số thuế TNCN tính theo Luật thuế TNCN của Việt Nam.

Để được trừ số thuế TNCN đã nộp ở nước ngoài, người nộp thuế tự dịch các tài liệu chứng minh đã nộp thuế tại nước ngoài ra tiếng Việt (không cần phải công chứng) để nộp cho cơ quan thuế Việt Nam.

(Theo Báo Đầu Tư)

Monday, 23 August 2010

Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn

Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo được quy định như thế nào?

* Theo quy định tại khoản 6, Điều 10 Nghị định số 123:

Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo:

a) Đối với dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại: chủ chương trình, dự án hoặc nhà thầu chính, tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý chương trình, dự án được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đã trả đối với hàng hoá, dịch vụ mua ở Việt Nam để sử dụng cho chương trình, dự án.

b) Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam thì được hoàn thuế giá trị gia tăng đã trả của hàng hóa, dịch vụ đó.

* Theo quy định tại khoản 3 mục I phần G Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính quy định về hồ sơ hoàn thuế như sau:

Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng đối với dự án ODA:

- Văn bản đề nghị hoàn thuế nêu rõ lý do hoàn thuế, số thuế đề nghị hoàn, thời gian phát sinh số thuế đề nghị hoàn theo mẫu số 01/HTBT ban hành kèm theo Thông tư này.

- Bảng kê khai tổng hợp thuế đầu vào được hoàn;

- Bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá dịch vụ mua vào mẫu số 01-2/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này;

- Quyết định của cấp có thẩm quyền về việc phê duyệt dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại, dự án sử dụng vốn ODA vay ưu đãi được Ngân sách Nhà nước cấp phát (bản sao có đóng dấu và chữ ký xác nhận của người có thẩm quyền của dự án). Trường hợp hoàn thuế nhiều lần thì chỉ xuất trình lần đầu.

- Xác nhận của cơ quan chủ quản dự án ODA về hình thức cung cấp dự án ODA là ODA không hoàn lại hay ODA vay được Ngân sách Nhà nước cấp phát ưu đãi thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng (bản sao có xác nhận của cơ sở) và việc không được Ngân sách Nhà nước cấp vốn đối ứng để trả thuế giá trị gia tăng. Người nộp thuế chỉ phải nộp tài liệu này với hồ sơ hoàn thuế lần đầu của dự án.

Trường hợp nhà thầu chính lập hồ sơ hoàn thuế thì ngoài những tài liệu nêu tại điểm này, còn phải có xác nhận của chủ dự án về việc dự án không được Ngân sách Nhà nước bố trí vốn đối ứng để thanh toán cho nhà thầu theo giá có thuế giá trị gia tăng; giá thanh toán theo kết quả thầu không có thuế giá trị gia tăng và đề nghị hoàn thuế cho nhà thầu chính.

* Theo quy định tại khoản 4 mục I phần G Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính quy định về hồ sơ hoàn thuế như sau:

Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng đối với tổ chức Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại của nước ngoài mua hàng hoá tại Việt Nam để viện trợ:

- Văn bản đề nghị hoàn thuế nêu rõ lý do, số thuế đề nghị và thời gian phát sinh số thuế đề nghị hoàn theo mẫu số 01/HTBT ban hành kèm theo Thông tư này.

- Bảng kê khai tổng hợp số thuế đầu vào được hoàn.

- Bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá dịch vụ mua vào mẫu số 01-2/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này;

- Quyết định phê duyệt các khoản viện trợ của cấp có thẩm quyền (bản sao có xác nhận của người nộp thuế);

- Văn bản xác nhận của Bộ Tài chính về khoản tiền viện trợ của tổ chức phi chính phủ nước ngoài nêu rõ: tên tổ chức viện trợ, giá trị khoản viện trợ, cơ quan tiếp nhận, quản lý tiền viện trợ.

* Theo quy định tại khoản 6 phần C Thông tư số 129, hoàn thuế giá trị gia tăng đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo:

Hoàn thuế GTGT đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại hoặc viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo:

1. Đối với dự án sử dụng vốn ODA không hoàn lại: chủ chương trình, dự án hoặc nhà thầu chính, tổ chức do phía nhà tài trợ nước ngoài chỉ định việc quản lý chương trình, dự án được hoàn lại số thuế GTGT đã trả đối với hàng hoá, dịch vụ mua ở Việt Nam để sử dụng cho chương trình, dự án.

2. Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho chương trình, dự án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam thì được hoàn thuế GTGT đã trả của hàng hoá, dịch vụ đó.

Ví dụ: Hội chữ thập đỏ được Tổ chức quốc tế viện trợ tiền để mua hàng viện trợ nhân đạo cho nhân dân các tỉnh bị thiên tai là 200 triệu đồng. Giá trị hàng mua chưa có thuế là 200 triệu đồng, thuế GTGT là 20 triệu đồng. Hội chữ thập đỏ sẽ được hoàn thuế theo quy định là 20 triệu đồng.

Việc hoàn thuế GTGT đã trả đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

(Nguồn: VTCA)

Hoàn thuế giá trị gia tăng dự án ODA

Trong quá trình chuẩn bị thực hiện một dự án ODA nhưng chưa kịp đăng ký mã số thuế, công ty chúng tôi cần mua một số hàng hoá để phục vụ cho dự án này. Xin hỏi, số thuế giá trị gia tăng của những hàng hoá mua trước thời điểm được cấp mã số thuế sẽ giải quyết như thế nào?

(Đinh Đức Sơn, G2 Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội.)

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, trường hợp công ty chuẩn bị thực hiện một dự án ODA, theo nguyên tắc phải đăng ký mã số thuế để thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Nhưng trong thời gian chưa kịp đăng ký mã số thuế, công ty cần mua một số hàng hoá để phục vụ cho dự án thì số thuế giá trị gia tăng của những hàng hoá này được giải quyết như sau: Về việc hoàn thuế giá trị gia tăng cho các dự án ODA viện trợ không hoàn lại và dự án ODA vay ưu đãi được ngân sách Nhà nước cấp phát thực hiện, Công văn số 7711/TC- TCT ngày 13/07/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:

Trường hợp trong thời gian đầu thực hiện dự án, do một số nguyên nhân khách quan, chủ dự án chưa đăng ký với cơ quan thuế để được cấp mã số thuế nhưng có mua một số hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho dự án thì số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua ghi trên các hoá đơn chưa có mã số thuế của chủ dự án nhưng có tên người mua là dự án hoặc chủ dự án và đầy đủ nội dung khác của hoá đơn sẽ được hoàn lại nếu chủ dự án cam kết hàng hoá, dịch vụ mua vào để sử dụng cho dự án và cơ quan thuế kiểm tra đối chiếu xác minh bên cung cấp hàng hoá, dịch vụ đã kê khai nộp thuế đối với các hoá đơn nêu trên.

Kể từ lần hoàn tiếp theo, chủ dự án phải thực hiện hoàn thuế theo đúng quy định tại Thông tư số 41/2002/TT-BTC ngày 03/05/2002 và Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính.

(Theo VNECONOMY)

Các khoản chi tiền lương, tiền công nào được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp?

Hỏi:

Các khoản chi tiền lương, tiền công nào được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp?

Trả lời:

Các khoản chi tiền lương, tiền công được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:


Chi phí tiền lương, tiền công, khoản tiền thưởng mang tính chất tiền lương tiền công, các khoản hạch toán khác để trả cho người lao động và thực tế đã chi trả cho người lao động có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.


Trong đó
- Chi phí tiền lương của cơ sở kinh doanh bao gồm các khoản tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động theo quy định của Bộ Luật lao động.


- Chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động trong năm nhưng chi sang năm sau trong thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm và khoản trích lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau liền kề nhằm bảo đảm việc trả lương không bị gián đoạn. Mức dự phòng hàng năm do doanh nghiệp quyết định nhưng không quá 17% quỹ tiền lương thực hiện.


- Khoản thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ


- Các khoản tiền thưởng cho người lao động mang tính chất tiền lương, tiền công được ghi cụ thể điều kiện được hưởng khoản tiền thưởng này trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể.

(Theo VTCA)

Cách tính thuế đối với các hợp tác xã vận tải


Tổng cục Thuế đã có hướng dẫn giải đáp một số thắc mắc về cách xác định doanh thu tính thuế, người nộp thuế và phí trước bạ đối với tài sản rút vốn áp dụng đối với các hợp tác xã vận tải.

Xác định doanh thu tính thuế

Về xác định doanh thu tính thuế, theo hướng dẫn tại Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính, căn cứ tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) là giá tính thuế và thuế suất.

Cũng theo Thông tư này, đối với dịch vụ vận tải, bốc xếp, giá tính thuế là giá cước vận tải, bốc xếp chưa có thuế GTGT, không phân biệt cơ sở trực tiếp vận tải, bốc xếp hay thuê lại.

Tại điểm 1.2 Mục I Phần B Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về kê khai, tính thuế quy định, người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế với cơ quan thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế.

Thông tư số 60/2007/TT-BTC nêu trên cũng quy định việc ấn định số thuế phải nộp trong trường hợp qua kiểm tra, thanh tra thuế có căn cứ chứng minh người nộp thuế không hạch toán kế toán hoặc có hạch toán nhưng số liệu trên sổ kế toán không đầy đủ, không chính xác, trung thực dẫn đến không xác định đúng các yếu tố làm căn cứ tính số thuế phải nộp.

Căn cứ các quy định trên, đối với hoạt động vận tải hành khách, hành lý giá tính thuế GTGT là giá cước (hoặc giá vé) chưa có thuế GTGT. Người nộp thuế phải có trách nhiệm kê khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế để xác định doanh thu làm căn cứ tính thuế. Trường hợp có căn cứ chứng minh người nộp thuế kê khai không đúng doanh thu tính thuế thì Cục thuế được quyền ấn định thuế theo quy định. Việc ấn định cũng dựa trên tải trọng đăng ký hoặc số người vận chuyển trên từng phương tiện.

Xác định người nộp thuế

Theo Thông tư số 85/2007/TT-BTC ngày 18/10/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế, mã số thuế 13 số (N1N2N3N4N5N6N7N8N9N10N11N12N13) được cấp cho xã viên hợp tác xã, các cá nhân, nhóm cá nhân thuộc các tổ chức kinh tế kinh doanh theo phương thức nhận khoán, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và nộp thuế trực tiếp với cơ quan Thuế.

Do vậy, theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, Cục thuế địa phương sẽ phối hợp với các đơn vị chức năng để xác định rõ hợp tác xã là người nộp thuế hay các xã viên là người nộp thuế. Trường hợp các xã viên là đối tượng nộp thuế thì Cục thuế hướng dẫn, làm thủ tục cấp mã số thuế 13 số cho xã viên hợp tác xã và hướng dẫn áp dụng phương pháp tính thuế phù hợp tạo điều kiện cho xã viên hợp tác xã trong việc sử dụng hóa đơn, kê khai, nộp thuế theo quy định.

Nộp phí trước bạ đối với tài sản rút vốn

Tại điểm 10b Mục III Phần I Thông tư số 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ quy định các trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ: "Xã viên hợp tác xã góp vốn bằng tài sản vào hợp tác xã hoặc xã viên hợp tác xã nhận lại tài sản được chia sau khi ra khỏi hợp tác xã".

Căn cứ quy định trên trường hợp xã viên hợp tác xã nhận lại tài sản của mình đã góp trước đây khi ra khỏi hợp tác xã thì không thuộc diện phải nộp lệ phí trước bạ.

(Theo VPG News)

Chính sách thuế đối với nhà thầu nước ngoài




Bà Vũ Thị Hà (Hà Nội), đại diện Công ty cổ phần thủy điện Hồ Bốn đề nghị được cơ quan chức năng hướng dẫn việc thực hiện chính sách thuế đối nhà thầu nước ngoài cung cấp thiết bị cho dự án thủy điện.

Bà Hà có nêu: Công ty cổ phần thủy điện Hồ Bốn đầu tư dự án thủy điện tại huyện Mù Căng Chải (Yên Bái). Phần cung cấp máy móc thiết bị của dự án được ký kết với nhà thầu nước ngoài. Toàn bộ máy móc và dịch vụ lắp đặt được giao tại chân công trình. Bà Hà hỏi: Công ty có phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thay nhà thầu trên phần giá trị máy móc thiết bị không?

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, chính sách thuế hiện hành đối với nhà thầu nước ngoài được quy định cụ thể tại Thông tư số 134/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam và Thông tư số 197/2009/TT-BTC ngày 9/10/2009 của Bộ Tài chính bổ sung Thông tư số 134/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam.

Tuy nhiên Tổng cục Thuế cho biết, do thông tin bà Vũ Thị Hà cung cấp chưa đủ cơ sở để hướng dẫn cụ thể, nên đề nghị Công ty cổ phần thủy điện Hồ Bốn nghiên cứu các quy định tại các Thông tư nêu trên và căn cứ tình hình thực tế để thực hiện nghĩa vụ thuế theo đúng quy định.

Trường hợp Công ty còn vướng mắc, Tổng cục Thuế đề nghị Công ty cổ phần thủy điện Hồ Bốn cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của nhà thầu nước ngoài cung cấp máy móc thiết bị cho dự án thủy điện và liên hệ với Cục Thuế địa phương để được hướng dẫn cụ thể.

(Theo VPG News)

Popular Posts