Showing posts with label Chứng khoán. Show all posts
Showing posts with label Chứng khoán. Show all posts

Thursday, 18 October 2012

Bán khống: Cần định nghĩa rõ ràng hơn

Bán khống hiện là hoạt động vi phạm pháp luật, nhưng để ngăn chặn hiện tượng này, việc đầu tiên mà Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần làm là làm rõ khái niệm bán khống và tạo sự đồng thuận trên toàn thị trường về khái niệm bán khống.
Hoàng Anh
T
rước hiện tượng CTCK TP. HCM (HSC) bị xử phạt về tội để cho nhân viên thực hiện hành vi bán khống, có một luồng dư luận đặt câu hỏi rằng, nhà đầu tư có nhu cầu vay mượn chứng khoán để bán là bán khống có hợp lý hay không?
Tổng giám đốc một CTCK tại Hà Nội cho biết, ngày 12/10 vừa qua, Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán (VASB) đã có buổi làm việc với các CTCK thành viên để thống nhất một số nội dung kiến nghị UBCK trong đó có nội dung dung "bán khống". VASB và các thành viên trên thị trường cho rằng, trước hết, khái niệm bán khống hiểu chính xác phải là bán những thứ không có, hoặc biến không thành có. Hành vi này chính là tác nhân gây bất ổn và ảnh hưởng xấu đến thị trường, cơ quan quản lý cần phối hợp với cơ quan pháp luật để phát hiện sai phạm, để có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động "mượn" chứng khoán của nhau để mua bán trên thị trường, theo một số CTCK, lâu nay vẫn được hiểu là bán "khống" là chưa chuẩn xác. Những người theo quan điểm này cho rằng, chứng khoán cũng là tài sản. Khi nhà đầu tư mua chứng khoán, họ có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt chứng khoán đó. Trong trường hợp họ và một đối tác có thỏa thuận dân sự về việc vay mượn chứng khoán để giao dịch khiến lệnh bán vẫn được thực hiện từ chủ tài khoản có đủ cổ phiếu để bán thì về lý, rất khó để quy người bán vào tội bán "khống".
Lãnh đạo nhiều CTCK cho rằng, cơ quan quản lý cần nghiên cứu xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động cho vay chứng khoán để nhà đầu tư có cơ sở áp dụng, bởi xét ở khía cạnh thị trường, đây là nhu cầu có thật của nhà đầu tư và hai bên đã có sự thống nhất, quyền lợi giữa họ được thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
UBCK đã có văn bản cấm hoạt động bán khống. VASB cũng có công văn đề nghị ngăn chặn việc bán khống chứng khoán, nhưng đâu đó, hoạt động này vẫn âm thầm tái diễn. Trường hợp hai nhân viên môi giới của HSC bị xử phạt vì tội đã cho khách hàng mượn chứng khoán trên tài khoản của khách hàng để bán chỉ là hiện tượng "xử điểm". Theo nhiều nhà đầu tư, rất nhiều CTCK có "kho hàng" để phục vụ họ khi có nhu cầu, thậm chí đây được coi là một trong những "chiêu" để CTCK câu khách, giữ khách. Tuy nhiên, cung cấp dịch vụ này, ranh giới giữa đúng luật và sai luật là quá mong manh.
Nhiều ý kiến cho rằng, trong lúc thị trường nhiều biến động như hiện nay, người hành nghề cần đề cao đạo đức nghề nghiệp, đối với những trường hợp nhân viên môi giới lạm dụng tài khoản nhà đầu tư để phục vụ vào mục đích của cá nhân hay CTCK thì phải được xử lý thật nặng, thậm chí cần truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đối với hành vi kết nối nhu cầu vay mượn chứng khoán, tiền giữa các nhà đầu tư khi họ có nhu cầu, các thành viên thị trường đang rất cần một quy định rõ ràng về ranh giới pháp lý được làm và không được làm từ nhà quản lý.
Về cuộc họp với các thành viên, VASB cho biết, cuộc họp này chỉ trong khuôn khổ các thành viên của Hiệp hội để nghe ý kiến các CTCK và thống nhất về quan điểm trước khi trình UBCK. VASB vẫn giữ quan điểm nói KHÔNG với bán khống, nhưng phải hiểu đúng bản chất của bán khống, trên cơ sở tôn trọng các nhu cầu thực tế từ thị trường.

(Theo TTCK)

Sunday, 12 August 2012

10 dấu hiệu doanh nghiệp "làm xiếc" với báo cáo tài chính

Theo các chuyên gia tài chính, cũng như kinh nghiệm mà thị trường đã trải qua, nhà đầu tư cần cảnh giác với những số liệu có dấu hiệu bất thường.
10 dấu hiệu dưới đây rất có thể cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng thủ thuật kế toán để thổi phồng lợi nhuận trong báo cáo tài chính (BCTC).

1.Lợi nhuận đánh bại thị trường. Nếu một doanh nghiệp bình thường hoạt động ở lĩnh vực có lợi suất thấp, mà duy trì được lợi nhuận khả quan, thậm chí vượt trội trong môi trường kinh doanh khó khăn, thì các con số ấn tượng cần được đem ra mổ xẻ.

2.Lợi nhuận ấn tượng nhưng không được đối thủ cùng ngành vị nể. Đây là trường hợp của Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông (mã DVD). Khi cổ phiếu này mới lên niêm yết, ít nhất 3 công ty chứng khoán (CTCK) lớn có báo cáo đánh giá hoạt động của DVD rất khả quan. Dựa trên thông tin DVD công bố, các công ty chứng khoán này tính toán EPS dự phóng của cổ phiếu DVD cao nhất nhì trong ngành.

Khi cổ phiếu DVD nhận được nhiều lời tán dương từ các chuyên viên phân tích, thì không ít doanh nghiệp cùng ngành dược lại không mấy xem trọng hoạt động kinh doanh của DVD. Thực tế cho thấy, DVD đã sụp đổ.

3. Lợi nhuận nhảy vọt so với cùng kỳ. Hai năm trước khi niêm yết, DVD chỉ đạt lợi nhuận lần lượt 18,5 tỷ đồng và 25,5 tỷ đồng, nhưng vào năm 2009, khi vừa niêm yết, lợi nhuận bất ngờ đạt 109 tỷ đồng. Đáng chú ý, lợi nhuận của DVD xuất phát từ hoạt động sản xuất - kinh doanh chính, chứ không phải từ các thu nhập bất thường như thanh lý tài sản, chuyển nhượng vốn. “Hiện tượng” DVD sau này được giải mã bằng hình thức ghi nhận “doanh thu ảo”.

4.Lợi nhuận ấn tượng công bố trước các đợt phát hành tham vọng. Trong quý III/2010, mặc dù thị trường chứng khoán suy giảm, đa phần CTCK thua lỗ, nhưng CTCK VNDirect (mã VND) công bố lãi 53 tỷ đồng. Thế nhưng, vào quý IV/2010, khi TTCK phục hồi, đa phần CTCK có lãi, thì VND lại công bố lỗ 117 tỷ đồng.

Lãnh đạo VND giải thích, thua lỗ có nguyên nhân khách quan là thị trường biến động, nhưng giới phân tích nhìn nhận, con số lợi nhuận khả quan trước đó của VND có thể được công bố để hỗ trợ cho đợt phát hành tăng vốn từ 500 tỷ đồng lên 1.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010.

5. Lợi nhuận được tạo ra từ các giao dịch đáng ngờ. Tháng 7/2010, một doanh nghiệp ngành khí đốt đã triệu tập Đại hội cổ đông (ĐHCĐ) bất thường điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận tăng 2,5 lần so với con số được thông qua vài tháng trước đó tại ĐHCĐ thường niên. Khoản lợi nhuận tăng thêm này được tạo ra từ kinh doanh bất động sản, nhằm phục vụ cho mục đích tăng vốn.

Thực chất, khoản lợi nhuận này được tạo ra bằng một giao dịch chuyển nhượng khá đáng ngờ trong liên minh 3 bên đều liên quan đến chủ tịch Hội đồng quản trị.

6.Các con số lợi nhuận thay đổi chóng mặt. Vào đầu quý II năm nay, Công ty cổ phần Tập đoàn Dabaco (mã DBC) gây chú ý khi ĐHCĐ vừa thông qua kế hoạch lợi nhuận 167 tỷ đồng năm 2012, thì hai ngày sau đó, Công ty công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2012 với 204 tỷ đồng lợi nhuận, gấp 4 lần con số lãnh đạo DBC công bố tại ĐHCĐ. Giải thích với báo giới và giải trình với cơ quan quản lý thị trường, ý kiến của lãnh đạo DBC tỏ ra không thống nhất về cách ghi nhận lợi nhuận từ việc chuyển nhượng dự án bất động sản.

7. Lợi nhuận gắn với các đợt thanh lý tài sản khả nghi. Các đợt thanh lý tài sản lớn có thể là biện pháp cứu vãn kết quả kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp. Đặc biệt, nếu việc thanh lý diễn ra sát thời điểm kết thúc chu kỳ kế toán, thì gần như chắc chắn là doanh nghiệp có ý đồ.

Ví dụ, năm 2010, Công ty cổ phần Nước giải khát Sài Gòn (Tribeco, mã TRI) chuyển nhượng cổ phần tại Tribeco Bình Dương cho một cổ đông lớn là Uni- President vào đúng ngày 30/6. Động thái này giúp Tribeco lãi 44 tỷ đồng trong quý II/2010 và khiến cổ phiếu tăng giá mạnh. Tuy nhiên, đây là quý lãi duy nhất của Tribeco trong 13 quý liên tiếp.

8. Lợi nhuận cao đột biến rơi vào quý I và quý III. BCTC quý I và quý III không yêu cầu phải soát xét, nên các tiểu xảo kế toán nhiều khả năng được doanh nghiệp đem ra áp dụng nhiều nhất.

9.Thay đổi kế toán trưởng liên tục. Chưa kể những lần thay đổi người đại diện pháp luật và tổng giám đốc, trước khi kết thúc năm tài chính 2011, Công ty cổ phần Nhựa Tân Hóa (mã VKP) liên tục thay kế toán trưởng. Hai vị trí tổng giám đốc và kế toán trưởng có vai trò quan trọng đối với chất lượng BCTC của doanh nghiệp. Sự thay đổi đột ngột cả hai vị trí này trước thời điểm năm tài chính kết thúc có thể là một dấu hiệu không tốt, báo hiệu BCTC có thể bị can thiệp.

10. Doanh nghiệp có thể thay đổi lợi nhuận bằng cách thay đổi chính sách bán hàng, cho phép người mua trả chậm để tăng doanh thu. Một kỹ thuật khác là thay đổi các ước kế toán ghi nhận giá trị các hợp đồng tương lai về thời điểm hiện tại.
Theo ĐTCK

Monday, 16 April 2012

Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Ngày 05/04/2012, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 52/2012/TT-BTC hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.


Thông tư số 52/2012/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/06/2012 và thay thế Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 của Bộ Tài chính về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Những quy định về công bố thông tin tại các văn bản khác do Bộ Tài chính ban hành trái với quy định tại Thông tư này sẽ bị hủy bỏ và áp dụng theo quy định của Thông tư này.


Toàn văn Thông tư số 52/2012/TT-BTC trong văn bản đính kèm.

Thursday, 12 April 2012

TỪ 1/6 TỔ CHỨC NIÊM YẾT SẼ ÁP DỤNG QUY CHUẨN MỚI VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4/2012 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Văn bản này bổ sung một số nghĩa vụ công bố thông tin của các thành viên thị trường, đồng thời quy định, các chủ thể khi công bố thông tin phải thực hiện đồng thời với việc báo các Ủy ban Chứng khoán về các nội dung thông tin công bố.

Đối với tổ chức niêm yết, Thông tư 52 bỏ quy định doanh nghiệp niêm yết phải giải trình khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu hướng chung của thị trường như hiện nay. Theo đó, chỉ những doanh nghiệp có vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 người, tính tại thời điểm chốt danh sách cổ đông tại Trung tâm lưu ký chứng khoán vào ngày 31/12 hàng năm mới phải công bố thông tin bất thường khi giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ 10 phiên liên tiếp. Ngoài ra, Thông tư mới cũng bổ sung chức danh giám đốc tài chính, Trưởng phòng tài chính kế toán vào danh sách thay đổi nhân sự chủ chốt phải công bố, bên cạnh các chức danh như thành viên HĐQT, BKS, Ban TGĐ/GĐ, kế toán trưởng. Thông tư mới yêu cầu doanh nghiệp phải công bố thông tin bất thường khi có quyết định khởi tố, bản án, quyết định của tòa án. Đối với báo cáo kiểm toán có ý kiến ngoại trừ, ý kiến không chấp thuận nhận hoặc ý kiến từ chối của tổ chức kiểm toán đối với BCTC; công bố công ty kiểm toán đã ký hợp đồng kiểm toán BCTC năm; thay đổi công ty kiểm toán (sau khi đã ký hợp đồng) hoặc việc từ chối kiểm toán BCTC của công ty kiểm toán; kết quả điều chỉnh hồi tố BCTC (nếu có) phải công bố trong vòng 24 giờ.

Thông tư 52 cũng quy định chặt chẽ hơn nghĩa vụ công bố thông tin đối với các CTCK và công ty quản lý quỹ. Văn bản này có hiệu lực kể từ 1/6/2012 và thay thế Thông tư 09/2010/TT-BTC hướng dẫn công bố thông tin hiện hành.

Bạn đọc xem thông tư 52/2012/TT-BTC tại đây!

(Theo ĐTCK)

Thursday, 5 April 2012

Vietnam Airlines lên kế hoạch cổ phần hóa năm 2013

Theo đề án được VNA báo cáo với Bộ GTVT ngày 4-4, tổng công ty lên kế hoạch hoàn thành cổ phần hóa công ty mẹ vào năm 2013 và bán 20- 30% vốn nhà nước.

Tổng công ty Hàng không Vietnam Airlines (VNA) đã báo cáo Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) đề án tái cơ cấu bao gồm có mục tiêu cổ phần hóa công ty mẹ vào năm 2013 và các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của tổng công ty.

Theo đề án được VNA báo cáo với Bộ GTVT ngày 4-4, tổng công ty lên kế hoạch hoàn thành cổ phần hóa công ty mẹ vào năm 2013 và bán 20- 30% vốn nhà nước.

Vào năm 2008, Chính phủ đã chấp thuận cho VNA chào bán 20- 30% cổ phần qua đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO), trong đó cổ phần cũng sẽ được bán cho các cổ đông chiến lược nước ngoài.

Trước đây, VNA dự kiến thực hiện kế hoạch IPO trong năm 2012 nhưng đã phải tạm hoãn đến năm 2013 và một trong những lý do được VNA nêu ra là thị trường chưa được thuận lợi cho IPO. VNA ước tính số vốn thu về từ IPO này là 200 triệu đô la Mỹ.

Trong đề án được VNA báo cáo với Bộ GTVT, sau tái cơ cấu Tổng công ty Hàng không Việt Nan sẽ có 15 công ty con và 12 công ty liên kết (so với 18 công ty con và 14 công ty liên kết hiện nay); trong đó gồm các hãng hàng không quốc gia, Công ty Bay dịch vụ hàng không (Vasco), Jetstar Pacific – là hãng hàng không mà VNA đang đại diện nắm 69,93% vốn nhà nước, công ty liên kết là hãng hàng không Cambodia Angkor Air.

Tổng công ty dự kiến vốn chủ sở hữu là khoảng 14.400 tỉ đồng vào năm 2013 và sẽ là 21.300 tỉ đồng vào năm 2015. VNA cũng sẽ điều chỉnh kế hoạch phát triển đội bay và cân nhắc đưa vào khai thác loại máy bay thương mại lớn nhất hiện nay là Airbus A380.

Mục tiêu của VNA là đến năm 2015 sẽ có 112 máy bay và năm 2020 sẽ có 171 máy bay. Trong kế hoạch trước đây, VNA dự kiến sẽ có 115 máy bay vào năm 2015 và 170 máy bay từ khoảng 75 máy bay hiện tại vào năm 2020.

Theo kế hoạch, VNA sẽ thoái vốn góp đầu tư tại 9 doanh nghiệp ngoài ngành, không hiệu quả để thu hồi về số tiền khoảng 530 tỉ đồng; giữ cổ phần chi phối tại 9 doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ và an toàn hàng không, giữ vốn 36- 51% tại 11 doanh nghiệp cung ứng sản phẩm truyền thống.

Theo Bình Nguyên

TBKTSG

Wednesday, 4 January 2012

Top phụ nữ giàu nhất trên TTCK: Những gương mặt bí ẩn

Hơn một nửa trong top 10 phự nữ giàu nhất trên TTCK là những người con người “bí ẩn” đối với phần lớn mọi người.
Số ít những nữ doanh nhân được nhiều người biết đến
Trong khi ông Phạm Nhật Vượng có 2 năm liên tiếp dẫn đầu top những người giàu nhất trên TTCK Việt Nam thì vợ ông Vượng cũng có năm thứ 2 liên tiếp là người phụ nữ giàu nhất.

Bà Phạm Thu Hương sở hữu hơn 29 triệu cổ phiếu VIC, tương đương gần 2.900 tỷ đồng, tăng hơn 500 tỷ đồng so với năm 2010. Bà Hương (sinh năm 1969) mới được bầu lại vào Hội đồng quản trị của Vincom và hiện giữ chức Phó Chủ tịch.

Em gái bà Hương là bà Phạm Thúy Hằng (sinh năm 1974), đứng ở vị trí thứ 3 với hơn 1.900 tỷ đồng. Bà Hằng là thành viên HĐQT Vincom từ khi công ty này lên sàn.

Dù đứng thứ hạng cao trong top những người giàu, tham gia ban lãnh đạo Vincom nhưng cả bà Hương và bà Hằng đều khá “bí ẩn”. Những thông tin về 2 người này hầu như chỉ đến từ bản cáo bạch của Vincom.

“Bí ẩn” có lẽ là đặc điểm chung đối với phần lớn những người đứng trong top 50 phụ nữ giàu nhất trên TTCK, do phần lớn họ là vợ của những ông chủ doanh nghiệp, không tham gia kinh doanh; hoặc có tham gia kinh doanh thì cũng rất ít xuất hiện.

Trong số 10 người giàu nhất chỉ có 2 người là người đứng đầu doanh nghiệp: đó là bà Nguyễn Thị Như Loan – Chủ tịch Quốc Cường Gia Lai (QCG) và bà Trương Thị Lệ Khanh – Chủ tịch Vĩnh Hoàn (VHC).

Một số nữ doanh nhân nổi tiếng khác trong top những người giàu là Bà Đặng Thị Hoàn Yến (#17), bà Cao Thị Ngọc Dung (PNJ), bà Mai Kiều Liên (#25)…

Bà Mai Kiều Liên – Chủ tịch kiêm TGĐ Vinamilk – là một trong số ít những người “làm công ăn lương” nắm giữ lượng cổ phiếu có giá trị lớn.

Tuesday, 3 January 2012

Top 30 gia đình giàu nhất trên thị trường chứng khoán

Theo bảng xếp hạng người giàu năm 2011, có 11 cá nhân nắm giữ khối tài sản có trị giá hơn 1.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính theo gia đình thì chỉ có 9 gia đình có tổng tài sản trên 1.000 tỷ đồng.

Danh sách chi tiết 30 gia đình giàu nhất sàn chứng khoán năm 2011

Song song với việc công bố top 200 người giàu nhất trên TTCK, CafeF/CafeBiz cũng công bố top 30 gia đình giàu nhất trên TTCK. Danh sách này được xây dựng dựa trên tổng tài sản của những cá nhân giàu nhất trên TTCK và những người có liên quan.

Với việc có 3 người đứng trong top 5 người giàu nhất trên TTCK Việt Nam năm 2011, gia đình ông Phạm Nhật Vượng cũng chính là gia đình giàu nhất trên thị trường chứng khoán. Tổng lượng cp VIC của 3 người này cùng các thành viên khác đạt gần 21.800 tỷ đồng (xấp xỉ 1 tỷ USD).

Trong đó, ông Phạm Nhật Vượng – người giàu nhất thị trường chứng khoán trong 2 năm 2010 và 2011 – có khối tài sản 16.764 tỷ đồng.

Bà Phạm Thu Hương – vợ ông Vượng – đứng vị trí thứ 3 và đồng thời cũng là người phụ nữ giàu nhất trên TTCK với 2.891 tỷ đồng. Em bà Hương là bà Phạm Thúy Hằng đứng vị trí thứ 5 với 1.919 tỷ đồng.

Cả ba người trên đều là thành viên HĐQT của CTCP Vincom

Đứng vị trí thứ 2 là gia đình ông Đoàn Nguyên Đức (bầu Đức) với 4.437 tỷ đồng, bao gồm lượng cổ phiếu do ông Đoàn Nguyên Đức và em trai là ông Đoàn Nguyên Thu nắm giữ.

Bầu Đức trong năm vừa qua vẫn là người giàu thứ 2 trên TTCK dù đã mất đi gần 2/3 giá trị tài sản (mất gần 7.500 tỷ đồng) do sự giảm giá mạnh của cổ phiếu HAG.

Đứng vị trí thứ 3 là gia đình ông Đặng Thành Tâm-bà Đặng Thị Hoàng Yến, đạt gần 2.700 tỷ đồng.

Dù không phải là gia đình giàu nhất nhưng gia đình này có khá nhiều điểm đặc biệt: như cả 2 chị em bà Đặng Thị Hoàng Yến – Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo - và ông Đặng Thành Tâm – Chủ tịch Saigon Invest - đều là đại biểu quốc hội khóa XIII.

Gia đình này cũng là cổ đông chính của 5 công ty đang niêm yết gồm: Tân Tạo (ITA), Ngân hàng Nam Việt (NVB), Kinh Bắc City (KBC), Khoáng sản Sài Gòn –Quy Nhơn (SQC) và Saigontel (SGT).
10 gia đình giàu nhất trên TTCK năm 2011

Đứng thứ 4 là gia đình ông Nguyễn Đăng Quang-bà Nguyễn Hoàng Yến (Masan Group) với 1.971 tỷ đồng.

Nguyễn Đăng Quang – Chủ tịch Masan Group – chỉ trực tiếp sở hữu 10 cổ phiếu MSN nên hầu như con số 1.971 tỷ đồng kia là lượng cổ phiếu mà vợ ông Quang là bà Nguyễn Hoàng Yến nắm giữ. Bà Yến là người giàu thứ 4 và là phụ nữ giàu thứ 2 trên TTCK.

Các lãnh đạo của ngân hàng ACB đóng 2 vị trí trong top 10 gia đình giàu nhất đó là gia đình ông Nguyễn Đức Kiên (bầu Kiên) ở vị trí thứ 5 với 1.971 tỷ đồng và gia đình ông Trần Mộng Hùng ở vị trí thứ 9 với 1.154 tỷ đồng.

Ông Hùng và ông Kiên hiện là Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập của ACB.

Gia đình ông Đặng Văn Thành ở vị trí thứ 8 với 1.269 tỷ đồng.

Gia đình ông Đặng Văn Thành là một gia đình doanh nhân thành đạt trong các lĩnh vực Ngân hàng, Bất động sản và Mía đường.

Ông Thành là Chủ tịch của Ngân hàng Sacombank (STB), con trai ông Thành là ông Đặng Hồng Anh là Thành viên HĐQT của Sacombank và Chủ tịch Sacomreal (SCR).

Vợ ông Thành là bà Huỳnh Bích Ngọc được mệnh danh là “nữ hoàng ngành mía đường”. Thông qua công ty Thành Thành Công, bà Ngọc trực tiếp hoặc gián tiếp lãnh đạo rất nhiều công ty lớn trong ngành mía đường như Bourbon Tây Ninh (SBT), Đường Biên Hòa (BHS), Đường Ninh Hòa (NHS)…

Monday, 26 December 2011

Ông Phạm Nhật Vượng tiếp tục là người giàu nhất trên TTCK năm 2011

Giá trị cổ phiếu ông Vượng nắm giữ có trị giá hơn 17.000 tỷ đồng - gần bằng giá trị của 5 người tiếp theo cộng lại.

Dù năm 2011 chưa kết thúc nhưng có thể khẳng định ông Phạm Nhật Vượng – Chủ tịch Vincom – có năm thứ 2 liên tiếp dẫn đầu top những người giàu nhất trên thị trường chứng khoán.

Kết thúc ngày 23/12, cổ phiếu VPL của CTCP Vinpearl đã ngừng giao dịch để chuẩn bị hoán đổi thành cổ phiếu VIC (1 VPL đổi 0,77 VIC).

Sau khi hoán đổi, ông Vượng sẽ nắm giữ hơn 168 triệu cổ phiếu VIC, tính theo giá ngày 23/12 thì lượng cổ phiếu này trị giá hơn 17.000 tỷ đồng. So với 31/12/2010 thì khối tài sản của ông Vượng tăng thêm 1.240 tỷ đồng.

Đứng thứ 2 là ông Đặng Thành Tâm (hơn 6.500 tỷ đồng) và ông Đoàn Nguyên Đức (4.260 tỷ đồng).

So với cuối năm 2010, tài sản của bầu Đức đã “bốc hơi” hơn 7.500 tỷ đồng và là người bị hao hụt tài sản nhiều nhất trong năm qua.

Top 5 người giàu nhất trên thị trường chứng khoán hiện cũng là những người có khối tài sản trên 2.100 tỷ đồng (tương đương trên 100 triệu USD). Dù đã có lúc đạt được nhưng khi kết thúc năm, Việt Nam vẫn chưa có tỷ phú đô la.
6 người giàu nhất TTCK Việt Nam tính tới ngày 23/12
(Số cổ phiếu VPL mà các doanh nhân nắm giữ
đã được quy đổi thành VIC theo tỷ lệ hoán đổi)

Nếu như 3 vị trị dẫn đầu là nam giới thì 3 vị trí tiếp theo đều là nữ giới gồm bà Phạm Thu Hương với 2.934 tỷ đồng, bà Phạm Thúy Hằng với 2.116 tỷ đồng và bà Nguyễn Hoàng Yến với 1.949 tỷ đồng.

Bà Phạm Thu Hương -vợ ông Phạm Nhật Vượng- tiếp tục là người phụ nữ giàu nhất trên thị trường chứng khoán. Cả bà Hương và em gái là bà bà Phạm Thúy Hằng đều là thành viên HĐQT của Vincom.

Một điểm đáng chú ý là tổng tải sản của 5 người từ vị trí thứ 2 đến thứ 6 đạt gần 17.800 tỷ đồng – tức chỉ cao hơn chưa đến 5% so với tài sản của riêng ông Phạm Nhật Vượng.
Danh sách chính thức sẽ được CafeF/CafeBiz công bố khi kết thúc phiên giao dịch ngày 30/12.
KAL

Theo TTVN

Saturday, 17 December 2011

Nhiều DN niêm yết ít “để mắt” tới quản trị rủi ro

Xem hình

Trao đổi với ĐTCK, ông Phan Đằng Chương, Phó tổng giám đốc Dịch vụ tư vấn Ernst&Young Việt Nam cho rằng, DN niêm yết cần tăng cường công tác quản trị rủi ro (QTRR), để giảm thiểu công sức, chi phí khắc phục rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

Được biết, Ernst&Young Việt Nam có kế hoạch phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) tiến hành khảo sát ý kiến của các DN niêm yết để đo lường mức độ quan tâm của họ về QTRR. Chi tiết kế hoạch này như thế nào, thưa ông?

Hàng năm, Ernst&Young toàn cầu đều tiến hành khảo sát và tham khảo ý kiến các DN tại nhiều quốc gia để đưa ra những đánh giá tổng thể về thực trạng nhận thức, cũng như áp dụng QTRR tại DN. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát tương tự chưa được tiến hành với các DN niêm yết tại Việt Nam. Bởi vậy, để có đánh giá xác thực về mức độ quan tâm và thực tiễn áp dụng QTRR tại khối DN niêm yết, trong kế hoạch hợp tác giữa Ernst&Young Việt Nam và UBCK, sắp tới sẽ tiến hành cuộc khảo sát này và kết quả sẽ cung cấp thông tin xác thực để hoàn chỉnh cuốn Cẩm nang QTRR tại DN mà hai bên đang khẩn trương hoàn chỉnh. Qua khảo sát thực tiễn sơ bộ, chúng tôi nhận thấy DN niêm yết chưa thực sự quan tâm đến QTRR. Điều này thể hiện ít nhất trên 3 khía cạnh: tỷ lệ vốn vay trên vốn tự có quá lớn, đầu tư dàn trải và chưa quan tâm áp dụng chuẩn mực giám sát giao dịch của các bên liên quan.

Trên cơ sở dẫn chứng về số DN có tỷ lệ vay vốn quá cao, ông có thể phân tích những rủi ro mà các DN này gặp phải, nhất là trong bối cảnh TTCK và môi trường kinh doanh còn nhiều khó khăn?

Thống kê mới nhất cho thấy, một số DN niêm yết hiện có số vốn vay cao gấp 10 lần vốn tự có, nhưng hiệu quả sử dụng vốn không như mong đợi. Một trong những lý do khiến DN có tỷ lệ vốn vay lớn là quá nóng vội đa dạng hoá hoạt động đầu tư, kinh doanh. Hệ quả là tại một số DN niêm yết, NĐT không nhận diện được đâu là lĩnh vực kinh doanh cốt lõi. Nhiều DN đầu tư dàn trải, ngoài hoạt động chính còn đầu tư sang cả lĩnh vực bất động sản, ngân hàng, chứng khoán…, mà chưa đánh giá được hậu quả của việc hạn chế về năng lực QTRR cũng như nguồn lực về con người, tài chính. Trong khi đó, TTCK suy giảm kéo dài khiến DN gần như không có cơ hội huy động vốn qua kênh này để tài trợ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, không loại trừ cả việc trả nợ. Bởi vậy, khi gặp bối cảnh kinh doanh khó khăn kéo dài như hiện tại, không ít DN niêm yết, kể cả một số DN lớn đang đối mặt với nhiều rủi ro về khả năng trả nợ, khó triển khai hoạt động kinh doanh, nên ảnh hưởng đến tăng trưởng của DN…

Việc DN chưa quan tâm áp dụng chuẩn mực giám sát giao dịch của các bên liên quan đang ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi chính đáng của cổ đông, NĐT, bởi họ không có cơ hội tiếp cận sớm thông tin. Cách nào để khắc phục tình trạng này, thưa ông?

Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam, báo cáo tài chính phải có thuyết minh về giao dịch với các bên liên quan. Tuy nhiên, thuyết minh này cung cấp thông tin về giao dịch đã diễn ra, trong khi điều NĐT, cổ đông quan tâm là họ cần được tiếp cận thông tin ngay từ trước khi các giao dịch này phát sinh để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. NĐT nước ngoài đặc biệt quan tâm đến giao dịch với các bên liên quan, vì thông qua các giao dịch này có thể hàm chứa những rủi ro về việc chuyển tiếp lợi nhuận và rủi ro giữa các công ty trong tập đoàn. Thiếu thông tin chính xác và kịp thời về giao dịch với các bên liên quan làm cho việc đánh giá rủi ro, cũng như thẩm định giá trị của một nhóm công ty hoặc tập đoàn sẽ không chuẩn xác.

Theo thông lệ quốc tế, có một quy trình quản lý các giao dịch với các bên có liên quan. Ở một số nước châu Âu còn đưa ra quy định buộc DN đưa quy trình này vào điều lệ hoạt động của DN. Trong đó làm rõ trước khi giao dịch với các bên có liên quan phát sinh, thì DN phải minh bạch giao dịch đó bản chất là gì, mức độ tài chính ảnh hưởng như thế nào tới DN và phải báo cáo thông tin giao dịch cho ai. Ba việc này phải trình HĐQT xem xét trước khi đưa ra ĐHCĐ quyết định nếu mức độ tài chính vượt quá thẩm quyền quyết định của HĐQT.

Tại Pháp còn đưa ra quy định, kiểm toán viên độc lập phải lập báo cáo về giao dịch với các bên có liên quan bên cạnh báo cáo kiểm toán. Tuy báo cáo này được phát hành vào thời điểm kết thúc năm tài chính, nhưng cái lợi là để có được báo cáo về giao dịch với các bên có liên quan, thì suốt năm, kiểm toán viên đã phải theo dõi việc thực hiện quy trình đó. Bởi vậy, kiểm toán viên đã hỗ trợ HĐQT trong theo dõi các giao dịch này diễn ra có đúng không, có vi phạm tính tuân thủ không. Đây là thông lệ tốt mà các DN nên áp dụng, thay vì chờ cơ quan quản lý bắt buộc tuân thủ.

(Theo Đầu tư chứng khoán)

Monday, 21 November 2011

Thuyết minh BCTC của các CTCK: “Khoảng trống” thông tin

Xem hình

CTCK là các tổ chức đóng vai trò trung gian, tư vấn và tham gia trực tiếp vào sự vận hành của TTCK.

Việc minh bạch thông tin của CTCK không chỉ giảm thiểu rủi ro cho cổ đông của các DN này, mà còn góp phần quan trọng tạo dựng niềm tin cho các chủ thể tham gia thị trường, giúp thị trường phát triển lành mạnh. Tuy nhiên, trong báo cáo tài chính (BCTC) bán niên năm 2011 được kiểm toán soát xét của một số CTCK đã xuất hiện những con số mập mờ, tiềm ẩn rủi ro với công chúng đầu tư. Đó cũng là nguyên nhân khiến UBCK mới đây phải yêu cầu CTCK SME phải gửi công văn giải trình, thuyết minh chi tiết về các khoản phải thu và phải trả khác trên BCTC bán niên năm 2011 đã được kiểm toán soát xét.

Theo quy định, các CTCK khi lập BCTC phải tuân thủ chế độ kế toán DN ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính và các chuẩn mực kế toán Việt Nam. Các nghiệp vụ đặc thù trong hoạt động của CTCK được hạch toán theo Thông tư số 95/2008/TT-BTC và Thông tư số 162/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính. Chế độ và chuẩn mực kế toán Việt Nam yêu cầu trình bày chi tiết các thông tin trọng yếu trong thuyết minh BCTC. Tuy nhiên, trên BCTC bán niên năm 2011 đã được soát xét hoặc được kiểm toán của một số CTCK niêm yết lại cho thấy số liệu "Khoản phải thu khác" rất lớn và không được thuyết minh một cách chi tiết. Ví dụ như tại BCTC bán niên năm 2011, CTCK Phương Đông (ORS) có khoản phải thu khác hơn 1.400 tỷ đồng, chiếm 85% tổng tài sản; SME có Khoản phải thu khác là 577 tỷ đồng, chiếm gần 70% tổng tài sản; CTCK Châu Á - Thái Bình Dương (APS) có giá trị phải thu khác hơn 349 tỷ đồng, chiếm 48% tổng tài sản. Xem xét BCTC quý III/2011 của ORS, có thể thấy, Khoản phải thu khác này đã giảm đi đáng kể, xuống còn 312 tỷ đồng, nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn (55%) tổng tài sản. Trong khi đó, tại thời điểm kết thúc quý III/2011, khoản phải thu khác của SME và APS không có sự thay đổi đáng kể so với kết thúc quý II/2011.

Một chuyên gia kiểm toán cho biết, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính yêu cầu BCTC của các DN phải thuyết minh chi tiết theo đối tượng các khoản phải thu khác. Bên cạnh đó, việc các CTCK không thuyết minh chi tiết khoản phải thu lớn như vậy sẽ khiến NĐT không thể đo lường được khả năng thu hồi (chuyển thành tiền) của các khoản phải thu này và số lỗ tương ứng trong trường hợp công ty không thể thu hồi các khoản phải thu nói trên. Họ chỉ biết khi UBCK yêu cầu CTCK giải trình như trường hợp SME vừa qua!

Tuy nhiên, để xảy ra khoảng trống thông tin tiềm ẩn rủi ro nói trên, còn có trách nhiệm của các công ty kiểm toán, bởi trên BCTC bán niên năm 2011 của các CTCK đã nêu, ý kiến của kiểm toán độc lập đưa ra đều "sạch", có nghĩa là chấp nhận toàn phần BCTC. Thật khó thuyết phục nếu nói rằng, kiểm toán độc lập không biết về sự mập mờ của "Khoản phải thu khác"!

Cũng có ý kiến trong ngành kiểm toán biện minh, sở dĩ xảy ra sai sót trên bởi các công ty kiểm toán ngày càng chịu sức ép giảm phí kiểm toán, sức ép về thời gian phải hoàn thành công việc. Đặc biệt, đối với loại hình khách hàng có nhiều nghiệp vụ phức tạp như các CTCK, việc phát sinh sai sót trong quá trình thực hiện kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và đưa ý kiến kiểm toán là rất dễ xảy ra. Tuy nhiên, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam quy định, các công ty kiểm toán không được dựa vào sự hạn chế về mặt giá phí và thời gian để cắt giảm các thủ tục kiểm toán. Bởi vậy, các công ty kiểm toán không thể vô can khi để xảy ra khoảng trống thuyết minh BCTC như các ví dụ đã nêu.

Được biết, ngày 23/11 tới đây, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) sẽ tổ chức tọa đàm, nhằm chỉ ra những sai sót phổ biến của các công ty kiểm toán, được phát hiện qua cuộc kiểm tra chất lượng thường niên năm 2011 với sự tham gia của đại diện Bộ Tài chính, UBCK và lãnh đạo các công ty kiểm toán. Đây là cơ hội để các công ty kiểm toán tự nhìn lại những hạn chế của mình, để nâng cao chất lượng dịch vụ, từ đó tạo niềm tin cho công chúng khi họ sử dụng BCTC được kiểm toán như là một công cụ công bố thông tin đáng tin cậy của các DN được kiểm toán.

Về phía các cơ quan quản lý, sau vụ việc tại SME, cần có những quy định cụ thể và chặt chẽ hơn đối với những thông tin tài chính đặc thù mà các CTCK phải công bố, đặc biệt trong điều kiện thị trường khó khăn như hiện nay. Việc làm này sẽ góp phần khôi phục niềm tin cho nhà đầu tư, tạo cơ sở để TTCK phát triển lành mạnh hơn.

(Theo Đầu tư chứng khoán)

Tuesday, 15 November 2011

Chưa thể ban hành ngay hướng dẫn ghi nhận TPCĐ

Chưa thể ban hành ngay

hướng dẫn ghi nhận TPCĐ

Ông Đặng Thái Hùng

Sau khi bài viết: "Trái phiếu chuyển đổi: 'Lỗ hổng' kế toán và sai lệch trên BCTC" và bài: "Cận cảnh 'lỗ hổng' kế toán của TPCĐ" được đăng tải, ĐTCK đã nhận được ý kiến của một số DN và nhà đầu tư, muốn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này. ĐTCK đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Đặng Thái Hùng, Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính, xung quanh chủ đề trên.

Hương Giang

Tại Việt Nam hiện nay, việc hạch toán trái phiếu chuyển đổi (TPCĐ) của các DN sau khi phát hành công cụ tài chính này vẫn chưa tách bạch được công cụ nợ và công cụ vốn trên BCTC như chuẩn mực kế toán quốc tế. Nguyên nhân tại sao, thưa ông?

Phải khẳng định, TPCĐ là một công cụ tài chính còn tương đối mới ở Việt Nam. Việc hạch toán TPCĐ với tư cách một phần là công cụ nợ, một phần là công cụ vốn chủ sở hữu theo chuẩn mực kế toán quốc tế là rất phức tạp. Bởi vậy, chỉ ở những nước có nền kinh tế phát triển mới ban hành được chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính, còn các nước đang phát triển thì hầu hết là chưa. Ở nước ta, dù nghiệp vụ liên quan đến công cụ tài chính mà cụ thể là TPCĐ đã phát sinh, nhưng do thiếu cơ chế tài chính mà chưa thể ban hành chuẩn mực kế toán về công cụ tài chính này.

Nếu căn cứ vào chuẩn mực kế toán quốc tế thì chúng tôi có thể hướng dẫn được cho DN. Tuy nhiên, cái khó là cơ chế, chính sách tài chính về nghiệp vụ này chưa rõ ràng, đầy đủ, mà theo trình tự ban hành chế độ, chính sách là phải có cơ chế, chính sách tài chính thì mới ban hành hướng dẫn về kế toán.

TPCĐ được DN phát hành từ 5 - 6 năm nay, nhưng vẫn chưa có hướng dẫn để DN hạch toán, tạo "lỗ hổng" sai lệch trên BCTC. Việc này có chậm trễ quá không?

Đúng là việc ban hành chính sách có hơi chậm, chưa theo kịp những phát sinh trên TTCK. Nhưng nói là "lỗ hổng" trong kế toán thì nặng nề quá. Nếu chế độ, chính sách ban hành rồi mà vẫn còn khoảng trống thì mới gọi là "lỗ hổng", còn đây hoàn toàn chưa có hướng dẫn kế toán...

Quan điểm của Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính là khi có những vấn đề mới thì cần phải vươn tới, ban hành cơ chế, chính sách. Nhưng chúng tôi cũng gặp cái khó là ngoài việc thiếu cơ chế tài chính thì các chuẩn mực kế toán quốc tế là vô cùng phức tạp. Để có thể vận dụng vào Việt Nam, cần phải đầu tư công sức, thời gian, kinh phí cho chuyên gia đi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài. Những vấn đề này không dễ dàng giải quyết được mà phải có sự giúp đỡ, tài trợ của các tổ chức quốc tế, sự hỗ trợ của các chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực kế toán. Lực lượng chuyên gia trong Vụ hiện rất thiếu, lại phải đảm nhiệm một khối lượng công việc cực lớn nên chưa thể làm được điều này.

Nếu như vậy thì Thông tư 210/2009/TT-BTC về việc hướng dẫn áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày BCTC, thuyết minh thông tin với công cụ tài chính, áp dụng từ niên độ kế toán năm 2011, không có giá trị thực tiễn, thưa ông?

Thực ra Thông tư 210 được ban hành trong tình huống chúng ta phải thực hiện cam kết với Ngân hàng Phát triển châu Á về hội nhập kế toán, kiểm toán, đây là một điều kiện đi kèm của hiệp định về hỗ trợ khoản vay. Trước áp lực thực hiện lộ trình của cam kết hội nhập, Bộ Tài chính phải ban hành Thông tư 210 mang tính công bố việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế, chứ thực chất, việc ban hành Thông tư 210 chưa mang tính chất ban hành chuẩn mực. Thông tư này mới chỉ có hướng dẫn việc trình bày mà chưa có hướng dẫn ghi nhận (tính toán ra các con số), mà thực tế phải có phương pháp ghi nhận thì mới có thể trình bày được. Chính vì thế, thông tư này có thời gian chờ rất lâu (ban hành năm 2009, nhưng chỉ bắt đầu có hiệu lực từ năm 2011). Như trên tôi đã nói, việc ban hành hướng dẫn về hạch toán kế toán vẫn phải chờ có cơ chế, chính sách tài chính từ các đơn vị có chức năng quản lý về tài chính.

Tương tự, việc ban hành Thông tư hướng dẫn kế toán về công cụ tài chính phái sinh cũng chưa thể thực hiện. Mặc dù Vụ đã dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính dày cả trăm trang, với nhiều công sức trong mấy năm liền và cũng đã đưa ra xin ý kiến nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, kế toán nhưng đến nay vẫn nằm trên bàn của lãnh đạo Bộ, chưa thể ký ban hành vì còn thiếu cơ chế về tài chính.

Theo ông, trong lúc chưa ban hành hướng dẫn hạch toán TPCĐ, DN nên thực hiện theo hướng nào?

Gần đây, có một DN đã gửi công văn đề nghị Vụ hướng dẫn về việc ghi nhận kế toán đối với TPCĐ. Vụ đã trình lãnh đạo Bộ Tài chính xin phương án hướng dẫn theo một trong hai hướng: một là, hướng dẫn ghi nhận theo quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế; hai là, đợi có cơ chế chính sách tài chính rồi mới ban hành hướng dẫn kế toán. Lãnh đạo Bộ đã cho ý kiến là sẽ xử lý sau khi xin ý kiến của các bên liên quan là UBCK và Cục Tài chính DN. Hai cơ quan này đã thống nhất quan điểm là nên hướng dẫn cho DN cụ thể nói trên thực hiện chế độ kế toán trên cơ sở tuân thủ quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế.

(Theo ĐTCK)

Nguồn: VACPA

Thursday, 6 October 2011

Đề xuất chỉ khấu trừ thuế một lần đối với giao dịch repo trái phiếu

Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo sửa đổi Nghị định 124/2008/NĐ-CP, trong đó, đề xuất chỉ khấu trừ thuế tại nguồn một lần đối với giao dịch repo trái phiếu.

Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo sửa đổi Nghị định 124/2008/NĐ-CP, trong đó, đề xuất chỉ khấu trừ thuế tại nguồn một lần đối với giao dịch repo trái phiếu.

“Sẽ chỉ khấu trừ thuế một lần đối với giao dịch repo trái phiếu”

Ông Nguyễn Văn Phụng, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính

Theo thông lệ quốc tế, khi repo trái phiếu thì trái phiếu đó không chuyển quyền sở hữu sang chủ mới. Tuy nhiên, ở Việt Nam, do hạ tầng của Sở GDCK chưa đáp ứng được hoạt động repo chuẩn, nên đây là hoạt động mua đứt, bán đoạn.

Do vậy, việc áp dụng quy định thuế nhà thầu hiện hành đối với nhà thầu nước ngoài (khấu trừ thuế tại nguồn theo tỷ lệ%/doanh thu chịu thuế mỗi khi chuyển nhượng), thì sẽ bị đánh thuế hai lần đối với cả người bán và người mua.

Để khắc phục tình trạng này, Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo sửa đổi Nghị định 124/2008/NĐ-CP, trong đó, đề xuất chỉ khấu trừ thuế tại nguồn một lần đối với giao dịch repo trái phiếu.

"Thuế chưa bình đẳng giữa NĐT nước ngoài và NĐT trong nước"

Ông Nguyễn Minh Đăng Khánh, Phó tổng giám đốc CTCP Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam

Theo quy định hiện hành, khi chuyển nhượng cổ phần, chứng chỉ quỹ, trái phiếu, thì tổ chức trong nước tạm thời chưa phải nộp thuế thu nhập DN tại thời điểm chuyển nhượng, đồng thời, thực hiện quyết toán và nộp thuế theo năm tài chính với thuế suất là 25%. Tổ chức trong nước được cộng gộp khoản lãi với khoản lỗ và chỉ nộp thuế trên phần chênh lệch lãi là số dương.

Thế nhưng, các tổ chức nước ngoài phải nộp thuế 0,1% trên doanh thu đối với khoản chuyển nhượng chứng khoán (kể cả chuyển nhượng lỗ). Đối với khoản vốn chuyển nhượng, họ phải nộp thuế 25% trên thu nhập tính thuế theo từng lần chuyển nhượng.

Theo đó, tổ chức nước ngoài luôn phải nộp thuế cho trường hợp chuyển nhượng chứng khoán dù bị lỗ và không được cộng gộp khoản lãi với khoản lỗ cho các trường hợp chuyển nhượng vốn trong cùng năm tài chính.

Theo Tân Văn
ĐTCK

Wednesday, 20 July 2011

Cổ đông chiến lược không được chuyển nhượng cổ phần trong 5 năm-Thông tư 59/2011 của Chính phủ

Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chỉ có tối đa 3 cổ đông chiến lược. Ngân hàng muốn chọn nhà đầu tư chiến lược phải được Thủ tướng duyệt.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 59 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 109 ngày 26/6/2007.

Theo đó, chỉ có 3 đối tượng được cổ phần hóa, giảm một nửa so với quy định trước đây, bao gồm công ty mẹ của Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước, công ty thuộc các Bộ, UBND tỉnh, thành phố và công ty 100% vốn nhà nước chưa chuyển thành công ty TNHH một thành viên.

Mỗi công ty sau khi cổ phần hóa chỉ có tối đa 3 nhà đầu tư chiến lượng. Các cổ đông chiến lược này không được chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn tối thiểu 5 năm. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng trước thời hạn thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.

Số cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư khác tối thiểu là 25% vốn điều lệ, trong đó số cổ phần bán cho nhà đầu tư khác không thấp hơn 50%.

Với các doanh nghiệp quy mô lớn có vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng hoạt động trong những lĩnh vực như bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí và các công ty mẹ thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước nếu phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì phải do Thủ tướng quyết định tiêu chí lựa chọn, phương thức bán và số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược.

Wednesday, 6 July 2011

BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN TỐT NHẤT NĂM 2011


Chuẩn mực - minh bạch - chuyên nghiệp và sáng tạo, đó là 4 tiêu chí chính mà Cuộc bình chọn báo cáo thường niên (BCTN) do Báo Đầu tư và Sở GDCK TP.HCM sáng lập, với sự tài trợ độc quyền của Dragon Capital hướng tới, trong hành trình đồng hành cùng các DN niêm yết 4 năm qua. Kể từ khi Cuộc bình chọn ra đời, công tác làm BCTN đã được quan tâm nhiều hơn, qua từng năm, chất lượng BCTN đã được quan tâm nhiều hơn, qua từng năm, chất lượng BCTN được nâng lên rõ rệt, cả về nội dung và hình thức.

Lễ trao giải BCTN tốt nhất năm nay tôn vinh 31 BCTN tốt nhất, (gồm 02 báo cáo đạt giải đặc biệt, 07 báo cáo đạt giải nhất xuất sắc nhất và 22 báo cáo tốt nhất năm 2011) 6 BCTN được trao giải khuyến khích, là một con số rất nhỏ so với hơn 640 BCTN mà các DN niêm yết đã làm và công bố ra thị trường. Lễ trao giải không có hiện kim, nhưng danh hiệu BCTN tốt nhất là sự ghi nhận và trân trọng những nỗ lực minh bạch của các DN niêm yết từ Ban tổ chức và cơ quan quản lý TTCK Việt Nam.



Kiểm toán viên và công ty kiểm toán hãy tự xét đoán doanh nghiệp nào là khách hàng của mình? Và chúng ta đã góp phần vào để đạt được giải đó? (Danh sách các DN đạt giải dưới đây).

KẾT QUẢ CUỘC BÌNH CHỌN BCTN TỐT NHẤT 2011

STT

TÊN CÔNG TY

MÃ CK

Sàn niêm yết

GIẢI ĐẶC BIỆT

1

CTCP DƯỢC HẬU GIANG

DHG

HOSE

2

TỔNG CTCP KHOAN & DỊCH VỤ KHOAN DẦU KHÍ

PVD

HOSE

GIẢI BCTN XUẤT SẮC NHẤT NĂM 2011

1

CTCP CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN

SSI

HOSE

2

NH TMCP XNK VIỆT NAM

EIB

HOSE

3

CTCP LONG HẬU

LHG

HOSE

4

NH TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

STB

HOSE

5

CTCP ĐÁ ỐP LÁT CAO CẤP VINACONEX

VSC

HNX

6

TỔNG CTCP DỊCH VỤ TỔNG HỢP DẦU KHÍ

PET

HOSE

7

TỔNG CÔNG TY PHÂN BÓN VÀ HÓA CHẤT DẦU KHÍ -CTCP

DPM

HOSE

GIẢI BCTN TỐT NHẤT NĂM 2011

1

TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT

BVH

HOSE

2

CTCP XÂY DỰNG VÀ KINH DOANH ĐỊA ỐC HÒA BÌNH

HBC

HOSE

3

CTCP QUỐC TẾ SƠN HÀ

SHI

HOSE

4

CTCP PHÁT TRIỂN NHÀ THỦ ĐỨC

THD

HOSE

5

CTCP TRAPHACO

TRA

HOSE

6

CTCP VĨNH HOÀN

VHC

HOSE

7

CTCP FPT

FPT

HOSE

8

TCT XNK VÀ XÂY DỰNG VIỆT NAM

VCG

HNX

9

CTCP SỮA VIỆT NAM VINAMILK

VNM

HOSE

10

CTCP PHÁT TRIỂN BĐS PHÁT ĐẠT

PDR

HOSE

11

CTCP CHỨNG KHOÁN DẦU KHÍ

PSI

HNX

12

CTCP DƯỢC PHẨM IMEXPHARM

IMP

HOSE

13

CTCP TẬP ĐOÀN KỸ NGHỆ GỖ TRƯỜNG THÀNH

TTF

HOSE

14

CTCP VINPEARL

VPL

HOSE

15

CTCP CHỨNG KHOÁN RỒNG VIỆT

VDS

HNX

16

CTCP VẬT TƯ XĂNG DẦU

COM

HOSE

17

NH TMCP NHÀ HÀ NỘI

HBB

HNX

18

CTCP TẬP ĐOÀN HOA SEN

HSG

HOSE

19

TỔNG CÔNG TY PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ KINH BẮC - CTCP

HBC

HOSE

20

CTCP CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

SBS

HOSE

21

CTCP DỊCH VỤ TỔNG HỢP SÀI GÒN

SVC

HOSE

22

NH TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

VCB

HOSE

GIẢI KHUYẾN KHÍCH

1

NH TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

CTG

HOSE

2

CTCP HOÀNG ANH GIA LAI

HAG

HOSE

3

CTCP CHỨNG KHOÁN TP.HCM

HCM

HOSE

4

CTCP TẬP ĐOÀN THĂNG LONG

TIG

HNX

5

CTCP VINCOM

VIC

HOSE

6

CTCP CHỨNG KHOÁN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VIG

HNX

(Theo ĐTCK)


Popular Posts