Showing posts with label Hóa đơn chứng từ. Show all posts
Showing posts with label Hóa đơn chứng từ. Show all posts

Tuesday, 13 December 2011

Bán hàng không xuất hoá đơn


- Hỏi: Doanh nghiệp bán hàng không xuất hoá đơn, sau khi kiểm tra kết luận trốn thuế, gian lận thuế theo điều 14 của Nghị định 98. Nếu doanh nghiệp nộp số tiền trước khi ra quyết định xử lý thì có được chuyển sang hành vi khai sai thuế tại điểm c khoản 1 điều 13 Nghị định 98 không? (Ngọc Hải -lethingochaithue@gmail.com).

Vụ Chính sách Thuế (Bộ Tài chính) trả lời như sau: Doanh nghiệp (DN) của bạn được kiểm tra, bị phát hiện và kết luận trốn thuế, gian lận thuế theo Điều 14 Nghị định số 98/2007 nhưng DN có thái độ thực sự cầu thị, cố gắng khắc phục hậu quả và tự giác nộp số thuế trước khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng mức xử phạt thấp nhất, mức phạt với hành vi vi phạm lần đầu.

Nếu như việc DN bán hàng không xuất hoá đơn, nhưng số tiền bán hàng có ghi vào trong hệ thống sổ sách kế toán, có khai nộp thuế GTGT, có hạch toán doanh thu thì không bị xếp vào hành vi trốn thuế, gian lận thuế.

Bạn đọc vui lòng kiểm tra lại trường hợp của DN mình để đề nghị xem xét xử lý đối với sai phạm của mình.

(Theo eFinance)

Thursday, 23 June 2011

TT liên tịch số 60/2011/TTLT-BTC-BCT-BCA h/dẫn chế độ h/đơn, c/từ đối với h/hoá nhập khẩu lưu thông trên thị truờng

Ngày 12/05/2011, Bộ Tài Chính - Bộ Công Thương và Bộ Công An đã ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn chế độ hoá đơn chứng từ đối với hàng hoá nhập khẩu lưu thông trên thị trường bao gồm: hàng hoá nhập khẩu đang trên đường vận chuyển; đang bày bán; để tại kho, bến, bãi, tại cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá nhập khẩu hoặc tại địa điểm khác (gọi chung là hàng hoá nhập khẩu); xử lý vi phạm quy định về hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá nhập khẩu lưu thông trên thị trường; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

DOWNLOAD TẠI TAICHINH247.COM

Friday, 14 January 2011

Phạt 2 – 10 triệu đồng nếu nộp chậm nộp báo cáo sử dụng hoá đơn

Ảnh minh hoạ.
Việc xử lý hành vi vi phạm về nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn được quy định tại khoản 3 Điều 33 Nghị định 51/2010/NĐ-CP. Theo đó, phạt tiền từ 2 - 10 triệu đồng với hành vi không nộp báo cáo hóa đơn đã sử dụng theo quy định hoặc không hủy hóa đơn đã phát hành nhưng chưa lập, không còn giá trị sử dụng...

Theo quy định, tổ chức, hộ, cá nhân phải nộp báo cáo theo quý. Thời hạn nộp bản báo cáo này cùng với thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, chậm nhất là ngày 20 của tháng sau quý nộp báo cáo. Nếu ngày 21 mới nộp thì có được coi là không nộp và bị phạt tiền theo khoản 3 Điều 33 Nghị định 51/2010/NĐ-CP không?

Về vấn đề này Tổng cục Thuế khẳng định:

Theo Điều 25 Thông tư 153/2010/TT-BTC, hàng quý, tổ chức, hộ, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ (trừ đối tượng được cơ quan thuế cấp hóa đơn) có trách nhiệm nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn được gửi cùng Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng của tháng đầu tiên của quý tiếp theo.

Tổ chức, hộ, cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn khi chia, tách, sáp nhập, giải thể, phá sản, chuyển đổi sở hữu; giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước cùng với thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế.

Trường hợp tổ chức, hộ, cá nhân chuyển địa điểm kinh doanh đến địa bàn khác địa bàn cơ quan thuế đang quản lý trực tiếp thì phải nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn với cơ quan thuế nơi chuyển đi trước ngày gửi thông báo phát hành hóa đơn tới cơ quan thuế nơi chuyển đến.

Việc xử lý hành vi vi phạm về nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn được quy định tại khoản 3 Điều 33 Nghị định 51/2010/NĐ-CP. Sau ngày 20 của tháng sau quý nộp báo cáo, tổ chức, hộ, cá nhân không nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn sẽ bị phạt tiền từ 2-10 triệu đồng.



(Theo Taichinhdientu)

Monday, 8 November 2010

Hóa đơn tự in, đặt in - Những nội dung cần thể hiện

Xem hình

Nỗi lo của các doanh nghiệp là làm sao thiết kế mẫu hóa đơn đúng theo tiêu chí đặt ra của ngành thuế, tránh trường hợp đã in lại phải hủy vì sai một vài chi tiết, gây lãng phí.

Thời gian có hiệu lực của Nghị định 51/CP đã gần kề, nhiều doanh nghiệp đang tiến hành thiết kế hóa đơn tự in hoặc đặt in để kịp thời đưa vào ứng dụng từ ngày 1-1-2011. Nỗi lo của các doanh nghiệp là làm sao thiết kế mẫu hóa đơn đúng theo tiêu chí đặt ra của ngành thuế, tránh trường hợp đã in lại phải hủy vì sai một vài chi tiết, gây lãng phí. Phóng viên Báo SGGP chuyển tải những thắc mắc của bạn đọc đến bà Trần Thị Lệ Nga, Trưởng phòng Tuyên tuyền Hỗ trợ người nộp thuế, Cục thuế TPHCM để được hướng dẫn.

9 nội dung bắt buộc

Trên mẫu hóa đơn tự in, đặt in, các doanh nghiệp có buộc phải có những thông tin nào không, thưa bà?

Để người nộp thuế thuộc đối tượng tự in hóa đơn, đặt in hóa đơn thiết kế đúng quy định, Cục Thuế TP lưu ý, trên hóa đơn tự in, đặt in phải có 9 nội dung bắt buộc sau:

1. Tên loại hóa đơn

2. Ký hiệu mẫu số hóa đơn và ký hiệu hóa đơn

3. Số hóa đơn

4. Liên hóa đơn

5. Tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán

6. Tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua

7. Tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hóa, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ

8. Người mua, người bán ký và ghi rõ họ tên, dấu người bán (nếu có) và ngày, tháng, năm lập hóa đơn

9. Tên tổ chức nhận in hóa đơn

Thưa bà, tên gọi hóa đơn là gì, có bao nhiêu tên gọi hóa đơn?

Tên loại hóa đơn thể hiện trên mỗi tờ hóa đơn. Ví dụ: hóa đơn giá trị gia tăng, hóa đơn bán hàng… Các hóa đơn được dùng như một chứng từ cụ thể cho công tác hạch toán kế toán hoặc bán hàng thì có thể đặt thêm tên khác kèm theo, nhưng phải ghi sau tên loại hóa đơn với cỡ chữ nhỏ hơn hoặc ghi trong ngoặc đơn. Ví dụ, HÓA ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNG - PHIẾU BẢO HÀNH; HÓA ĐƠN GIÁ TRỊ GIA TĂNG (PHIẾU THU TIỀN)…

Đối với hóa đơn xuất khẩu, thể hiện tên loại hóa đơn là HÓA ĐƠN XUẤT KHẨU hoặc tên gọi khác theo thông lệ, tập quán thương mại. Ví dụ: HÓA ĐƠN XUẤT KHẨU, INVOICE, COMMERCIAL INVOICE…

Ký hiệu mẫu số hóa đơn và ký hiệu hóa đơn được ghi như thế nào, có bắt buộc về số lượng ký tự hay những gì khác không, thưa bà?

Ký hiệu mẫu số hóa đơn là thông tin thể hiện ký hiệu tên loại hóa đơn, số liên, số thứ tự mẫu trong một loại hóa đơn. Ký hiệu mẫu hóa đơn có 11 ký tự, gồm: 2 ký tự đầu thể hiện loại hóa đơn (Hóa đơn GTGT mẫu 01; hóa đơn bán hàng 02; hóa đơn xuất khẩu 06; hóa đơn bán hàng dùng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan 07; Phiếu xuất kho KVCNB 03; Phiếu xuất kho GHĐL 04). 4 ký tự tiếp theo thể hiện tên hóa đơn (hóa đơn GTGT: GTKT; hóa đơn bán hàng: GTTT; hóa đơn bán hàng dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan: KPTQ; hóa đơn xuất khẩu: HDXK; phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ: XKNB, phiếu xuất kho gửi bán hàng đại lý: HGDL). 1 ký tự tiếp theo thể hiện số liên của hóa đơn. 1 ký tự kế tiếp là dấu “/” để phân biệt số liên với số thứ tự của mẫu trong một loại hóa đơn. 3 ký tự còn lại là số thứ tự của mẫu trong một loại hóa đơn. Ví dụ: Ký hiệu 01GTKT2/001 được hiểu là mẫu thứ nhất của loại hóa đơn giá trị gia tăng 2 liên; ký hiệu 02GTTT3/002 được hiểu là mẫu thứ hai của loại hóa đơn bán hàng 3 liên; ký hiệu 03XKNB2/001 được hiểu là mẫu thứ nhất của loại phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ 2 liên.

Đối với tem, vé, thẻ bắt buộc ghi 3 ký tự đầu để phân biệt tem, vé, thẻ thuộc loại hóa đơn giá trị gia tăng hay hóa đơn bán hàng. Các thông tin còn lại do tổ chức, cá nhân tự quy định nhưng không vượt quá 11 ký tự. Cụ thể, ký hiệu 01/ đối với tem, vé, thẻ thuộc loại hóa đơn GTGT; ký hiệu 02/ đối với tem, vé, thẻ thuộc loại hóa đơn bán hàng.

Còn ký hiệu hóa đơn là dấu hiệu phân biệt hóa đơn bằng hệ thống chữ cái tiếng Việt và năm phát hành hóa đơn. Ký hiệu hóa đơn có 6 ký tự đối với hóa đơn của các tổ chức, cá nhân tự in và đặt in và 8 ký tự đối với hóa đơn do Cục Thuế phát hành. Trong đó, 2 ký tự đầu để phân biệt các ký hiệu hóa đơn (ký tự phân biệt là hai chữ cái trong 20 chữ cái in hoa của bảng chữ cái tiếng Việt bao gồm: A, B, C, D, E, G, H, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, U, V, X, Y). Ký tự tiếp theo là “/” để phân biệt ký hiệu với năm thông báo phát hành hóa đơn. 3 ký tự còn lại thể hiện năm thông báo phát hành hóa đơn và hình thức hóa đơn.

Năm thông báo phát hành hóa đơn được ghi hai số cuối của năm thông báo phát hành. Ký hiệu của hình thức hóa đơn, sử dụng 3 ký hiệu gồm E (hóa đơn điện tử), T (hóa đơn tự in) và P (hóa đơn đặt in).Ví dụ: AA/11E là hóa đơn điện tử, ký hiệu AA được phát hành năm 2011; AB/11T là hóa đơn tự in, ký hiệu AB được phát hành năm 2011; AA/12P là hóa đơn đặt in, ký hiệu AA được phát hành năm 2012.

Trường hợp người nộp thuế thông báo phát hành hóa đơn tự in hoặc đặt in theo quy định tại Thông tư số 153/2010/TT-BTC trong năm 2010 để sử dụng trong năm 2011 thì năm thông báo phát hành các loại hóa đơn này phải thể hiện là năm 2011, từ năm 2011 phải thể hiện năm thông báo phát hành hóa đơn theo đúng quy định nêu trên.

Phải có tên, mã số thuế của doanh nghiệp in

Các điều kiện bắt buộc còn lại như số hóa đơn, liên hóa đơn… được hiểu như thế nào và phải thực hiện ra sao, thưa bà?

Số hóa đơn phải ghi bằng dãy số tự nhiên liên tiếp trong cùng một ký hiệu hóa đơn, bao gồm 7 chữ số.

Liên hóa đơn, tức mỗi số hóa đơn phải có từ 2 liên trở lên và tối đa không quá 9 liên, trong đó 2 liên bắt buộc (liên 1 để lưu và liên 2 giao cho khách hàng). Các liên từ liên thứ 3 trở đi được đặt tên theo công dụng cụ thể mà người tạo hóa đơn quy định.

Về tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hóa, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ được quy định như sau: đối với hóa đơn GTGT, dòng đơn giá là giá chưa có thuế GTGT và phải có dòng thuế suất thuế GTGT, số tiền thuế GTGT, tổng số tiền phải thanh toán ghi bằng số và bằng chữ. Trường hợp người nộp thuế kinh doanh nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ, khi lập hóa đơn phải thể hiện nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ thì ngoài các chỉ tiêu trên có thể bổ sung chỉ tiêu số thứ tự (STT) theo dạng cột để tiện theo dõi.

Trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán hàng hóa, dịch vụ trong nội địa có nhiều mức thuế suất thuế GTGT khác nhau (sử dụng hóa đơn GTGT), có nhu cầu thể hiện hàng hóa, dịch vụ có thuế suất khác nhau trên cùng một tờ hóa đơn, thì chỉ tiêu “Thuế suất GTGT” và “Tiền thuế GTGT” có thể thiết kế theo dạng cột.

Ngoài ra, đối với hóa đơn đặt in, trên hóa đơn phải thể hiện tên và mã số thuế của tổ chức nhận in trên từng tờ hóa đơn, bao gồm cả trường hợp tổ chức nhận in hóa đơn quyết định in hóa đơn để tự sử dụng.

Theo Hàn Ni

SGGP

(Theo SGGP)

Wednesday, 3 November 2010

Tự in hóa đơn lợi - hại ra sao?

Xem hình

Việc cơ quan thuế trao cho doanh nghiệp quyền tự in hóa đơn là một cải cách lớn về mặt tư duy quản lý nhà nước. Tự in hóa đơn giúp doanh nghiệp chủ động hơn về in, phát hành và sử dụng hóa đơn chứng từ đồng thời đặt ra nhiều thách thức về mặt quản lý doanh nghiệp.

Trao đổi với TBKTSG Online bên lề Hội thảo Cập nhật thuế tại TPHCM, bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam đã đưa ra một số biện pháp, như đối phó với nạn hóa đơn giả, trong khi hiện nay nhiều doanh nghiệp, đã tiến hành các thủ tục tự in và phát hành hóa đơn trước thời hạn Nghị định 51 có hiệu lực vào ngày 1-1-2011.

TBKTSG Online: Thưa bà, vừa qua nhiều ý kiến cho rằng nghị định 51 có hiệu lực sẽ làm tăng gánh nặng về chi phí và quản lý cho doanh nghiệp?

- Doanh nghiệp cần hiểu bất kỳ thuận lợi nào thì cũng đi kèm các thách thức. Thuận lợi của việc doanh nghiệp tự in hóa đơn thì ai cũng rõ, bên cạnh đó, họ cũng cần những bước chuẩn bị kỹ càng. Như chỉ riêng tự tạo nên logo, ký hiệu riêng cho mẫu hóa đơn cũng có nhiều chuyện để nói.

Bên cạnh mặt thuận lợi như giảm thiểu tình trạng gian lận hóa đơn trước đây khi người ta mua hóa đơn của cơ quan thuế để cho tên của đơn vị mình vào để lập chứng từ khống, vì đã có chính thông tin đặc trưng của doanh nghiệp trên ấy. Ví dụ logo của doanh nghiệp thép không thể lấy của ngành điện hay bưu chính để đặt vào. Nhưng sẽ có tình trạng như doanh nghiệp thép trong kinh doanh mua bán với đơn vị xây dựng, đơn vị này có thể muốn lập chứng từ khống, và câu kết với chính nội bộ doanh nghiệp thép để in hóa đơn bất hợp pháp. Nếu quản lý doanh nghiệp không tốt thì sẽ tạo cơ hội cho những hành vi loại này.

- Giải pháp nào cho tình trạng trên, thưa bà?

Nghị định 51 của Chính phủ ban hành ngày 14-5-2010 về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, thay thế cho Nghị định 89 (ban hành năm 2002) sẽ có hiệu lực vào ngày 1-1-2011.

Thông tư số 153/2010/TT-BTC do Bộ Tài Chính ban hành ngày 27-9,hướng dẫn thực hiện quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Theo tôi doanh nghiệp trước mắt phải xác định mình thuộc đối tượng nào khi tự in hóa đơn và quản lý chặt trong toàn bộ quy trình từ khâu thiết kế cho đến thông báo phát hành và sử dụng. Ở đây tôi chỉ đề cập đến doanh nghiệp tự in hóa đơn và đủ điều kiện tự in hóa đơn, cần xem năng lực mình đã quản lý hóa đơn tự in được chưa. Nói thẳng ra là quản lý con người vì hóa đơn cũng giống như tiền, quản lý hóa đơn thì phải chặt như quản lý nguồn tiền.

Trong quyết định tự in hóa đơn phải quy định hết sức rõ ràng, phân cấp từng bộ phận một để quản lý từng khâu từ khâu bán hàng cho đến bộ phận kế toán... để đảm bảo chỉ có 1 bản gốc thôi chứ kg có bản thứ 2, thứ 3, rất nguy hiểm. Còn nếu doanh nghiệp xét thấy đủ điều kiện nhưng khả năng chưa quản lý tốt thì có thể đặt in, vì có các chỉ số về kỹ thuật và an toàn bảo mật cao. Các đơn vị in chuyên nghiệp có các giấy in, kỹ thuật in chìm, thậm chí có thể đăng ký tem, mã chống hàng giả do Bộ Công an cấp.

- Người mua hàng lo ngại về hóa đơn giả, trước đây có cơ quan thuế trực tiếp quản lý còn nhan nhản nay sẽ như “nấm sau mưa” khi có đến vài trăm ngàn doanh nghiệp, chưa kể các hộ kinh doanh nhỏ lẻ tự phát hành hóa đơn?

Vị trí đặt quảng cáoVấn đề là cơ quan thuế phải quản lý được các thông báo phát hành hóa đơn của các doanh nghiệp, sau đó, họ (cơ quan thuế) sẽ tổng hợp để đưa lên website Tổng cục thuế. Đó là nguồn thông tin chính thức về hóa đơn của doanh nghiệp trên toàn quốc để người mua hàng có thể tìm hiểu thực hư về đối tác của mình.

Theo tôi, vấn đề là nếu cứ tiếp tục sợ gian lận thì không bao giờ làm được. Trao quyền tự in hóa đơn thực tế là một bước tiến về mặt cơ chế quản lý nhà nước. Quan trọng là doanh nghiệp phải làm sao để người khác không sử dụng hóa đơn của mình.

- Xin cảm ơn bà.

(Theo Thesaigontimes.vn)

Tuesday, 5 October 2010

Thông tư 153 mới hướng dẫn quản lý và sử dụng hóa đơn


Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/09/2010 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Tải Thông tư 153 tại đây

Thông tư này hướng dẫn về việc in, phát hành và sử dụng hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (sau đây gọi chung là hoá đơn); xử phạt vi phạm hành chính về hoá đơn; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thuế các cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc in, phát hành, quản lý và sử dụng hoá đơn; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc in, phát hành và sử dụng hoá đơn.

Đối tượng áp dụng của Thông tư 153 là gần như toàn bộ các thành phần kinh tế, bao gồm:

1. Người bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, gồm:

a) Tổ chức, hộ, cá nhân Việt Nam kinh doanh bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam hoặc bán ra nước ngoài;

b) Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam hoặc sản xuất kinh doanh ở Việt Nam bán hàng ra nước ngoài;

c) Tổ chức, hộ, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài không kinh doanh nhưng có bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.

2. Tổ chức nhận in hoá đơn.

3. Tổ chức, cá nhân mua hàng hoá, dịch vụ.

4. Cơ quan quản lý thuế các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc in, phát hành và sử dụng hoá đơn.

Thursday, 9 September 2010

Băn khoăn hóa đơn tự in



Doanh nghiệp mua hóa đơn tại Chi cục Thuế quận 1 - TPHCM. Ảnh: TẤN THẠNH
Doanh nghiệp cần đóng góp ý kiến gấp để cơ quan thuế tập hợp đề xuất Bộ Tài chính điều chỉnh đối tượng được mua hóa đơn.

Ngày 9/9, hơn 400 doanh nghiệp (DN) đã tham dự buổi “Đối thoại giữa DN với lãnh đạo Cục Thuế TPHCM”. Tại buổi đối thoại, hầu hết đại biểu đều tập trung các vấn đề xoay quanh việc DN sẽ tự in hóa đơn thuế.

Nhiều vấn đề khúc mắc
Theo Nghị định 51/2010/NĐ-CP, từ ngày 1/1/2011, DN sẽ tự in hoặc đặt in hóa đơn để cung cấp chứng từ cho bên mua hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, nhiều đại biểu thắc mắc các đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc cá nhân có nhu cầu về hóa đơn sẽ mua ở đâu?
Bà Trần Thị Lệ Nga, Trưởng Phòng Thông tin tuyên truyền Cục Thuế TPHCM, cho biết cơ quan thuế sẽ đặt in hóa đơn để cung cấp cho các tổ chức, cá nhân không có chức năng kinh doanh nhưng trên thực tế có hoạt động kinh doanh. “Giả sử bên thuê mặt bằng của một trường học đề nghị cung cấp hóa đơn thì nhà trường sẽ mua hóa đơn tại cơ quan thuế”- bà Nga cụ thể hóa tình huống.
Về địa chỉ của DN thể hiện trên hóa đơn tự in, đại diện Công ty Phúc Thiên Long (TPHCM) cho rằng sẽ có hóa đơn đã in không sử dụng được vì DN thay đổi địa chỉ.

Giải quyết vấn đế này, Cục Thuế TPHCM khuyến nghị DN nên để trống địa chỉ đơn vị. Trường hợp DN đã lỡ in địa chỉ trên hóa đơn thì khi thay đổi địa chỉ cần đóng dấu địa chỉ mới bên cạnh địa chỉ cũ, hóa đơn vẫn hợp lệ.
Nhiều DN cũng băn khoăn về số hóa đơn cũ (hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành, DN đã mua lâu nay) chưa sử dụng hết sẽ xử lý thế nào? Bà Nga cho biết DN phải có văn bản báo cáo Bộ Tài chính để được phép sử dụng hết số hóa đơn cũ.
Bổ sung gấp đối tượng
“Nếu công ty sử dụng một năm chưa hết một cuốn hóa đơn mà phải tự đặt in sẽ rất lãng phí (chi phí in hóa đơn thường từ 6.000 - 8.000 đồng/tờ, trong khi các công ty in thường yêu cầu khách hàng phải đặt từ 50 cuốn trở lên). Liệu các DN nhỏ có thể mua hóa đơn của cơ quan thuế không?”- đại diện Công ty Xây dựng thương mại Hưởng Thanh Bình (TPHCM) đặt vấn đề.
Theo lãnh đạo Cục Thuế TPHCM, nội dung dự thảo thông tư hướng dẫn về việc phát hành hóa đơn cho phép DN thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn hoặc DN siêu nhỏ (số lượng lao động dưới 10 người) được mua hóa đơn từ cơ quan thuế. Tuy nhiên, địa bàn TPHCM gần như không có đối tượng này nên các DN cần có ý kiến đóng góp gấp để cơ quan thuế tập hợp đề xuất Bộ Tài chính bổ sung.
Một vấn đề khác, là nhiều DN lo ngại hóa đơn có thể bị giả mạo. Bởi trên thực tế có trường hợp DN đã bỏ trốn nhưng vẫn xuất hóa đơn cho khách hàng. Khi cơ quan thuế phong tỏa mã số thuế, thông báo về tình hình hoạt động của DN đó thì đối tượng xấu lại giả mạo một thông báo khác của cơ quan thuế với nội dung DN hoạt động bình thường... Kế toán trưởng của một công ty giao nhận ở TPHCM còn cho biết đã từng phát hiện hóa đơn do công ty mình đặt in được xếp lớp tại xưởng in. “Khi chúng tôi chất vấn tại sao lại có số hóa đơn này, lãnh đạo công ty in cho rằng nhân viên đang thu dọn hóa đơn dư thừa...”.

Tự bảo vệ mình là chính

Nhiều ý kiến quan ngại việc DN tự in hóa đơn có thể dẫn đến gian lận về thuế.
Giả sử DN xuất hóa đơn số 1 rồi bắt tay với nhiều DN để xuất nhiều hóa đơn số 1 để trục lợi khi hoàn thuế nếu cơ quan thuế chấp nhận hóa đơn số 1 hợp lệ...
Ông Nguyễn Trọng Hạnh, Cục phó Cục Thuế TPHCM, cho rằng do e ngại luật pháp “sờ gáy”, ảnh hưởng đến thương hiệu, uy tín kinh doanh nên DN sẽ không dám gian lận về hóa đơn tự in.
Tuy nhiên, đối tượng xấu có thể giả mạo hóa đơn của DN. Vì thế, DN phải tự bảo vệ mình bằng cách đặt in hóa đơn để các công ty in ấn chia sẻ một phần biện pháp chống giả; đồng thời hóa đơn DN tự in cần gắn tem chống giả hoặc có ký hiệu đặc biệt

(Theo Người Lao động)

Thursday, 2 September 2010

Nghị định 51: "Quàng" thêm nhiều việc cho doanh nghiệp

Việc quản lý hóa đơn là lĩnh vực từ lâu đã rất phức tạp trong quản lý với những thủ tục nhiêu khê, phiền hà
Tại hội thảo góp ý Dự thảo Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (NĐ 51) được tổ chức mới đât tại Hà Nội, nhiều luật gia, doanh nghiệp (DN) đều đồng ý với sự cải cách của NĐ 51 khi đã giao quyền và trách nhiệm cho các DN, cơ sở kinh doanh trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng hóa đơn phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng sau khi ban hành Nghị định đã thể hiện một số quy định không hợp lý, khó thực hiện, trao thêm trách nhiệm cho doanh nghiệp…

Hãy để các DN tự lựa chọn phương án phù hợp

Góp ý tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Cúc – Chủ tịch Hội Tư vấn thuế, nguyên phó Tổng cục trưởng Tổng cục thuế cho biết, Hội tư vấn thuế nhất trí về cơ bản Thông tư dự thảo về kết cấu các chương, Điều, nội dung hướng dẫn chi tiết, các biểu mẫu... Tuy nhiên bà cũng đưa ra một số góp ý như tại phần d thuộc Điều 4 về tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán và tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua. Bà Cúc cho biết, trong thực tế có nhiều công ty tên đầy đủ rất dài: Ví dụ Công ty TNHH tư vấn đầu tư, xúc tiến thương mại, xuất nhập khẩu tổng hợp Lan Hương ... khi viết hóa đơn rất phức tạp. Do đó bà cho rằng nên viết tắt tên của DN như: KPMG, A&C, AFC...trong hóa đơn để giảm thủ tục khi lập hóa đơn.
Việc quản lý hóa đơn là lĩnh vực từ lâu đã rất phức tạp trong quản lý với những thủ tục nhiêu khê, phiền hà

Bà cũng góp ý đối với Điều 6 về tạo hóa đơn tự in. Theo bà phần quy định: ...”Các DN đủ điều kiện đã phát hành hoá đơn tự in trong thời gian trên 12 tháng nếu chia tách thành những DN có số vốn điều lệ dưới mức quy định nêu trên vẫn được tiếp tục sử dụng hoá đơn tự in” là chưa rõ nghĩa bởi nếu chia tách thành các DN khác thì phải in hóa đơn khác không thể tiếp tục sử dụng hóa đơn cũ.

Luật gia Vũ Xuân Tiền - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Luật gia Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam cũng góp ý đối với Điều 6 ở một khía cạnh khác. Tại tiết 1.1, mục c, khoản 1 quy định về đối tượng được tạo hóa đơn tự in kể từ khi có mã số thuế phải là: DN có mức vốn điều lệ đã được hạch toán kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên. Theo ông Tiền cần xem lại tính hợp lý của quy định này bởi ông cho rằng, không có tài liệu nào chứng minh rằng, vốn điều lệ của DN càng cao thì DN càng phát hành nhiều hóa đơn. Trên thực tế lại có rất nhiều trường hợp đang chứng minh ngược lại. “Một DN có vốn điều lệ 5 tỷ đồng, kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm, một tháng sử dụng tới 5 quyển hóa đơn bằng 250 số, còn một DN kinh doanh bất động sản, có vốn điều lệ 50 tỷ đồng, một năm chỉ sử dụng chưa hết 50 số hóa đơn” – Luật gia Vũ Xuân Tiền nêu thực tế.

Ông cũng chỉ ra sự bất cập khi quy định "mức vốn điều lệ đã được hạch toán kế toán" thì làm thế nào để xác nhận được đó là số vốn "đã được hạch toán kế toán"? Bởi lẽ theo ông, báo cáo tài chính của các DN nhỏ và vừa hiện nay đều chưa bắt buộc phải kiểm toán. “Các cán bộ thuế có đủ khả năng và thời gian để kiểm tra điều đó không? Điều gì sẽ xảy ra khi phải tổ chức việc kiểm tra xác minh chỉ tiêu đó để cho DN được tự in hóa đơn?” – ông Tiền tỏ ra lo lắng trước những câu hỏi nêu ra. Và để tránh tình trạng nhiêu khê trên ông đề nghị:“Từ những lý do trên, đề nghị bỏ điều kiện về mức vốn điều lệ như dự thảo Thông tư. Hãy để cho các DN tự lựa chọn phương án phù hợp với điều kiện của mình”.

Nhiều quy định gây khó khăn cho DN

Nhận xét về việc quản lý hóa đơn, luật gia Vũ Xuân Tiền cho rằng đây là lĩnh vực từ lâu đã rất phức tạp trong quản lý với những thủ tục nhiêu khê, phiền hà, gây khó khăn, tốn kém cả về thời gian và tiền bạc của các cơ sở kinh doanh. Song, tình trạng gian lận trong quản lý, sử dụng hóa đơn, việc mua bán hóa đơn...vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt.

Ông hoan nghênh sự cải cách rất thiết thực khi NĐ 51 đã giao quyền và trách nhiệm cho các DN, cơ sở kinh doanh trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng hóa đơn phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên, ông cho rằng, việc chuyển từ sự quản lý rất chặt chẽ của cơ quan thuế sang việc các DN tự quyết định trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng hóa đơn, trong điều kiện sự minh bạch trong quản lý kinh tế, xã hội chưa thật được tôn trọng, lượng tiền mặt sử dụng trong lưu thông còn quá lớn... cũng đặt ra không ít những vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết, với một lộ trình hợp lý cả với cơ quan quản lý thuế và các DN, cơ sở kinh doanh.

Cụ thể, với khoản 1 Điều 4 quy định về "Nội dung bắt buộc trên hóa đơn" thì cần làm rõ đó là những nội dung bắt buộc phải có khi phát hành hay ngay khi đặt in? Nếu là bắt buộc khi phát hành thì hợp lý, nhưng nếu là bắt buộc khi đặt in thì không hợp lý. Bởi lẽ, khi đặt in, chưa thể có các thông tin cụ thể như: Tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua; Tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hoá, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ...Trong khi đó, khoản 1 Điều 8 của dự thảo Thông tư lại quy định: "Hoá đơn đặt in được in ra dưới dạng mẫu in sẵn có nội dung theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này". “Đó là quy định không có tính khả thi, các DN sẽ không thể đặt in hóa đơn được vì không thể cung cấp được những thông tin chưa có” – ông Tiền khẳng định.

Một vấn đề không kém phần quan trọng đối với các thông tin bắt buộc phải có khi đặt in hóa đơn là địa chỉ của người bán. Nếu bắt buộc phải in địa chỉ của người bán vào hóa đơn ngay khi in chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều hóa đơn bị hủy bỏ, gây thiệt hại cho DN và phức tạp cho quản lý. Bởi lẽ, hiện nay có rất nhiều DN nhỏ và siêu nhỏ đang phải thuê trụ sở làm việc. Những DN này thường phải di chuyển rất bất ngờ do chủ nhà cho thuê chấm dứt hợp đồng hoặc do bị cấm sử dụng nhà chung cư làm văn phòng công ty. Do đó, xin đề nghị cho phép chỉ in tên, mã số thuế của doanh nghiệp, còn địa chỉ DN sẽ khắc dấu và đóng vào hóa đơn hoặc in từ máy tính khi phát hành. Như vậy, DN có thể đặt in với số lượng lớn và sử dụng được ngay cả khi có thay đổi địa chỉ trụ sở.

Nhận xét một cách tổng thể, đại diện Công ty luật TNHH VLC cho rằng, NĐ 51 đã thể hiện một số quy định không hợp lý, khó thực hiện, trao thêm trách nhiệm cho DN, trong khi DN đã và đang phải đảm nhiệm trách nhiệm khá nặng nề như tìm cách sản xuất, kinh doanh sao cho tốt để đảm bảo không thua lỗ, lương bổng cho người lao động sao cho đảm bảo cuộc sống của họ, vật liệu, sản phẩm đầu ra đầu vào…

(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Monday, 23 August 2010

Kiến nghị bỏ quy định vốn 10 tỉ đồng mới được in hóa đơn

Ngày 18-8, VCCI tổ chức tọa đàm góp ý hoàn thiện dự thảo thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định 51 về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Nhiều ý kiến cho rằng việc quy định doanh nghiệp phải có mức vốn điều lệ đã được hoạch toán kế toán từ 10 tỉ đồng trở lên mới được tự in hóa đơn là chưa hợp lý. Luật sư Vũ Xuân Tiền, Chủ tịch Hội đồng tư vấn Công ty Tư vấn VFAM, cho rằng không có cơ sở nào để chứng minh rằng vốn điều lệ của doanh nghiệp càng cao thì càng phát hành nhiều hóa đơn.

Nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm có vốn điều lệ chỉ 5 tỉ đồng nhưng một tháng sử dụng tới năm quyển hóa đơn, bằng 250 số. Trong khi đó, doanh nghiệp bất động sản có vốn đến 50 tỉ đồng nhưng chỉ chưa hết 50 số hóa đơn. Do đó, cần bãi bỏ quy định trên và để doanh nghiệp tự lựa chọn phương án in hay không in phù hợp với điều kiện của mình.

(Theo Infotv)

Thursday, 19 August 2010

Cơ quan thuế sẽ không bán hóa đơn cho các cơ sở kinh doanh là doanh nghiệp từ 1/1/2011


Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Nghị định 51/2010/NĐ-CP ra đời với mong muốn tạo bước ngoặt mang tính đột phá về phương thức quản lý hành chính mới, trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc in và sử dụng hoá đơn. Nghị định này được đánh giá sẽ thay đổi toàn bộ nhận thức và thực hiện về hóa đơn chứng từ trên toàn quốc. Đặc biệt, điểm quan trọng nhất của Nghị định là trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong việc sử dụng hóa đơn khi cơ quan thuế không còn bán hóa đơn và không chịu trách nhiệm về hóa đơn phát hành. Theo đó, những thắc mắc của doanh nghiệp về thủ tục mua hóa đơn, tình trạng xếp hàng chờ mua hóa đơn tại cơ quan thuế cũng sẽ được xóa bỏ.

Nghị định 51/2010/NĐ-CP sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 và thay thế cho Nghị định 89/2002/NĐ-CP ban hành năm 2002. Nhằm hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân có liên quan hiểu được những nội dung mới của Nghị định này, bài viết xin được đề cập đến sự cần thiết phải ban hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP cũng như những nội dung mới, nổi bật của Nghị định.

Sự cần thiết ban hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP

Ngày 7/11/2002, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn. Tính đến nay, sau hơn 7 năm triển khai thực hiện, Nghị định 89/2002/NĐ-CP quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn đã phát huy hiệu quả tích cực, góp phần phục vụ cho công tác quản lý thu thuế. Cụ thể:

- Nghị định số 89/2002/NĐ-CP đã quy định quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong việc in, phát hành, sử dụng và quản lý hoá đơn, làm cơ sở cho việc quản lý sử dụng hoá đơn.

- Hoá đơn đã đóng vai trò quan trọng và trở thành chứng từ gốc để xác định việc chuyển nhượng hàng hoá, dịch vụ giữa các thể nhân, pháp nhân làm cơ sở cho việc hạch toán kế toán, xác định nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp và thanh toán các khoản chi tiêu của NSNN của các đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Cụ thể năm 2003 có 186.000 đơn vị sử dụng hoá đơn, đến năm 2008 có gần 330.000 đơn vị sử dụng hoá đơn tăng 1,77 lần so với năm 2003 với tổng số lượng hoá đơn sử dụng là 945,3 triệu số.

- Quy định thủ tục mua hoặc in, sử dụng, quản lý hoá đơn cụ thể, rõ ràng, hợp lý, đơn giản để phục vụ cho nhiệm vụ cải cách hành chính. Với cơ chế chính sách như trên đã tạo điều kiện thông thoáng cho các đơn vị sử dụng hoá đơn và tăng cường công tác quản lý hoá đơn, thúc đẩy công tác hạch toán kế toán tại các đơn vị SXKD, tăng cường công tác quản lý tài chính tại các đơn vị thủ hưởng ngân sách...

Xét trên phương diện công tác quản lý thuế thì việc quy định quản lý hoá đơn theo NĐ số 89/2002/NĐ-CP đã đảm bảo thực thi thành công hai sắc thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp, góp phần đảm bảo số thu ngân sách hàng năm ổn định và tăng trưởng bền vững. Cụ thể:

• Đối với hoá đơn tự in đã mang lại các ưu điểm như:

Thứ nhất, doanh nghiệp chủ động đáp ứng lượng hoá đơn cần sử dụng sát với tình hình phát triển, quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ hai, việc sử dụng hoá đơn tự in đã thúc đẩy nêu cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, đáp ưng yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp.

Thứ ba, việc sử dụng hoá đơn tự in đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể áp dụng được tự động hoá, tin học hoá trong lĩnh vực bán hàng và hạch toán kế toán của doanh nghiệp.

Thứ tư, một số doanh nghiệp còn sử dụng tính chất đặc thù của hoá đơn để làm phương tiện quảng cáo thương hiệu, ngành nghề kinh doanh, tăng hiệu quả, lợi ích kinh tế về sử dụng hoá đơn của doanh nghiệp.

Thứ năm, góp phần hạn chế vi phạm về hoá đơn: Các đơn vị sử dụng hoá đơn tự in ít vi phạm hơn so với các đơn vị sử dụng hoá đơn mua tại cơ quan thuế.

Theo thống kê thì tính đến cuối năm 2008 số lượng hoá đơn do doanh nghiệp tự in đã tăng lên đáng kể, chiếm 89,5% so với tổng số hoá đơn sử dụng trên thị trường.

Đối với hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành: Đa số các tổ chức, cá nhân đều chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về in, phát hành, quản lý, sử dụng hoá đơn như: lập hoá đơn tương đối đúng quy đinh, hàng hoá mua vào có hoá đơn kèm theo để kê khai thuế, báo cáo tình hình sử dụng hoá đơn hàng tháng, quý, năm đúng theo quy định. Các hành vi vi phạm như sử dụng hoá đơn chứng từ không đúng quy định, làm mất hoá đơn mua vào, hoá đơn bán ra, sử dụng hoá đơn giả, lập hoá đơn không kê khai nộp thuế, mua hóa đơn khống, bán khống hoá đơn...đều có xu hướng giảm. Bên cạch đó, Bộ tài chính cũng đã có nhiều bước cải cách thủ tục hành chính về công tác quản lý sử dụng và thủ tục mua hoá đơn được nhanh gọn, không gây phiền hà cho các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu sử dụng.

Với những ưu điểm nổi bật nêu trên, có thể thấy việc ra đời Nghị định 89/2002/NĐ-CP quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn đã góp phần phục vụ cho công tác quản lý thu thuế. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đến nay thì Nghị định cũng còn một số tồn tại, cụ thể:

Thứ nhất, một số nội dung quy định tại Nghị định 89/2002/NĐ-CP đến nay không còn phù hợp khi nhà nước ban hành các luật mới hoặc thay thế các luật cũ như Luật Doanh nghiệp, Luật kế toán và Luật Giao dịch điện tử; cụ thể:

- Hoá đơn là một loại chứng từ kế toán nhưng việc quản lý và xử lý chưa nhất quán giữa Luật kế toán và Nghị định 89/2002/NĐ-CP. Theo quy định, chứng từ kế toán hợp pháp buộc phải có đầy đủ tên người mua, đồng thời người bán, người mua phải ký tên trên chứng từ và người bán phải đóng dấu trên chứng từ. Tuy nhiên, hoá đơn trên thực tế và theo quy định tại Nghị định 89/2002/NĐ-CP không phải lúc nào cũng đảm bảo các yêu cầu này.

- Trong nội dung Nghị định 89/2002/NĐ-CP chưa có quy định về hoá đơn điện tử do đó chưa tạo điều kiện có tính chất tiền đề cho việc thực hiện Luật giao dịch điện tử.

Thứ hai, quy định quản lý của Nghị định 89/2002/NĐ-CP còn mang nặng tính quản lý hành chính nhà nước theo cơ chế cũ.

Thứ ba, thủ tục đăng ký hoá đơn tự in còn rất phức tạp nên dù đã uỷ quyền thực hiện tại các cục thuế địa phương song nhiều doanh nghiệp vẫn không tiến hành tự in mà chủ yếu vẫn mua hoá đơn do ngành thuế bán.

Thứ tư, trên thực tế việc in, phát hành và bán hoá đơn của ngành thuế còn chiếm nhiều nguồn lực, công sức của cơ quan thuế, trong khi việc này có thể giao cho doanh nghiệp tự thực hiện để giảm bớt thời gian có liên quan đến thủ tục hành chính thuế.

Thứ năm, các loại hoá đơn bán sẵn của cơ quan thuế còn thiếu về chủng loại (chưa có hoá đơn xuất khẩu) và hạn chế về số liên, thực tế hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đặc thù kinh doanh của một số doanh nghiệp cũng như chưa đáp ứng được yêu cầu luân chuyển chứng từ phục vụ công tác quản lý sản suất kinh doanh của cơ sở.

Thứ sáu, chưa tạo chủ động cho doanh nghiệp sử dụng hoá đơn trong hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp đã sử dụng hết hoá đơn, muốn mua hoá đơn đợt mới từ cơ quan thuế phải hoàn tất một số thủ tục thì mới được cơ quan thuế bán hoá đơn. Đôi khi, vì những lý do khách quan, doanh nghiệp phải tạm dừng giao dịch kinh doanh trong thời gian chờ đợi mua hoá đơn, gây cản trở cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ bảy, các hành vi vi phạm về hoá đơn diễn biến phức tạp, các chế tài xử lý của Nghị định 89/2002/NĐ-CP chưa bao quát hết. Các hành vi bán hàng lập hoá đơn chậm, ghi sai lệch thông tin giữa các liên trên hoá đơn, ngoài quy định về chênh lệch số tiền, chuyển nhượng hợp đồng in chưa quy định chế tài xử lý. Trong khi đó, hành vi làm mất hoá đơn quy định xử phạt nhiều điểm chưa hợp lý, làm phát sinh hiện tượng khiếu nại.

Thứ tám, chưa đáp ứng được công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở. Một số cơ sở kinh doanh có nhu cầu sử dụng nhiều hơn 3 liên hoá đơn để kiểm soát, quản lý hoạt động kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp thường gặp khó khăn khi sử dụng hoá đơn mua của cơ quan thuế.

Thứ chín, do chế độ chính sách quy định, cơ quan thuế phải quản lý hoá đơn nên các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp không chủ động giám sát, không tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các khoản chi mua hàng hoá mà chủ yếu dựa vào việc quản lý hoá đơn của cơ quan thuế dẫn đến tạo ra thị trường mua, bán hoá đơn bất hợp pháp với nhu cầu mua hoá đơn với mục đích trốn thuế,. Một số cá nhân thành lập doanh nghiệp, mua hoá đơn bỏ trốn và sử dụng bất hợp pháp hoá đơn đã mua nhằm chiếm đoạt tiền thuế, tiền hoàn thuế GTGT. Hoá đơn do Bộ Tài chính phát hành có thể dử dụng cho tất cả các loại hình kinh doanh và trong phạm vi cả nước, do đó đã tạo ra thị trường mua hoá đơn bất hợp pháp rộng lớn và các tội phạm về vấn đề này ngày càng gia tăng.

Từ những ưu, nhược điểm của Nghị định 89/2002/NĐ-CP nêu trên đòi hỏi công tác quản lý, sử dụng hoá đơn cần được sửa đổi để thuận tiện cho doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng nhu cầu quản lý của cơ quan nhà nước. Mặt khác, trong lĩnh vực quản lý thuế, việc ban hành và thực hiện Luật quản lý thuế có hiệu lực từ 01/07/2007 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cũng như của cơ quan quản lý thuế và các cơ quan liên quan. Do đó trong lĩnh vực quản lý và sử dụng hoá đơn cũng cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi theo hướng mở rộng quyền tự chủ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc in, phát hành và sử dụng hoá đơn. Cơ quan quản lý thuế chỉ đóng vai trò hướng dẫn hỗ trợ, kiểm tra thực hiện.

Như vậy, để phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại của Nghị định 89/2002/NĐ-CP qua hơn 7 năm thực hiện, cùng với những thay đổi căn bản trong công tác quản lý Nhà nước nói chung và lĩnh vực quản lý thuế nói riêng thì việc sửa đổi Nghị định 89/2002/NĐ-CP của Chính phủ là một yêu cầu cần thiết.

Đứng trước yêu cầu đó, ngày 14/5/2010, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Nghị định 51/2010/NĐ-CP ra đời sẽ thay thế Nghị định 89/2002/NĐ-CP với mong muốn tạo bước ngoặt mang tính đột phá về phương thức quản lý hành chính mới, trao quyền tự chủ trong việc in và sử dụng hoá đơn cho doanh nghiệp, thuận tiện cho cả người bán hàng và người mua hàng. Đồng thơi, Nghị định 51/2010/NĐ-CP ra đời cũng nhằm mục tiêu chung là đáp ứng yêu cầu của hội nhập, thông lệ quốc tế, phù hợp với các luật mới hoặc thay thế luật cũ như Luật Doanh nghiệp, Luật kế toán và Luật giao dịch điện tử cũng như việc cải cách thủ tục hành chính hiện nay. Tại Nghị định mới này cũng quy định rõ hơn quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên có liên quan trong vấn đề in, phát hành và sử dụng hoá đơn. Nghị định cũng làm rõ hơn một số định nghĩa như: In hoá đơn, Hoá đơn hợp pháp, Hoá đơn giả, hoá đơn chưa có giá trị sử dụng, hoá đơn hết giá trị sử dụng, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp... Quy định rõ hơn về loại, hình thức và nội dung của hóa đơn để phân biệt với một số loại hình khác như thẻ viễn thông in sẵn mệnh giá, thẻ nạp tiền ... Tăng cường việc xử phạt để xử lý các vi phạm khi in, phát hành và sử dụng hoá đơn để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời có cơ chế khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt hóa đơn và được quyền quy định áp dụng các biện pháp quản lý thuế thuận tiện hơn.

Xét trên khía cạnh doanh nghiệp, Nghị định số 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ giao quyền chủ động cho các doanh nghiệp trong việc in, phát hành và sử dụng hoá đơn. Cơ quan thuế chỉ in và cấp hoá đơn cho các đối tượng là hộ gia đình và cá nhân kinh doanh. Nghị định đã khuyến khích các tổ chức, cá nhân vừa lựa chọn hình thức hoá đơn phù hợp vừa có thể lựa chọn thêm hình thức hoá đơn điện tử để thúc đẩy thương mại điện tử. Việc tự in hóa đơn là một quan điểm mới trong công tác quản lý thuế. Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong việc lập hóa đơn của mình. Và như vậy họ phải có trách nhiệm trong việc in hóa đơn của họ, khác với trước kia việc phát hành hóa đơn thuộc về cơ quan tài chính phụ trách.

Xét trên khía cạnh cơ quản lý nhà nước (cơ quan thuế): Nghị định số 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ giao trách nhiệm cho Cục thuế địa phương trong việc in ấn, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn thay cho quy định trước đây là Bộ Tài chính, đồng thời cũng quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc in hóa đơn. Thông qua việc in, phát hành và sử dụng hoá đơn để phân loại doanh nghiệp và có các cơ chế quản lý, sử dụng cho phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp đồng thời có các cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tự in. Tăng cường quản lý hoá đơn để quản lý doanh thu, quản lý thu thuế hạn chế việc gian lận thuế qua hóa đơn.

Những nội dung mới của Nghị định 51/2010/NĐ-CP

1. Tên Nghị định: Đổi tên nghị định mới thành: ”Nghị định quy định về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ”. Tên Nghị định được quy định như vậy vừa ngắn gọn, vừa khái quát toàn bộ nội dung quy định của Nghị định.

2. Kết cấu Nghị định 51/2010/NĐ-CP: gồm 6 chương, 40 Điều

Chương 1: Quy định chung

Chương này có 4 Điều quy định những vấn đề chung với mục đích khái quát được ý chính của Nghị định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, loại, hình thức và nội dung chỉ tiêu của hoá đơn.

Chương 2: Tạo và phát hành hoá đơn

Chương này có 9 Điều quy định nguyên tắc tạo và phát hành hoá đơn; các thủ tục về hoá đơn tự in, hoá đơn điện tử; Hoá đơn đặt in, in hoá đơn đặt in, bán, cấp hoá đơn do Cục thuế đặt in; Phát hành hoá đơn của tổ chức, cá nhân kinh doanh; Phát hành hoá đơn của Cục thuế; Ghi các ký hiệu nhận dạng mật trên hoá đơn.

Chương 3: Sử dụng hoá đơn

Chương này có 7 Điều quy định nguyên tắc sử dụng hoá đơn, lập hoá đơn; các trường hợp bán hàng hoá, dịch vụ không phải lập hoá đơn; Xử lý thu hồi hoá đơn đã lập; Xử lý hoá đơn trong các trường hợp không tiếp tục sử dụng; Uỷ nhiệm lập hoá đơn và việc sử dụng hoá đơn của người mua hàng.

Chương 4: Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong quản lý, sử dụng hoá đơn

Chương này có 7 Điều quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân bán hàng hoá, dịch vụ; điều kiện và trách nhiệm của tổ chức nhận in hoá đơn; trách nhiệm của cơ quan thuế trong quản lý hoá đơn; trách nhiệm của người mua hàng hoá, dịch vụ; xử lý mất, cháy, hỏng hoá đơn trong đơn vị kế toán; lưu trữ bảo quản hoá đơn; huỷ hoá đơn.

Chương 5: Xử phạt vi phạm hành chính về hoá đơn

Chương này có 10 Điều quy định mức xử phạt theo các hành vi vi phạm đối với từng khâu công việc từ in đến phát hành, sử dụng hoá đơn. Quy định nguyên tắc, thủ tục xử lý vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, thời hiệu; thẩm quyền thanh tra, kiểm tra và xử phạt.

Chương 6: Điều khoản thi hành

Chương này có 3 Điều quy định về hiệu lực, hướng dẫn và trách nhiệm thi hành của Bộ tài chính và các Bộ, ngành, Uỷ ban Nhân dân và các tổ chức, cá nhân liên quan.

Về hiệu lực thi hành: Nghị định 51/2010/NĐ-CP quy định hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Như vậy từ thời điểm ban hành Nghị định đến thời điểm có hiệu lực thi hành sẽ có thời gian chuẩn bị khoảng 6 tháng để Bộ Tài chính ban hành Thông tư hướng dẫn Nghị định và chuẩn bị tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung để các doanh nghiệp nắm bắt được chủ trương chính sách mới.

3. Những nội dung sửa đổi chính: Để khắc phục những tồn tại của Nghị định 89/2002/NĐ-CP; Nghị định 51/2010/NĐ-CP bao gồm những nội dung sửa đổi chính như sau:

Thứ nhất, về các khái niệm mới trong Nghị định 51: Tạo hoá đơn; lập hoá đơn; sử dụng hoá đơn bất hợp pháp; sử dụng bất hợp pháp hoá đơn.

Tạo hoá đơn là hoạt động làm ra hoá đơn để sử dụng cho mục đích bán hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh, gồm: tự in từ các máy móc, thiết bị tại doanh nghiệp; đặt các doanh nghiệp đủ điều kiện in hoá đơn; khởi tạo hoá đơn điện tử theo Luật Giao dịch điện tử.

Trước đây, chủ yếu hoá đơn được tạo ra dưới dạng giấy và chỉ có 2 phương thức in hoá đơn để sử dụng khi bán hàng hoá dịch vụ đó là: Bộ Tài chính đặt in hoá đơn bán cho các DN sử dụng hoặc Bộ Tài chính có văn bản chấp thuận để DN tự in hoá đơn. Nay theo NĐ 51, hoá đơn được tạo ra có thể ở dạng giấy và cũng có thể ở dạng dữ liệu đã được định dạng trong hệ thống máy tính, sẵn sàng cho việc nhập dữ liệu bán hàng và kết suất ra dưới dạng giấy (hoá đơn tự in) hoặc dưới dạng thông điệp dữ liệu (hoá đơn điện tử). Ngoài ra còn 1 phương thức tạo hoá đơn bằng cách mua từ cơ quan thuế để sử dụng khi bán hàng hoá dịch vụ; phương thức này chỉ áp dụng giới hạn cho một số trường hợp (tổ chức, hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp). Các hoá đơn này được các Cục thuế địa phương đặt in sẵn theo mẫu chung để bán cho một số đối tượng trên địa phương quản lý và được quy định cụ thể trong Thông tư.

Lập hoá đơn là việc ghi đầy đủ các nội dung của hoá đơn theo quy định khi bán hàng hóa, dịch vụ.

Viêc tạo hoá đơn và lập hoá đơn phải đúng quy định thì hoá đơn mới có giá trị pháp lý.

Sử dụng hoá đơn bất hợp pháp là việc sử dụng hoá đơn giả, hoá đơn chưa có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng; hoặc sử dụng hoá đơn của tổ chức, cá nhân khác (trừ hoá đơn do cơ quan thuế phát hành) để lập khi bán hàng hoá, dịch vụ, để hạch toán kế toán, khai thuế, thanh toán vốn ngân sách.

Sử dụng bất hợp pháp hoá đơn là việc lập khống hoá đơn; cho hoặc bán hoá đơn chưa lập để tổ chức, cá nhân khác lập khi bán hàng hoá, dịch vụ; cho hoặc bán hoá đơn đã lập để tổ chức, cá nhân khác hạch toán, khai thuế hoặc thanh toán vốn ngân sách; lập hoá đơn không ghi đầy đủ các nội dung; lập hoá đơn sai lệch nội dung giữa các liên; dùng hoá đơn của hàng hoá, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hoá, dịch vụ khác; dùng hoá đơn quay vòng khi vận chuyển hàng hoá trong khâu lưu thông.

Thứ hai, về các loại, hình thức hoá đơn:

Các loại hoá đơn bao gồm: hoá đơn xuất khẩu, hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng, các loại hoá đơn khác (vé, thẻ);

- Hoá đơn xuất khẩu là hoá đơn dùng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ ra nước ngoài, xuất vào các khu phi thuế quan;

- Hoá đơn giá trị gia tăng là hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ;

- Hoá đơn bán hàng là hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp;

- Các loại hoá đơn khác, gồm: vé, thẻ hoặc các chứng từ có tên gọi khác nhưng có hình thức và nội dung quy định trong Nghị định.

Thực tế Hóa đơn xuất khẩu đã được sử dụng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nhưng lại chưa được quy định chính thức trong văn bản quy phạm pháp luật về hóa đơn. Việc quy định hóa đơn xuất khẩu tại Nghị định 51/2010/NĐ-CP nhằm công nhận tính hợp pháp của hóa đơn xuất khẩu do doanh nghiệp lập và có thể dùng thay thế cho hoá đơn GTGT xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ.

Hình thức hoá đơn bao gồm: Hoá đơn tự in, Hoá đơn điện tử, Hoá đơn đặt in, trong đó:

- Hóa đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức, cá nhân kinh doanh tự in ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, dịch vụ;

- Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành;

- Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức, cá nhân kinh doanh đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hoặc do cơ quan thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, cá nhân.

Cùng với sự phát triển của quá trình tin học hóa, hiện đại hóa và giao dịch điện tử thì việc quy định hóa đơn điện tử sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong phát triển các giao dịch kinh tế.

Thứ ba, Nghị định 51 đã đề cao quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc tạo hóa đơn, cụ thể:

Nghị định đã trao quyền tự chủ cho cơ sở kinh doanh trong việc sử dụng hóa đơn bằng việc quy định cơ sở kinh doanh được hình thành dưới hình thức là doanh nghiệp sẽ sử dụng hóa đơn tự in hoặc tự đặt in hóa đơn.

Kể từ ngày 01/01/2011 trở đi, cơ quan thuế không bán hóa đơn cho cơ sở kinh doanh là doanh nghiệp. Các Doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tạo hoá đơn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Cụ thể:

a/ Đối tượng in hoá đơn tự in là: Các Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao; doanh nghiệp có mức vốn điều lệ theo quy định của Bộ Tài chính (sẽ quy định cụ thể trong Thông tư hướng dẫn dự kiến là các DN có mức vốn điều lệ từ 50tỷ đồng trở lên); các đơn vị sự nghiệp công lập có sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật được tự in hoá đơn kể từ khi có mã số thuế.

Các Tổ chức, cá nhân kinh doanh (trừ các trường hợp nêu trên) có đủ 5 điều kiện dưới đây phải tự in hoá đơn để sử dụng cho việc bán hàng hoá, dịch vụ:

- Đã được cấp mã số thuế;

- Có doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ;

- Không bị xử phạt về các hành vi vi phạm pháp luật về thuế (theo mức cụ thể sẽ được quy định trong Thông tư của Bộ Tài chính) trong 365 (ba trăm sáu mươi lăm) ngày liên tục tính đến ngày thông báo phát hành hoá đơn tự in;

- Có hệ thống thiết bị đảm bảo cho việc in và lập hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ;

- Là đơn vị kế toán theo quy định của Luật Kế toán và có phần mềm bán hàng hoá, dịch vụ gắn liền với phần mềm kế toán, đảm bảo việc in và lập hoá đơn chỉ được thực hiện khi nghiệp vụ kế toán phát sinh.

b/ Đối tượng được tạo hoá đơn đặt in:

- Các tổ chức, cá nhân kinh doanh có mã số thuế được đặt in hoá đơn để sử dụng cho hoạt động bán hàng hoá, dịch vụ.

- Cục thuế các địa phương đặt in hoá đơn theo mẫu để bán, cấp cho các tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng nhưng có hoạt động kinh doanh, hộ gia đình và cá nhân kinh doanh có cơ sở tại địa phương; hộ gia đình và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hoá, dịch vụ cần có hóa đơn để giao cho khách hàng.

Thứ tư, Nghị định đã đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc tạo hóa đơn, cụ thể:

- Đơn giản hoá thủ tục trong khâu đặt in hoá đơn của người kinh doanh, không phải xin phép cơ quan thuế hay bất kỳ cơ quan nào phê duyệt việc đặt in hoá đơn.

- Người kinh doanh được quyền chọn các doanh nghiệp in hợp pháp để đặt in hoá đơn, phục vụ cho hoạt động kinh doanh mà không ràng buộc về mặt địa lý hay điều kiện khác.

- Không hạn chế số lượng hoá đơn đặt in, tạo điều kiện cho người kinh doanh chủ động tính toán số lượng hợp lý, đảm bảo chi phí quản lý thấp nhất.

- Giao cho người kinh doanh căn cứ điều kiện kinh doanh cụ thể của mình để thiết kế mẫu hoá đơn (không quy đinh mẫu hoá đơn áp dụng chung như trước đây). Do đó mẫu hoá đơn sẽ được hợp lý hoá tối đa về nội dung, kích cỡ và màu sắc, bảo đảm chi phí phù hợp và hoá đơn thể hiện được văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ năm, Nghị định đã trao quyền tự chủ cho các Cục thuế trong việc tự đặt in hóa đơn, cụ thể: Nghị định đã giao cho cơ quan thuế địa phương được đặt in hoá đơn để cấp, bán cho một số đối tượng trên địa bàn tỉnh, thành phố Cục thuế quản lý để giảm bớt sự tập trung quản lý hóa đơn. Hoá đơn này chỉ được bán và cấp cho các đối tượng sau:

- Các tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh, hộ gia đình và cá nhân kinh doanh có cơ sở tại địa phương.

- Các tổ chức không phải là doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân không kinh doanh nhưng có phát sinh hoạt động bán hàng hoá, dịch vụ cần có hoá đơn để giao cho khách hàng.

Hoá đơn do Cục Thuế đặt in được bán theo giá bảo đảm bù đắp chi phí thực tế. Cục trưởng Cục Thuế quyết định và niêm yết giá bán hoá đơn theo nguyên tắc trên. Cơ quan thuế các cấp không được thu thêm bất kỳ khoản thu nào ngoài giá bán đã niêm yết.

Thứ sáu, Nghị định quy định rõ về việc uỷ nhiệm lập hoá đơn, cụ thể:

Tổ chức, cá nhân bán hàng có uỷ nhiệm bán hàng hoá, dịch vụ cho tổ chức, cá nhân khác, được uỷ nhiệm lập hoá đơn cho tổ chức, cá nhân nhận uỷ nhiệm khi bán hàng hoá, dịch vụ.

Việc ủy nhiệm hoá đơn phải được thể hiện bằng văn bản giữa người ủy nhiệm và người nhận ủy nhiệm.

Tổ chức, cá nhân ủy nhiệm lập hoá đơn chịu trách nhiệm về việc tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn theo quy định chung của Nghị định 51.

Thứ bảy, Nghị định có quy định chi tiết các hành vi vi phạm và các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về hoá đơn phù hợp với các Luật và Pháp lệnh hiện hành, đảm bảo rõ ràng dể hiểu, dễ thực hiện, tạo điều kiện giảm bớt các vướng mắc, tranh chấp trong quá trinh thực thi. Cụ thể:

Các hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn sẽ bị xử phạt với mức thấp nhất là 200 nghìn đồng và mức cao nhất là 100 triệu đồng. Tại Chương V Nghị định 51/2010/NĐ-CP có quy định cụ thể từng hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn. Theo đó, mức phạt thấp nhất từ 200 nghìn đồng - 1 triệu đồng sẽ được áp dụng đối với hành vi không ghi đủ hoặc ghi không đúng các nội dung in sẵn khi lập hóa đơn.

Các hành vi như đặt in hóa đơn mà không ký hợp đồng in bằng văn bản; vi phạm chế độ báo cáo việc in hóa đơn theo quy định của Bộ Tài chính; hành vi khai không đúng điều kiện để được mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành hay hành vi lập hóa đơn nhưng không giao cho người mua... sẽ bị phạt từ 1 - 5 triệu đồng. Hành vi tự in hóa đơn hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ các điều kiện quy định sẽ bị phạt tiền từ 2 - 10 triệu đồng.

Đặc biệt, nếu tự in hóa đơn giả, hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả sẽ bị phạt từ 20-100 triệu đồng, đồng thời bị phạt đình chỉ quyền tự in hóa đơn và quyền khởi tạo hóa đơn điện tử trong thời hạn 36 tháng, kể từ khi hành vi bị phát hiện.

Mức phạt cao nhất này cũng được áp dụng đối với các hành vi: Đặt in hóa đơn giả, in hóa đơn giả, lập hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lập khống.

Nghị định cũng quy định rất rõ, khi phạt tiền, mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. (Mức trung bình được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu cộng mức tối đa).

Tổ chức, cá nhân bị xử phạt thì phải thi hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền giao quyết định xử phạt. Nếu không tự nguyện chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

Trên đây bài viết đã đề cập sự cần thiết ban hành Nghị định cũng như một số nội dung mới, nổi bật của Nghị định 51/2010/NĐ-CP. Đây có thể coi là những nội dung đột phá, mang tính cải cách, đã mở ra một bước ngoặt mới trong công tác sử dụng hóa đơn, góp phần làm tăng tính khoa học cho các chính sách thuế. Dự kiến cuối tháng 8/2010, BTC sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn cụ thể để đưa Nghị định 51/2010/NĐ-CP sớm đi vào cuộc sống. Hy vọng với một bước ngoặt mới về sự ra đời Nghị định 51/2010/NĐ-CP thì việc thực hiện đúng các quy định về hóa đơn, chứng từ của các tổ chức, cá nhân NNT sẽ giúp tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng giữa các tổ chức cá nhân NNT từ đó giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nhân được thuận lợi./.


(Theo Bộ tài chính)

Popular Posts