Monday, 20 August 2012

Quản trị rủi ro: Cần quyết tâm từ người đứng đầu

Bê bối tại DN, đặc biệt là khối CTCK đang xảy ra ngày càng nhiều, khiến quản trị rủi ro trở thành vấn đề được các DN quan tâm nhiều hơn trong thời gian gần đây. ĐTCK đã trao đổi với ông Phan Đằng Chương, Phó tổng giám đốc phụ trách Bộ phận Tư vấn DN Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam về vấn đề này.

Thu Hương

Từ năm 2008 đến nay, tình hình kinh tế trong nước và thế giới khó khăn hơn trước rất nhiều, không ít DN thua lỗ, nợ nần, thậm chí lãnh đạo DN vướng vào vòng lao lý. Ở những DN này, có phải vấn đề quản trị rủi ro đã không được thực hiện tốt?

Quản trị là kiểm tra, giám sát, kiểm soát, có quy định chế tài, có thưởng, có phạt. Muốn có một khung kiểm tra giám sát cho đúng thì trước tiên phải biết rủi ro nằm ở đâu, vì đầu tư dàn trải vào bộ máy kiểm soát ở tất cả các khâu thì không những không hiệu quả về chi phí, mà còn không phù hợp với chiến lược DN xây dựng. DN cần có chiến lược kiểm soát rủi ro, xác định xem DN chịu được rủi ro đến đâu, đâu là rủi ro trọng yếu. Hệ thống kiểm soát có phục vụ cho mục đích kiểm soát rủi ro chiến lược hay không. Quan trọng nhất là HĐQT có theo dõi thường xuyên và đánh giá đúng các vấn đề về quản trị rủi ro, quản trị DN của mình hay không.

Hệ thống quản trị rủi ro là một công cụ, nếu công cụ không được sử dụng đúng thì không có tác dụng. Đối chiếu nguyên tắc này vào một số trường hợp sai phạm của DN mà báo chí nêu gần đây thì có thể nói, vấn đề quản trị rủi ro đã chưa được quan tâm thực hiện đầy đủ.

Ông có nhận thấy các DN Việt Nam đang quan tâm nhiều hơn đến quản trị rủi ro sau những bài học thất bại của chính mình hoặc của những DN bạn?

Gần đây, người ta bàn luận nhiều về quản trị rủi ro. Một số vùng rủi ro đặc thù được quan tâm nhiều hơn các rủi ro khác, đó là rủi ro về chiến lược. Trong bối cảnh khủng hoảng, người ta suy nghĩ lại về bài toán chiến lược và phát triển của DN, định vị lại mình ra sao. Ví dụ, đối với các khách hàng mà chúng tôi tư vấn trong lĩnh vực xây dựng, thì định hướng phân khúc thị trường là sống còn, vì DN không thể chỉ dựa vào phân khúc xây nhà dân dụng trong bối cảnh thị trường khó khăn hiện nay. Nhưng năng lực cốt lõi có đủ để DN này hướng ra các lĩnh vực xây dựng mới hay không? Các xu hướng về mua bán, sáp nhập DN thường được áp dụng để trả lời cho câu hỏi trên, nhằm bù đắp thiếu sót và mở rộng khả năng kinh doanh của DN. Đây là mối đe dọa, đồng thời cũng là cơ hội chiến lược lớn. Quản trị rủi ro vì thế không thể tách rời với một tầm nhìn và chiến lược dài hạn. Hiện tại, chiến lược được đặt lên vị trí hàng đầu.

Một rủi ro cũng đang rất nóng bỏng trên thị trường là rủi ro về tuân thủ. Đây là vấn đề của mọi thị trường. Một đơn vị chế biến xuất nhập khẩu thì rủi ro đến từ quy định của các thị trường nhập khẩu. Tại Việt Nam, đó là tiến trình đi đến khung tuân thủ quy định của WTO. Hay khi thị trường khó khăn, các nước có xu hướng siết lại hàng rào phi thuế cũng là một rủi ro tuân thủ.

Hiện nay, các DN thường hay nhắc đến các rủi ro trọng yếu là rủi ro chiến lược và rủi ro tuân thủ. Làm sao để quản trị rủi ro này? HĐQT phải thực sự xem đó là trách nhiệm của mình và phải có hệ thống chuẩn hóa để DN đánh giá đồng bộ và kịp thời về rủi ro để ứng phó.

Theo ông, DN Việt Nam với quy mô vừa và nhỏ, kinh phí có hạn, có thể tự xây dựng một quy trình chuẩn hóa cho quản trị rủi ro, thay vì phải thuê tư vấn độc lập hay không?

Quản trị rủi ro được làm bài bản có 3 bước chính. Bước đầu tiên là quảng bá văn hóa quản trị rủi ro cho toàn thể nhân viên, vì rủi ro đến từ mọi phía, từ mọi quy trình, con người tham gia vào DN. Vì vậy, văn hóa quản trị rủi ro phải được đồng nhất trong một DN.

Bước thứ hai là xác định và đánh giá về rủi ro của DN. Quản trị rủi ro luôn là sự cân đối giữa rủi ro chấp nhận và cái lợi thu lại. Do đó, phương pháp quản trị rủi ro phải phục vụ cho bài toán cân đối này, không quá chặt, mà có sự linh hoạt.

Bước ba, xây dựng kế hoạch hành động để ứng phó với rủi ro. Sự nhìn nhận, đánh giá và các hành động ứng phó với rủi ro này phải được thống nhất trong toàn bộ DN và được thực hiện thành một quy trình xuyên suốt quá trình hoạt động của DN.

Từ bản đánh giá rủi ro đến kế hoạch hành động thì 80% là công việc của DN. Còn giai đoạn đầu, xây dựng nền tảng, huấn luyện kỹ thuật, làm sao để quảng bá đồng bộ văn hóa quản trị rủi ro, thì DN có thể nhờ nhà tư vấn. Vấn đề quảng bá văn hóa quản trị rủi ro hiện nay đã khá phổ biến, nên tôi cho rằng, việc thuê một nhà tư vấn hỗ trợ DN không phải trả phí quá cao, mức phí tư vấn có thể chấp nhận được để tạo nền tảng đầu tiên cho quản trị rủi ro. Sau đó, DN có thể tiếp tục phát triển hệ thống của mình.

Theo ông, trong quản trị rủi ro thì điểm mấu chốt là gì?

Đó là sự nhận thức của chính lãnh đạo cao nhất trong công ty và sự chuyển tải các nhận thức đó đến toàn bộ cấp quản lý bên dưới. Nếu không có sự quyết tâm này, thì mọi quy trình xây dựng đều không được thực thi.

(Theo ĐTCK)

NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH


Hoạt động kinh doanh tài chính vốn dĩ đa dạng, phức tạp và tiềm ẩn rủi ro cao, các rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung và công ty tài chính nói riêng lại có khả năng tích lũy rất nhanh. Chính vì thế, hầu hết các tổ chức tín dụng đều xây dựng bộ phận kiểm toán nội bộ nhằm kiểm soát rủi ro.

ThS Đoàn Thị Thu Hà

Hiện cả nước có 17 công ty tài chính, phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế nhà nước như: Tổng công ty Tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam, Công ty cổ phần Tài chính Sông Đà, Công ty cổ phần Tài chính điện lực, Công ty cổ phần Tài chính xi măng, Công ty cổ phần Tài chính than khoáng sản Việt Nam. Theo đó, các công ty tài chính đều chú trọng kiểm toán nội bộ nhằm kiểm soát rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động theo định hướng đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ. Bộ phận kiểm toán nội bộ trong các công ty tài chính được tổ chức theo mô hình của “Quy chế kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng” ban hành kèm theo Quyết định 37/2006/QĐ-NHNN do Thống đốc NHNN ký ngày 01/8/2006. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động kiểm toán nội bộ trong các công ty tài chính đã phát sinh nhiều bất cập:

Thứ nhất, theo quy chế chung đối với bộ phận kiểm toán nội bộ, việc xây dựng kế hoạch hoạt động mới chỉ dừng lại ở kế hoạch ngắn hạn hàng năm, do đó chưa xác định được định hướng phát triển của bộ phận kiểm toán nội bộ gắn với chiến lược của công ty tài chính trong dài hạn và trong từng giai đoạn cụ thể.

Thứ hai, việc đánh giá rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm toán thường chỉ dựa trên nhận định chủ quan và kinh nghiệm về các hoạt động có mức độ rủi ro cao để tập trung nguồn lực kiểm toán, chưa một công ty tài chính nào xây dựng được bản phân tích, đánh giá rủi ro trên toàn hệ thống.

Thứ ba, việc xây dựng định biên lao động cho bộ phận kiểm toán nội bộ nói chung và định biên cho từng chức danh nói riêng chủ yếu theo phương pháp ước lượng. Điều đó dẫn đến bộ máy kiểm toán nội bộ không đủ lực lượng kiểm toán viên để thực hiện các yêu cầu của HĐQT, và chưa bao quát được toàn bộ hoạt động của công ty tài chính.

Thứ tư, đa số các kiểm toán viên nội bộ đều chưa có các chứng chỉ nghề nghiệp, chưa được đào tạo chuyên sâu về kiểm toán nói chung và kiểm toán nội bộ nói riêng. Phần đông các kiểm toán viên là từ các ban nghiệp vụ chuyển lên, nên kinh nghiệm và kỹ năng kiểm toán còn hạn chế. Hơn nữa, hoạt động kiểm toán nội bộ thường diễn ra chậm hơn các hoạt động được kiểm toán khá lâu, do đó khả năng phát hiện sai sót cũng bị hạn chế còn khả năng ngăn chặn sai phạm là rất thấp.

Để đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của các công ty tài chính là tăng cường quản trị rủi ro, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả, bộ phận kiểm toán nội bộ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản. Trước hết, để đáp ứng được kỳ vọng của cổ đông, của HĐQT và Ban kiểm soát, bộ phận kiểm toán nội bộ cần phải xây dựng chiến lược phát triển của bộ phận mình phù hợp với chiến lược phát triển chung của cả công ty. Theo đó, cần xác định rõ lợi ích mà kiểm toán nội bộ mang lại cho công ty, giá trị gia tăng trong hiện tại và tương lai; những chiến thuật hoạt động để đạt tới mục tiêu cơ bản; xác định nhu cầu về vốn và nguồn nhân lực hiện tại và tương lai, các giả định và tiêu chuẩn cơ bản để so sánh kế hoạch với tình hình thực hiện; các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng kiểm toán.

Tiếp đến, phải xây dựng kế hoạch về nhân sự phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể của bộ phận kiểm toán nội bộ theo từng giai đoạn, từng thời kỳ. Sau đó phải xây dựng được định biên lao động cho bộ máy kiểm toán một cách khoa học. Định biên lao động sẽ dựa trên quy mô, địa bàn hoạt động, tính chất ngành nghề, loại hình sản phẩm, xây dựng định mức lao động chuẩn, từ đó sẽ xác định được số lượng kiểm toán viên theo địa bàn, chức danh và trình độ, lĩnh vực chuyên môn hóa. Việc tuyển dụng cần được mở rộng ra ngoài công ty tài chính đồng thời đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ hiện có, đảm bảo đủ trình độ và năng lực thực hiện tốt yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Bên cạnh vai trò là công cụ kiểm tra, giám sát của HĐQT và Ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ cũng cần khẳng định vai trò là công cụ tư vấn, hỗ trợ cho việc thực hiện trách nhiệm của các nhà quản lý (Ban giám đốc). Thực hiện vai trò này, kiểm toán nội bộ cũng đồng thời thực hiện được chức năng tiền kiểm của mình. Để thực hiện dược vai trò tư vấn, kiểm toán nội bộ cần phân tích, đánh giá các quy trình, quy chế, đánh giá rủi ro tiềm ẩn, nhận diện những chốt kiểm soát yếu kém, khả năng xuất hiện sai phạm cao để đưa ra các ý kiến tư vấn điều chỉnh phù hợp, nhằm ngăn chặn các sai phạm từ xa. Bên cạnh đó, đối với các hợp đồng kinh tế, phương án kinh doanh chuẩn bị được thực hiện hoặc đang trong quá trình xây dựng đàm phán, kiểm toán nội bộ cũng nên có ý kiến nhận định rủi ro, đánh giá hiệu quả và đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho công ty tài chính trong điều kiện phải đảm bảo các nguyên tắc độc lập, khách quan.

(theo tạp chí Thuế Nhà nước)

HỘI THẢO 'VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC NGHỀ NGHIỆP VỀ KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN (PAOS)'

BÁO CÁO VỀ TINH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN TRONG VIỆC DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM

Ông Bùi Văn Mai

Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký

Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

Ông Bùi Văn Mai
1. Tổng quan về sự phát triển của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam

Công việc kế toán được thực hiện tại Việt Nam từ nhiều năm trước đây nhưng chỉ trở thành nghề nghiệp (dịch vụ) từ năm 1991 khi Bộ Tài chính Việt Nam thành lập hai công ty dịch vụ kế toán, kiểm toán đầu tiên (VACO-Deloitte Việt Nam và AASC) và chính thức được luật hóa trong Luật kế toán năm 2003 và Nghị định về kiểm toán độc lập năm 1994 của Nhà nước.

Về cơ bản, hệ thống pháp luật về kế toán, kiểm toán của Việt Nam là khá hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế và kinh tế thị trường, gồm Luật kế toán 2003, Luật kiểm toán độc lập 2011. Bộ Tài chính đã công bố 26 Chuẩn mực kế toán (VASs) phù hợp với Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs); chế độ kế toán (tài liệu hướng dẫn áp dụng VASs) cho doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa; công bố 37 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSAs) phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISAs) và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán… Hệ thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán đã nâng cao vị thế của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán độc lập của Việt Nam lên tầm cao mới, đặt cơ sở pháp lý bền vững cho sự phát triển của nghề nghiệp này trong hiện tại và tương lai.

Đến tháng 6/2012, Việt Nam có 152 công ty kiểm toán với 40 chi nhánh đang hoạt động (trong đó có Big 4 và 24 công ty là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế, 35 công ty lớn đủ điều kiện kiểm toán tổ chức niêm yết), có trên 10.000 người làm việc. Ngay từ khi thành lập, các công ty kiểm toán đều rất chú trọng đến việc tuyển chọn kiểm toán viên và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên. Từ tháng 10/1994 đến nay, Bộ Tài chính đã tổ chức 17 kỳ thi và cấp chứng kiểm toán viên (CPA Việt Nam)cho 2.500 người trong đó có 700 người đạt trình độ quốc tế, 1.500 người đang cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán và 1.000 người hoạt động trong các lĩnh vực khác. Người được cấp CPA Việt Nam phải có 4 năm thực tế làm kế toán, kiểm toán mới được ký báo cáo kiểm toán.

Người hành nghề kế toán, kiểm toán ở Việt Nam phải được cập nhật kiến thức bắt buộc tối thiểu 40 giờ/năm với các nội dung do Bộ Tài chính quy định. Bộ Tài chính đã giao cho Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) thực hiện công việc CNKT hàng năm cho kiểm toán viên.

Trong hơn 2 thập kỷ qua, nghề nghiệp kế toán, kiểm toán ở Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, với các loại dịch vụ: kế toán, kiểm toán, thuế, tư vấn tài chính, đầu tư, quản trị doanh nghiệp và các dịch vụ phi kiểm toán khác; với lượng khách hàng ngày càng đa dạng và mở rộng,gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức có lợi ích công chúng, doanh nghiệp nhà nước, công ty TNHH, cổ phần, tư nhân, dự án đầu tư, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội, dự án quốc tế.

Trong thập kỷ qua, doanh thu từ dịch vụ kế toán, kiểm toán tăng trung bình trên 20% mỗi năm. Năm 2011, các doanh nghiệp kiểm toán cung cấp dịch vụ cho 32.000 khách hàng là các doanh nghiệp và tổ chức trong cả nước, doanh thu toàn ngành kiểm toán độc lập đạt 3.047 tỷ VNĐ (145.000.000 USD); kết quả kinh doanh (lãi sau thuế) là 71.844 tỷ đồng (tương đương 3.421.000 USD).

Sự phát triển của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam đã góp phần gia tăng giá trị báo cáo tài chính, ổn định nền tài chính quốc gia, đẩy mạnh nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển.

2. Sự hình thành, phát triển và vai trò của các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán

Phù hợp với thông lệ quốc tế, Ngoài 2 hội nghề nghiệp chuyên nghiệp về kế toán, kiểm toán là Hội kế toán và kiểm toán Việt Nam (VAA – thành lập năm 1994) và Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA – thành lập năm 2005), Việt Nam còn có một số hội nghề nghiệp liên quan tới ngành tài chính, kế toán, kiểm toán như Hội tư vấn Thuế Việt Nam (VTCA), Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI), Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (AVI), Hiệp hội các nhà đầu tư chứng khoán (VASB).

Ngoài các tổ chức nghề nghiệp trong nước, các tổ chức nghề nghiệp quốc tế cũng đã có mặt tại Việt Nam. Năm 1996, Hiệp hội kế toán công chứng Anh (ACCA) là tổ chức đầu tiên vào Việt Nam để tổ chức đào tạo, thi và cấp chứng chỉ có giá trị quốc tế, sau đó là Hiệp hội kế toán công chứng Australia (CPA Australia) vào năm 2006. Các tổ chức nghề nghiệp quốc tế khác như ICPAS, ICAEW, ICAA, IIA, CIMA…cũng đã có các hoạt động tại Việt Nam. Sự xuất hiện và hoạt động của các hội nghề nghiệp quốc tế đã góp phần tích cực vào việc tăng cường nhân lực có chuyên môn cao cho các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các trường Đại học và cơ quan quản lý nhà nước. Hiện nay Việt Nam có khoảng 700 người có chứng chỉ ACCA, CPA Australia, CPA Mỹ hoặc các chứng chỉ quốc tế khác. Đó là kết quả to lớn của sự lựa chọn và hợp tác quốc tế của kiểm toán độc lập Việt Nam với quốc tế.

3. Sự ra đời và phát triển của Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)

Nhận thức được tầm quan trọng của hội nghề nghiệp về kiểm toán và sự cần thiết có một tổ chức quản lý trực tiếp kiểm toán viên hành nghề (CPA Việt Nam) khi hoạt động kiểm toán độc lập ngày càng phát triển mạnh và số lượng kiểm toán viên ngày càng tăng nhanh, ngày 15/4/2005, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) được thành lập. VACPA tổ chức, hoạt động theo Điều lệ Hội được Bộ trưởng Bộ Nội vụ phê duyệt và chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Tài chính. VACPA có một văn phòng trung ương duy nhất trực tiếp quản lý từng hội viên và một văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh để triển khai các hoạt động thuộc khu vực phía Nam. Phương châm hoạt động của VACPA là “Độc lập – Trung thực – Minh bạch”. Sau 7 năm hoạt động, VACPA đã triển khai thực hiện đầy đủ, toàn diện các chức năng, nhiệm vụ của Hội theo Điều lệ Hội và các công việc do Bộ Tài chính ủy quyền.

VACPA là thành viên của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), thành viên của Liên đoàn kế toán Châu Á Thái Bình Dương (CAPA) từ năm 2010 và mới trở thành thành viên của Ủy ban phát triển các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán (PAODC) thuộc CAPA từ năm 2012.


Hiện VACPA có trên 1.400 hội viên trên cả nước là những người có chứng chỉ kiểm toán viên (CPA Việt Nam) và chủ yếu đang hành nghề tại các công ty kiểm toán. VACPA đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam, như sau:

· Hàng năm tổ chức từ 30 đến 40 khóa đào tạo, cập nhật kiến thức, hội thảo, tọa đàm cho 2000 kiểm toán viên và người quan tâm; trong đó đã phối hợp với WB, ACCA, CPA Australia, ICPAS, ICAEW, CIMA, Đại học Swinburne…và các trường đại học lớn trong nước cùng tổ chức;

· Thực hiện kiểm tra chất lượng dịch vụ từ 30 đến 40 công ty kiểm toán và 1/3 số hội viên trong 1 năm. Thông qua việc kiểm soát chất lượng, đã hỗ trợ rất hiệu quả việc tuân thủ chuẩn mực kế toán, kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho KTV, nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời thực hiện xử lý sai phạm đối với hội viên hoặc báo cáo Bộ Tài chính xử lý các sai phạm của KTV;

· Thực hiện soạn thảo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán quốc tế theo ủy quyền của Bộ Tài chính để trình Bộ Tài chính ban hành;

· Cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn chuyên môn về kế toán, kiểm toán, thuế, tài chính…cho hội viên; xây dựng, đào tạo, phổ biến Chương trình kiểm toán mẫu và chương trình đào tạo thực hành kiểm toán và cung cấp các công cụ hỗ trợ, tài liệu hướng dẫn cho hội viên;

· Tham gia xây dựng Luật kiểm toán độc lập, chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp luật trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và các lĩnh vực khác có liên quan;

· Mở rộng hoạt động đối ngoại, tuyên truyền quảng bá nghề nghiệp, hợp tác với nhiều tổ chức trong nước và quốc tế trong hoạt động nghề nghiệp, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách có chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động;

· Không ngừng củng cố tổ chức bộ máy, quản lý hoạt động; trong 3 năm qua đã được WB hỗ trợ VACPA 2 dự án, đã tăng cường năng lực hoạt động một cách đáng kể.

Để học tập các tổ chức quốc tế, VACPA đã ký Biên bản hợp tác với 5 tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA Australia, ICPAS, ICAEW, IMA, Đại học công nghệ Swinburne…và ký Biên bản hợp tác với một số cơ quan nhà nước (UBCKNN), các trường đại học tại Việt Nam. Việt Nam và ACCA, CPA Australia đã thỏa thuận về thừa nhận lẫn nhau bằng cách ACCA, CPA Australia được thi chuyển đổi lấy chứng chỉ CPA Việt Nam, và CPA Việt Nam được miễn từ 3 đến 7 môn khi thi ACCA, CPA Australia.

Với những gì đã làm được, VACPA đã và đang được cơ quan nhà nước, công chúng trong nước và tổ chức quốc tế thừa nhận là Hội nghề nghiệp chuyên nghiệp, độc lập, tự chủ, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp duy trì và phát triển nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam, góp phần ổn định nền tài chính và kinh tế thị trường.

4. Cơ hội phát triển nghề nghiệp và Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán

Dịch vụ kế toán, kiểm toán đã được pháp luật và xã hội Việt Nam thừa nhận, doanh nghiệp, nhà đầu tư chấp nhận và ngày càng đề cao hơn vai trò của kiểm toán viên. Thị trường kiểm toán đã mở rộng, nhất là sau khi thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua hơn 10 năm phát triển.

Cơ quan nhà nước đã thừa nhận vai trò của Hội nghề nghiệp, đã chuyển giao một số chức năng quản lý nghề nghiệp kế toán, kiểm toán cho Hội, đã công bố trong các văn bản pháp luật và tạo điều kiện cho Hội phát triển.

Luật kiểm toán độc lập tháng 3/2011 mở ra thời kỳ phát triển mới của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán. Các văn bản hướng dẫn luật đang mở rộng đối tượng đủ điều kiện thi lấy chứng chỉ kiểm toán viên, tạo điều kiện tăng số lượng, nâng cao chất lượng kiểm toán viên, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội.

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam sắp ban hành dựa trên hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế mới có hiệu lực từ 15/12/2009. VACPA đang xây dựng các tài liệu hướng dẫn chuẩn mực theo thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Đó là những cơ hội rất tốt cho sự phát triển nghề nghiệp và Hội nghề nghiệp kế toán và kiểm toán ở Việt Nam.

5. Thách thức đối với nghề nghiệp và Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán

Số lượng kiểm toán viên hiện có còn thiếu và chất lượng hiện chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán nói chung ngày càng được cải thiện nhưng vẫn chưa đạt mong muốn và còn rất khó khăn để được khu vực và quốc tế thừa nhận. Hiện nay chất lượng nhân viên và chất lượng dịch vụ giữa các công ty kiểm toán còn chưa đồng đều. Quy mô các tổ chức kiểm toán độc lập ở Việt Nam còn nhỏ bé.

Cơ chế hành chính nhà nước còn khá mạnh, còn trực tiếp quản lý, chi phối nhiều hoạt động của kiểm toán viên và doanh nghiệp kế toán, kiểm toán và hoạt động của Hội nghề nghiệp, còn thiếu các quy định pháp luật về vai trò của tổ chức nghề nghiệp.

6. Mục tiêu và định hướng phát triển của VACPA đến năm 2020

Về hoạt động nghề nghiệp, định hướng phát triển chính là:

· Nâng cao năng lực đào tạo nguồn nhân lực (CPA Việt Nam);

· Xây dựng chuẩn mực chuyên môn về kế toán, kiểm toán và tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng văn bản pháp luật phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất và phù hợp với đặc thù của Việt Nam. Soạn thảo các tài liệu hướng dẫn thực hành;

· Phát triển dịch vụ tư vấn và cung cấp công cụ hỗ trợ hội viên;

· Phát triển hoạt động kiểm soát chất lượng, tăng cường chất lượng dịch vụ của hội viên.

Về tổ chức, định hướng phát triển là:

· Hình thành bộ máy tổ chức có từ 30-50 người, có đủ năng lực, uy tín, ổn định với các cơ chế chính sách hoạt động đầy đủ, rõ ràng, phù hợp thông lệ quốc tế, bảo đảm phát triển vững bền; Tăng số lượng hội viên lên 4000-5000 người;

· Xây dựng Trung tâm nghiên cứu và tư vấn kiểm toán viên, với chương trình đào tạo rõ ràng; tiếp tục mở rộng nội dung và chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu của Hội viên và xã hội;

· Thực hiện tốt hơn vai trò thành viên của CAPA, phấn đấu trở thành thành viên của IFAC; và

· Tự chủ về tài chính, có cơ sở vật chất phù hợp với quy mô phát triển và yêu cầu hoạt động.

7. Mong muốn hỗ trợ từ CAPA/IFAC

· Tác động làm thay đổi nhận thức của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và xã hội để giúp các Hội nghề nghiệp ở Việt Nam nói chung và VACPA nói riêng tiếp cận với cộng đồng các tổ chức nghề nghiệp quốc tế rộng lớn hơn (gia nhập thành viên IFAC).

· Hỗ trợ tổ chức các hoạt động quốc tế về kế toán, kiểm toán tại Việt Nam.

· Giúp nâng cao năng lực hoạt động cho VACPA, giúp VACPA phát triển bền vững thông qua việc chia sẻ kiến thức kinh nghiệm, công cụ và hướng dẫn để hỗ trợ phát triển tổ chức, cung cấp thông tin quốc tế, hỗ trợ chuyên gia đào tạo, tư vấn, quảng bá nghề nghiệp và vai trò của tổ chức nghề nghiệp ở Việt Nam.

******

Thông qua hội thảo quốc tế này, chúng tôi mong muốn thông tin cho các bạn quốc tế hiểu biết về tình hình Việt Nam, mong muốn được nhận và học tập được kinh nghiệm của quốc tế và quốc gia bạn nhằm nâng cao nhận thức của đồng nghiệp và xã hội về vai trò của tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam, sớm góp phần ngày càng hiệu quả vào sự nghiệp công khai minh bạch nền tài chính, kinh tế Việt Nam.

Gian lận tài chính và trách nhiệm của kiểm toán viên

Chuyện giấu lãi, giấu lỗ của doanh nghiệp không còn xa lạ mặc dù có bàn tay của kiểm toán viên. Vậy trách nhiệm của kiểm toán đến mức nào hay chỉ là việc tư vấn cho DN đáp ứng các chuẩn mực, quy định hiện hành? Vấn đề nóng bỏng này cần được nghiên cứu và bàn thảo, giải quyết để tạo được niềm tin với người quan tâm. Bài báo trình bày những kết quả nghiên cứu bước đầu của tác giả nhằm góp phần giải quyết vấn đề này.

Nguyễn Thị Phương - Cao đẳng QTKD.

D

ấu hiệu của gian lận tài chính "Giấu lãi, giấu lỗ" là việc thiếu trung thực về kê khai tài chính của DN để trấn an cổ đông hay với mục đích trốn thuế hoặc thu hút nhà đầu tư v.v... Một trong những dấu hiệu rõ nét của việc gian lận tài chính thể hiện ở trước và sau thời gian ưu đãi thuế hay công bố báo cáo tài chính (BCTC). Trong thời điểm công bố BCTC hay trong thời kỳ ưu đãi thuế, BCTC thường thể hiện có lãi lớn. Tuy nhiên khi hết thời gian này, DN đột ngột thông báo thua lỗ. Điển hình là các DN FDI có dấu hiệu chuyển giá sang cho công ty mẹ tại nước ngoài: lỗ lũy kế vượt vốn chủ sở hữu nhưng lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh vẫn dương, đầu tư vẫn mở rộng v.v...

Hơn nữa, các khoản mục trên BCTC biến động bất thường cũng là những dấu hiệu nổi bật của thiếu trung thực trong kê khai tài chính. Thứ nhất, chi phí giá thành tăng đột biến do thay đổi phương pháp hạch toán hoặc lý do không thuyết phục. Tương tự, các chi phí quản lý, bán hàng tăng đột biến nếu DN không mở rộng kinh doanh, phát triển chi nhánh. Thứ hai, doanh thu tăng lên và tỷ suất lợi nhuận giảm đột ngột hơn cũng là biểu hiện đáng nghi ngờ. Như trường hợp của Công ty CP Vận tải biển Việt Nam VOSCO (VOS), lợi nhuận gộp hay lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh chính đều thua lỗ - 12 tỷ đồng. Công ty này chỉ thoát lỗ nhờ việc bán tàu biển, được hạch toán dưới dạng doanh thu khác 23 tỷ đồng. Do vậy, lợi nhuận thuần 6 tháng đầu năm 2011 của VOS vẫn lãi 7,5 tỷ đồng, quá thấp so với vốn điều lệ (1.400 tỷ đồng) của DN này. Con số lãi trên BCTC của VOS không thể thuyết phục cổ đông rằng tình hình tài chính Công ty vẫn xuôi chèo mát mái mà hoàn toàn ngược lại!

Trách nhiệm của KTV và của Công ty kiểm toán đến đâu?

KTV không chỉ có nghĩa vụ xác minh mà còn đóng vai trò tư vấn, giám sát DN tuân thủ các chuẩn mực tài chính, kế toán. Do vậy, khối lượng công việc của KTV rất lớn, đòi hỏi sự mẫn cán, tôn trọng nguyên tắc nghề nghiệp, đặc biệt là chuẩn mực đạo đức.

Hơn thế nữa, số lượng các công ty kiểm toán có hạn, chi phí kiểm toán ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán, bám sát được hoạt động của DN. Hạn chế lớn nhất trong trách nhiệm KTV là họ không thể tham gia vào mọi hoạt động của DN như kiểm soát, thu hồi nợ và đánh giá chất lượng tín dụng, các khoản phải thu v.v... Ví dụ như Công ty kiểm toán làm việc với các công ty đầu tư tài chính, ma trận danh mục đầu tư đòi hỏi sự am hiểu kỹ lưỡng vì dòng vốn chảy qua hai kênh trực tiếp lẫn gián tiếp (ủy thác, hợp tác kinh doanh) với bên thứ 3 nên việc giấu lãi, lỗ rất dễ dàng. Do đó, CTKT buộc các DN phải chấp nhận thay đổi lớn về kết quả tài chính sau kiểm toán hoặc đưa ra ý kiến ngoại trừ. Đối với các tổ chức hay tập đoàn lớn, báo cáo kiểm toán có ý kiến ngoại trừ sẽ làm giảm mạnh mức độ minh bạch tài chính trong mắt cổ đông lớn, ảnh hưởng đến việc xếp hạng tín nhiệm trong mắt các ngân hàng thương mại. Do vậy, tôn trọng ý kiến của KTV sẽ giữ được vị thế tín nhiệm của tổ chức đó trên thị trường tài chính. Đơn cử như Tập đoàn Kinh Đô (KDC) hoàn toàn không trích dự phòng cho danh mục đầu tư chứng khoán trong năm 2008 theo BCTC do KDC tự lập. Trước khi lập BCKT, tập đoàn này đã phải nghiêm chỉnh thực hiện trích lập dự phòng, và tất nhiên việc sụt giảm lợi nhuận không thể tránh khỏi. Hay trường hợp của Quốc Cường Gia Lai (QCG), DN bất ngờ công bố lãi lớn sau khi công bố đợt phát hành 600 tỷ trái phiếu chuyển đổi năm 2010. BCTC sau soát xét cho thấy lợi nhuận sau thuế của Công ty mẹ tăng gấp 3,6 lần từ 13,4 tỷ đồng lên 61,4 tỷ đồng. Theo giải trình của QCG, doanh thu từ hoạt động kinh doanh chính được điều chỉnh tăng 177 tỷ đồng. Theo yêu cầu của CTKT Ernst & Young, QCG đã ghi nhận thêm doanh thu bán một dự án bất động sản hơn 204 tỷ đồng nên dẫn đến sự thay đổi trên báo cáo soát xét. Tại thời điểm lập BCTC quý II/2010, việc chuyển giao tài sản của QCG đang diễn ra, nên công ty chưa ghi nhận lợi nhuận. Ví vụ này cho thấy trách nhiệm CTKT là điều chỉnh, hồi tố kịp thời những thay đổi quan trọng về tài chính trong giai đoạn lập BCTC để thông tin kịp thời cho cổ đông và cơ quan quản lý.

Thủ thuật lách kiểm toán

Trách nhiệm của kiểm toán phải đi đôi với kinh nghiệm, trình độ bắt mạch đúng bệnh của DN đang làm việc. Đối với các NHTM hay Công ty chứng khoán, họ có thể báo lãi với con số khủng hàng nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở con số lãi mà chính là việc kiểm soát nợ xấu của các tổ chức tài chính này ra sao. Lãi ảo phát sinh từ việc hạch toán lãi của DN mà ém nhẹm đi các khoản dự phòng các khoản nợ khó thu hồi hay danh mục đầu tư thu lỗ. Nguồn thu nhập sinh lời lớn đối với các NHTM trong năm 2011 thu nhập lãi trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất vay qua đêm cao chót vót từ 25%-30% đã và đang khiến cho bên vay nợ là rơi vào tình trạng mất thanh khoản, sớm muộn phải sáp nhập theo chủ trương của NHNN (dự kiến số lượng từ 5 đến 8 NHTM trong năm 2012). Những khoản vay không được thẩm định kỹ càng là những quả bom nổ chậm cho chi phí rủi ro sau này. Không chỉ vậy, đối với danh mục đầu tư của NHTM, thủ thuật thường thấy là chuyển đầu tư ngắn hạn sang nắm giữ dài hạn (chứng khoán sẵn sàng để bán, nắm giữ tới khi đáo hạn) để tránh việc trích dự phòng, hay mập mờ trong thuyết minh BCTC. Trường hợp NHTM Sacombank nắm giữ khá nhiều trái phiếu của công ty con, Công ty chứng khoán Sacombank (SBS) mà không trích lập dự phòng, trong khi hoạt động SBS gặp nhiều khó khăn do nợ khó thu hồi khách hàng cá nhân. Trong thuyết minh BCTC của công ty con, Sacombank gánh chịu rủi ro kép do việc bơm vốn dưới hình thức mua trái phiếu của SBS.

Không chỉ riêng với NHTM, các CTCK cũng có vô số chiêu trò qua mắt được công ty kiểm toán. Đó là việc mua bán đảo nợ danh mục chứng khoán giải chấp, một thực tế diễn ra phổ biến tại CTCK. Xuất phát từ việc cho khách hàng cá nhân vay vốn mua chứng khoán, khi đến giới hạn ép buộc phải bán đi cắt lỗ và hoàn trả vốn cho CTCK, hình thức mua bán thỏa thuận sẽ được áp dụng từ tài khoản này sang tài khoản khác của khách hàng cá nhân. Thực chất, nợ của khách hàng cá nhân chưa được thu hồi mà chỉ đổi tên trên giấy. Dấu hiệu quan trọng các KTV có thể phát hiện là dòng tiền đột biến trong các hoạt động mua bán đảo nợ phát sinh ra. Ngoài ra, giao dịch chéo hay cổ đông nội bộ, cổ đông lớn như Chủ tịch HĐQT, Ban kiểm soát còn khá lỏng lẻo nên xảy ra hiện tượng rút ruột công ty. Không những vậy, CTCK lớn thuộc top 10 thị trường, việc mua bán để hạch toán lợi nhuận ảo diễn ra khá phổ biến dưới dạng hợp đồng tương lai (future con-tract) hay bán cho các nhân có liên quan tới nội bộ để phát sinh thu nhập. Sự nhập nhằng giữa công và tư trong CTCK vốn là điểm nhức nhối khi tài khoản tự doanh thường núp bong dưới tên cá nhân, do vậy, gian lận tài chính rất rễ xảy ra khi quyền rút tiền của tài khoản thuộc về cá nhân. Trường hợp mất thanh khoản như CTCK SME hay Hà Thành cũng không khó hiểu khi mô hình kiểm soát CTCK còn quá lỏng lẻo, CTKT không dễ dàng rà soát những kẽ hở cho đến khi sự việc được phơi bày ra ánh sáng. Cho dù DN có nhiều chiêu trò để lách kiểm toán, trách nhiệm KTV phải là sự chắc chắn về tính minh bạch tài chính của DN và cam kết đạo đức nghề nghiệp ở mức cao nhất./.

(Theo TC Kế toán và kiểm toán)

Thursday, 16 August 2012

Lương tối thiểu dự kiến tăng 35%

Từ 1/1/2013, lương tối thiểu vùng tại mọi loại hình doanh nghiệp có thể tăng 700.000 đồng lên mức cao nhất 2,7 triệu đồng một tháng, theo đề xuất của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.

Lương tối thiểu hiện vẫn chưa đáp ứng đủ mức sống tối thiểu. Ảnh minh họa: Hoàng Hà
Lương tối thiểu hiện vẫn chưa đáp ứng đủ mức sống tối thiểu. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Trong dự thảo Nghị định về lương tối thiểu vùng công bố chiều 16/8, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề xuất 2 phương án điều chỉnh. Với phương án thứ nhất, mức tối thiểu quy định cho các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I là 2,7 triệu đồng, tăng 700.000 đồng so với hiện hành. Các doanh nghiệp hoạt động ở vùng II, III và IV lần lượt áp dụng mức 2,4 - 2,13 - 1,93 triệu đồng một tháng.

Ở phương án thứ hai, Bộ đề xuất mức cao nhất cho vùng một là 2,5 triệu đồng và thấp nhất là 1,8 triệu đồng cho vùng IV.

(Đồng/tháng)

Nghị định này nếu được thông qua sẽ áp dụng từ 1/1/2013, cho các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.

Lương tối thiểu vùng là mức sàn cho doanh nghiệp và người lao động căn cứ để thỏa thuận tiền lương. Dự thảo khuyến khích các doanh nghiệp trả lương cho người lao động cao hơn quy định. Đồng thời, dự thảo quy định tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề, kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề, phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng theo quy định.

Trên thực tế, lương tối thiểu vùng chỉ mang tính chất tham chiếu để các doanh nghiệp xây dựng bảng lương và làm căn cứ tính bảo hiểm cho người lao động. Và thu nhập thực lĩnh của lao động tại nhiều doanh nghiệp đều cao hơn so với mức tối thiểu này.

Bản thân mức lương tối thiểu cũng được cho là lạc hậu so với đời sống thực tế. Khảo sát năm 2011 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy, mức sống tối thiểu của người lao động từ vùng IV đến vùng I lần lượt là 2,47 - 2,66 - 2,86 và 3,04 triệu đồng mỗi tháng. Trong khi mức cao nhất áp dụng trước 1/10/2011 là 1,55 triệu đồng và sau mốc này cũng chỉ là 2 triệu đồng một tháng.

Trong một hội thảo tổ chức tháng 5, ông Đặng Quang Điều, Viện trưởng Viện Nghiên cứu công nhân công đoàn (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam) phải thốt lên 20 năm qua lương tối thiểu chưa bao giờ đạt đến mức sống tối thiểu.


(Theo Vnexpress)

Monday, 13 August 2012

KIỂM TOÁN CẦN “THEO” DỰ ÁN NGAY TỪ ĐẦU

Bà Hà Thị Thu Thanh
Bà Hà Thị Thu Thanh, Tổng Giám đốc Công ty Kiểm toán Deloitte Việt Nam chia sẻ với ĐTCK về những giải pháp phát huy vai trò của các chuyên gia tài chính trong tham gia giám sát việc sử dụng những nguồn lực khổng lồ đổ vào các dự án đầu tư công tại Việt Nam. Anh Việt thực hiện.

Là 1 trong 4 công ty kiểm toán và tư vấn hàng đầu – Big 4, lại có rất nhiều khách hàng là DNNN lớn, bà đánh giá thế nào về hiệu quả các dự án đầu tư công do DNNN đầu tư và vai trò của kiểm toán trong lĩnh vực này?

Với DNNN ở nước ta hiện nay, họ vừa đảm nhận chức năng đầu tư công, vừa có các hoạt động đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế như một DN kinh doanh bình thường. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả đầu tư công qua các kênh DNNN cần làm rõ, tách bạch được và đánh giá được 2 chức năng này của DNNN.

Tại nhiều dự án của DNNN luôn gặp phải 2 vấn đề: Tính tuân thủ quá trình lập dự toán và triển khai dự án, tổng vốn ít nhưng đầu tư dàn trải. Tổng vốn đầu tư thì chung chung, nhưng trong đó có nhiều dự án khác nhau, có dự án đầu tư công, có dự án đầu tư theo chức năng kinh doanh của DN, dẫn đến DN bị lẫn lộn nguồn vốn, trong khi mục tiêu sử dụng dự án khác nhau. Hiện nay, kiểm toán chỉ hậu kiểm. Khi dự án làm xong, hoàn thành rồi thì kiểm toán (bao gồm cả Kiểm toán Nhà nước và kiểm toán độc lập) mới thực hiện công việc kiểm toán – tập trung vào xem xét tính tuân thủ của dự án, bao gồm tuân thủ qui trình đấu thầu, qui trình đầu tư, chi tiêu có đúng đối tượng, đúng mục đích không…

Để nâng cao hiệu quả đầu tư công, dưới góc độ một nhà kiểm toán, tôi thấy chăng nên cần bổ nhiệm kiểm toán ngay khi dự án bắt đầu triển khai. Tùy theo qui mô của dự án, bộ/ngành chủ quản, chủ đầu tư cần lập một ủy ban giám sát về vấn đề lập dự toán của các dự án đó ngay từ giai đoạn khởi đầu và có một ủy ban đánh giá tầm quốc gia đối với các dự án, chương trình, mục tiêu quốc gia.

Đầu tư công được thực hiện qua DNNN rất nhiều. Tuy nhiên, nếu như chúng ta chỉ thực hiện ở khâu “hậu kiểm”, rõ ràng kết quả kiểm toán chỉ mang tính chấp nhận và rất khó để thực hiện các kiến nghị mà kiểm toán đưa ra?

DNNN đã thuộc diện bắt buộc thực hiện kiểm toán độc lập đối với các báo cáo tài chính (BCTC) từ nhiều năm nay. Nếu DNNN có thực hiện đầu tư các dự án loại A thì cũng bắt buộc kiểm toán. Ngoại trừ vốn đầu tư được cấp cho các công trình trọng điểm/chương trình mục tiêu quốc gia, DNNN cơ bản chỉ dùng vốn chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển của DN và vốn bảo lãnh của Chính phủ để đầu tư. Việt quyết toán từng công trình này được thực hiện riêng, nhưng nguồn vốn nhiều khi theo dõi chung, lẫn lộn trong nguồn vốn của DNNN. Khi thực hiện các dự án trong điểm, do Nhà nước chỉ định, thì DN được cấp vốn và quyết toán riêng theo dự án.

Riêng vốn công trình đầu tư trong DN dùng vốn ngân sách được cấp từ đầu (vỗn chủ sở hữu) thì nằm lẫn trong BCTC. Câu chuyện đặt ra là khó có thể tách bạch các dự án dùng vốn chung, nên khi kiểm toán đánh giá hiệu quả sẽ khó đưa ra số liệu tách bạch.

Gần đây, người ta cũng nghi nhờ đạo đức của kiểm toán viên trong nhiều vụ việc đổ bể ở các DN. Vai trò của kiểm toán ở đâu trong việc cảnh báo rủi ro cho nhà đầu tư và công chúng cũng như xã hội, thưa bà?

Những sai sót trong hệ thống kế toán, BCTC, kế toán nằm trong phạm vi công việc, soát xét của kiểm toán. Nhưng những gian lận thương mại trong quá trình kinh doanh được hợp thức hóa về thủ tục tài chính, thủ tục đầu tư thể hiện trên con số kế toán, bằng soát xét thông thường, các kiểm toán viên khó phát hiện được.

Công luận nhiều khi cứ nhìn gian lận trong BCTC, thua lỗ tiềm ẩn và cho rằng, kiểm toán cần có trách nhiệm. Điều này rất khó với kiểm toán viên. Họ thực hiện công việc kiểm toán bằng các kỹ thuật kiểm tra, soát xét trên hệ thông thông tin được khách hàng cung cấp, đó là hệ thống thông tin kế toán và các số liệu trình bày trên BCTC được lấy từ hệ thống kế toán. Hệ thống kinh doanh đằng sau nếu DN đưa vào gian lận mà những gian lận đó đã được hợp pháp hóa bằng các thủ tục, qui trình đầu tư, các thủ tục tài chính sẽ vượt tầm của kiểm toán độc lập. Bởi vậy mới có chuyển trách nhiệm lập BCTC là của DN, một khi có gian lận và DN cố tình giấu giếm thì kiểm toán viên rất khó can thiệp.

Với thời gian, tốc độ và số tiền đầu tư công giải ngân ước tính hơn 20.000 tỷ đồng/tháng từ nay đến cuối năm, theo bà phải làm thế nào để sau khi dự án kết thúc, việc kiểm toán không mang ý nghĩa hợp thức hóa những vấn đề đã rồi trong quá trình đầu tư?

Gốc của vấn đề các dự án đầu tư công là cơ chế điều hành theo ngân sách cứng, nhưng bản thân ngân sách của Việt Nam lại linh hoạt theo kiểu “ngân sách mềm”. Đầu năm, các dự án cầm chừng hoặc vay vốn để làm, cuối năm giải ngân ồ ạt.

Làm như thế, nhìn thấy ngay rằng, công trình bị đội chi phí do lãi vay… Nhiều dự án không có khả năng giải ngân, vay vốn, nhưng cuối năm lại ồ ạt giải ngân, nên chi tiêu không đúng mục đích, hoặc tạm dùng vốn sai mục đích, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Nói khác đi thì gốc của nó là đầu tư dàn trải. Kiểm toán vào cũng chỉ có thể bóc ra, đề nghị xem xét lại mà thôi.

Do vậy, kiểm toán nên được tham gia ngay từ quá trình lập dự toán và trong quá tình triển khai dự án, để xem việc tuân thủ chi tiêu đúng đối tượng, đúng công trình không. Đây là thông lệ mà các quốc gia phát triển đều thực hiện. Làm như vậy, sẽ tránh được tình trạng như hiện nay, chi sai rồi, kiểm toán có chỉ ra cũng đã muộn.

Theo ĐTCK-VACPA

Sunday, 12 August 2012

10 dấu hiệu doanh nghiệp "làm xiếc" với báo cáo tài chính

Theo các chuyên gia tài chính, cũng như kinh nghiệm mà thị trường đã trải qua, nhà đầu tư cần cảnh giác với những số liệu có dấu hiệu bất thường.
10 dấu hiệu dưới đây rất có thể cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng thủ thuật kế toán để thổi phồng lợi nhuận trong báo cáo tài chính (BCTC).

1.Lợi nhuận đánh bại thị trường. Nếu một doanh nghiệp bình thường hoạt động ở lĩnh vực có lợi suất thấp, mà duy trì được lợi nhuận khả quan, thậm chí vượt trội trong môi trường kinh doanh khó khăn, thì các con số ấn tượng cần được đem ra mổ xẻ.

2.Lợi nhuận ấn tượng nhưng không được đối thủ cùng ngành vị nể. Đây là trường hợp của Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông (mã DVD). Khi cổ phiếu này mới lên niêm yết, ít nhất 3 công ty chứng khoán (CTCK) lớn có báo cáo đánh giá hoạt động của DVD rất khả quan. Dựa trên thông tin DVD công bố, các công ty chứng khoán này tính toán EPS dự phóng của cổ phiếu DVD cao nhất nhì trong ngành.

Khi cổ phiếu DVD nhận được nhiều lời tán dương từ các chuyên viên phân tích, thì không ít doanh nghiệp cùng ngành dược lại không mấy xem trọng hoạt động kinh doanh của DVD. Thực tế cho thấy, DVD đã sụp đổ.

3. Lợi nhuận nhảy vọt so với cùng kỳ. Hai năm trước khi niêm yết, DVD chỉ đạt lợi nhuận lần lượt 18,5 tỷ đồng và 25,5 tỷ đồng, nhưng vào năm 2009, khi vừa niêm yết, lợi nhuận bất ngờ đạt 109 tỷ đồng. Đáng chú ý, lợi nhuận của DVD xuất phát từ hoạt động sản xuất - kinh doanh chính, chứ không phải từ các thu nhập bất thường như thanh lý tài sản, chuyển nhượng vốn. “Hiện tượng” DVD sau này được giải mã bằng hình thức ghi nhận “doanh thu ảo”.

4.Lợi nhuận ấn tượng công bố trước các đợt phát hành tham vọng. Trong quý III/2010, mặc dù thị trường chứng khoán suy giảm, đa phần CTCK thua lỗ, nhưng CTCK VNDirect (mã VND) công bố lãi 53 tỷ đồng. Thế nhưng, vào quý IV/2010, khi TTCK phục hồi, đa phần CTCK có lãi, thì VND lại công bố lỗ 117 tỷ đồng.

Lãnh đạo VND giải thích, thua lỗ có nguyên nhân khách quan là thị trường biến động, nhưng giới phân tích nhìn nhận, con số lợi nhuận khả quan trước đó của VND có thể được công bố để hỗ trợ cho đợt phát hành tăng vốn từ 500 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010.

5. Lợi nhuận được tạo ra từ các giao dịch đáng ngờ. Tháng 7/2010, một doanh nghiệp ngành khí đốt đã triệu tập Đại hội cổ đông (ĐHCĐ) bất thường điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận tăng 2,5 lần so với con số được thông qua vài tháng trước đó tại ĐHCĐ thường niên. Khoản lợi nhuận tăng thêm này được tạo ra từ kinh doanh bất động sản, nhằm phục vụ cho mục đích tăng vốn.

Thực chất, khoản lợi nhuận này được tạo ra bằng một giao dịch chuyển nhượng khá đáng ngờ trong liên minh 3 bên đều liên quan đến chủ tịch Hội đồng quản trị.

6.Các con số lợi nhuận thay đổi chóng mặt. Vào đầu quý II năm nay, Công ty cổ phần Tập đoàn Dabaco (mã DBC) gây chú ý khi ĐHCĐ vừa thông qua kế hoạch lợi nhuận 167 tỷ đồng năm 2012, thì hai ngày sau đó, Công ty công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2012 với 204 tỷ đồng lợi nhuận, gấp 4 lần con số lãnh đạo DBC công bố tại ĐHCĐ. Giải thích với báo giới và giải trình với cơ quan quản lý thị trường, ý kiến của lãnh đạo DBC tỏ ra không thống nhất về cách ghi nhận lợi nhuận từ việc chuyển nhượng dự án bất động sản.

7. Lợi nhuận gắn với các đợt thanh lý tài sản khả nghi. Các đợt thanh lý tài sản lớn có thể là biện pháp cứu vãn kết quả kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp. Đặc biệt, nếu việc thanh lý diễn ra sát thời điểm kết thúc chu kỳ kế toán, thì gần như chắc chắn là doanh nghiệp có ý đồ.

Ví dụ, năm 2010, Công ty cổ phần Nước giải khát Sài Gòn (Tribeco, mã TRI) chuyển nhượng cổ phần tại Tribeco Bình Dương cho một cổ đông lớn là Uni- President vào đúng ngày 30/6. Động thái này giúp Tribeco lãi 44 tỷ đồng trong quý II/2010 và khiến cổ phiếu tăng giá mạnh. Tuy nhiên, đây là quý lãi duy nhất của Tribeco trong 13 quý liên tiếp.

8. Lợi nhuận cao đột biến rơi vào quý I và quý III. BCTC quý I và quý III không yêu cầu phải soát xét, nên các tiểu xảo kế toán nhiều khả năng được doanh nghiệp đem ra áp dụng nhiều nhất.

9.Thay đổi kế toán trưởng liên tục. Chưa kể những lần thay đổi người đại diện pháp luật và tổng giám đốc, trước khi kết thúc năm tài chính 2011, Công ty cổ phần Nhựa Tân Hóa (mã VKP) liên tục thay kế toán trưởng. Hai vị trí tổng giám đốc và kế toán trưởng có vai trò quan trọng đối với chất lượng BCTC của doanh nghiệp. Sự thay đổi đột ngột cả hai vị trí này trước thời điểm năm tài chính kết thúc có thể là một dấu hiệu không tốt, báo hiệu BCTC có thể bị can thiệp.

10. Doanh nghiệp có thể thay đổi lợi nhuận bằng cách thay đổi chính sách bán hàng, cho phép người mua trả chậm để tăng doanh thu. Một kỹ thuật khác là thay đổi các ước kế toán ghi nhận giá trị các hợp đồng tương lai về thời điểm hiện tại.
Theo ĐTCK

Popular Posts