| ông Prajeesh Mukundan |
Cập nhật liên tục các thông tin kinh tế, tài chính, chứng khoán, giá vàng, cổ phiếu, xăng dầu, bất động sản, dự án đầu tư, quy hoạch...trong nước và thế giới.
Sunday, 28 July 2013
Hệ thống kiểm toán nội bộ doanh nghiệp bảo hiểm: Cần nhất là nhận thức và quyết tâm
Monday, 20 August 2012
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH
ThS Đoàn Thị Thu Hà
Thứ nhất, theo quy chế chung đối với bộ phận kiểm toán nội bộ, việc xây dựng kế hoạch hoạt động mới chỉ dừng lại ở kế hoạch ngắn hạn hàng năm, do đó chưa xác định được định hướng phát triển của bộ phận kiểm toán nội bộ gắn với chiến lược của công ty tài chính trong dài hạn và trong từng giai đoạn cụ thể.
Thứ hai, việc đánh giá rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm toán thường chỉ dựa trên nhận định chủ quan và kinh nghiệm về các hoạt động có mức độ rủi ro cao để tập trung nguồn lực kiểm toán, chưa một công ty tài chính nào xây dựng được bản phân tích, đánh giá rủi ro trên toàn hệ thống.
Thứ ba, việc xây dựng định biên lao động cho bộ phận kiểm toán nội bộ nói chung và định biên cho từng chức danh nói riêng chủ yếu theo phương pháp ước lượng. Điều đó dẫn đến bộ máy kiểm toán nội bộ không đủ lực lượng kiểm toán viên để thực hiện các yêu cầu của HĐQT, và chưa bao quát được toàn bộ hoạt động của công ty tài chính.
Thứ tư, đa số các kiểm toán viên nội bộ đều chưa có các chứng chỉ nghề nghiệp, chưa được đào tạo chuyên sâu về kiểm toán nói chung và kiểm toán nội bộ nói riêng. Phần đông các kiểm toán viên là từ các ban nghiệp vụ chuyển lên, nên kinh nghiệm và kỹ năng kiểm toán còn hạn chế. Hơn nữa, hoạt động kiểm toán nội bộ thường diễn ra chậm hơn các hoạt động được kiểm toán khá lâu, do đó khả năng phát hiện sai sót cũng bị hạn chế còn khả năng ngăn chặn sai phạm là rất thấp.
Để đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của các công ty tài chính là tăng cường quản trị rủi ro, tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả, bộ phận kiểm toán nội bộ cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản. Trước hết, để đáp ứng được kỳ vọng của cổ đông, của HĐQT và Ban kiểm soát, bộ phận kiểm toán nội bộ cần phải xây dựng chiến lược phát triển của bộ phận mình phù hợp với chiến lược phát triển chung của cả công ty. Theo đó, cần xác định rõ lợi ích mà kiểm toán nội bộ mang lại cho công ty, giá trị gia tăng trong hiện tại và tương lai; những chiến thuật hoạt động để đạt tới mục tiêu cơ bản; xác định nhu cầu về vốn và nguồn nhân lực hiện tại và tương lai, các giả định và tiêu chuẩn cơ bản để so sánh kế hoạch với tình hình thực hiện; các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng kiểm toán.
Tiếp đến, phải xây dựng kế hoạch về nhân sự phù hợp với chiến lược phát triển tổng thể của bộ phận kiểm toán nội bộ theo từng giai đoạn, từng thời kỳ. Sau đó phải xây dựng được định biên lao động cho bộ máy kiểm toán một cách khoa học. Định biên lao động sẽ dựa trên quy mô, địa bàn hoạt động, tính chất ngành nghề, loại hình sản phẩm, xây dựng định mức lao động chuẩn, từ đó sẽ xác định được số lượng kiểm toán viên theo địa bàn, chức danh và trình độ, lĩnh vực chuyên môn hóa. Việc tuyển dụng cần được mở rộng ra ngoài công ty tài chính đồng thời đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ hiện có, đảm bảo đủ trình độ và năng lực thực hiện tốt yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Bên cạnh vai trò là công cụ kiểm tra, giám sát của HĐQT và Ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ cũng cần khẳng định vai trò là công cụ tư vấn, hỗ trợ cho việc thực hiện trách nhiệm của các nhà quản lý (Ban giám đốc). Thực hiện vai trò này, kiểm toán nội bộ cũng đồng thời thực hiện được chức năng tiền kiểm của mình. Để thực hiện dược vai trò tư vấn, kiểm toán nội bộ cần phân tích, đánh giá các quy trình, quy chế, đánh giá rủi ro tiềm ẩn, nhận diện những chốt kiểm soát yếu kém, khả năng xuất hiện sai phạm cao để đưa ra các ý kiến tư vấn điều chỉnh phù hợp, nhằm ngăn chặn các sai phạm từ xa. Bên cạnh đó, đối với các hợp đồng kinh tế, phương án kinh doanh chuẩn bị được thực hiện hoặc đang trong quá trình xây dựng đàm phán, kiểm toán nội bộ cũng nên có ý kiến nhận định rủi ro, đánh giá hiệu quả và đưa ra các kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả và đảm bảo an toàn cho công ty tài chính trong điều kiện phải đảm bảo các nguyên tắc độc lập, khách quan.
(theo tạp chí Thuế Nhà nước)Tuesday, 3 April 2012
Cân bằng giữa kiểm soát nội bộ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Các yếu tố cấu thành khung KSNB
"Kiểm soát" được định nghĩa là bất kỳ hành động nào được thực hiện để giảm nhẹ hoặc quản lý rủi ro và giúp cho các hoạt động kinh doanh/ quy trình đạt được mục tiêu của DN. KSNB là quy trình được thiết kế, thực hiện và duy trì bởi những người chịu trách nhiệm về quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác nhằm đảm bảo khả năng đạt được các mục tiêu đề ra, liên quan đến: độ tin cậy của báo cáo tài chính và các thông tin liên quan khác; hiệu quả của hoạt động kinh doanh; tuân thủ pháp luật và các quy định pháp lý.
Ủy ban Các tổ chức tài trợ (COSO) đã xác định các yếu tố cấu thành nên khung KSNB như sau:
|
Mục tiêu kiểm soát:
- Hoạt động: Sử dụng nguồn lực hợp lý và hiệu quả
- Báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính chính xác và tin cậy
- Tuân thủ: Tuân thủ quy định và luật pháp |
- Môi trường kiểm soát: Phản ánh triết lý quản lý và phong cách hoạt động - "tiếng nói từ phía trên" và bao gồm tính trung thực, giá trị đạo đức và năng lực của nhân sự trong DN.
- Đánh giá rủi ro: Là sự nhận diện và phân tích các rủi ro liên quan. Đánh giá rủi ro thiết lập các mục tiêu, gắn liền các mục tiêu này với các cấp khác nhau trong DN một cách thống nhất.
- Các hoạt động kiểm soát: Bao gồm các chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo thực thi các định hướng quản lý. Hoạt động kiểm soát được triển khai tại DN, ở tất cả các phòng ban chức năng và ở các cấp quản lý.
- Trao đổi thông tin: Hệ thống thông tin lập báo cáo, bao gồm thông tin hoạt động, tài chính và tuân thủ. Trao đổi thông tin diễn ra ở mọi góc độ của DN: rộng hơn, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên và trong toàn DN.
- Giám sát: Quy trình đánh giá hiệu quả hoạt động của toàn DN. Giám sát diễn ra trong suốt quá trình hoạt động.
KSNB không chỉ dừng lại ở quan điểm truyền thống là tập trung vào vấn đề tài chính. KSNB hiện nay còn tập trung nhiều vào quản lý rủi ro, mở rộng các yêu cầu về tuân thủ ra các vấn đề phi tài chính khác. KSNB cũng chuyển từ kiểm soát sang xu hướng cải tiền quy trình.
Như vậy, một hệ thống KSNB hiệu quả giúp DN tránh được những rủi ro ngoài kỳ vọng; giúp giảm rủi ro thiệt hại đến uy tín và danh tiếng của DN; đảm bảo việc tuân thủ với các quy định về pháp lý, chính sách và các quy định, thủ tục nội bộ; góp phần duy trì một hệ thống báo cáo tài chính và quản lý đáng tin cậy.
Vấn đề ở đây là làm thế nào để pháp huy được hiệu quả của hệ thống KSNB trong mỗi DN.
Cân bằng giữa mức độ kiểm soát và hiệu quả hoạt động
Ngày nay, các DN đã và đang nhận thức rõ tầm quan trọng của KSNB, bởi vì một hệ thống KSNB hiệu quả sẽ giúp DN tránh được những rủi ro ngoài kỳ vọng và là nền tảng giúp DN hoạt động hiệu quả, an toàn và bền vững. Tuy nhiên, không phải DN nào cũng có thể tìm ra cách thức kiểm soát phù hợp. Kiểm soát cũng giống như túi khí an toàn trong xe hơi, được đặt tại nơi được cho nhiều là rủi ro. Nhiệm vụ của nhà sản xuất là mang lại sự an toàn cho người sử dụng, nhưng cũng đảm bảo tính tiện ích và thẩm mỹ của chiếc xe đó. Tương tự như vậy, với các DN, câu trả lời không chỉ dừng lại ở việc liệu DN đó có thể kiểm soát được các rủi ro tiềm tàng hay không, mà DN có thể kiểm soát rủi ro đó như thế nào để hiệu quả hoạt động kinh doanh vẫn được đảm bảo.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin tự giới thiệu phương pháp tối ưu hóa hệ thống KSNB (xem hình 1). Theo đó, trọng tâm là việc cân bằng giữa mức độ kiểm soát và hiệu quả hoạt động.
Để đạt hiệu quả, hoạt động kiểm soát cần phải được tích hợp vào các quy trình kinh doanh và phục vụ cho cả hai mục đích tuân thủ và nâng cao hoạt động.
Làm thế nào để tối ưu hóa hệ thống KSNB?
Tối ưu hóa hệ thống KSNB là một quá trình được thực hiện trên quy mô toàn DN, đòi hỏi sự phối hợp của các bộ phận. Để thực hiện được mục tiêu tối ưu hóa hệ thống KSNB, DN cần xác định được mức độ hoàn thiện của hệ thống KSNB hiện tại cũng như mong muốn trong tương lai. DN cũng cần xem xét đến các lợi ích mang lại và chi phí bỏ ra để hoàn thiện hệ thống này.
Việc tối ưu hóa hệ thống KSNB được thực hiện qua 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Đánh giá hiện trạng hệ thống KSNB. Đánh giá hiệu quả của các điểm kiểm soát, khả năng ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro đối với DN. Phạm vi đánh giá bao gồm: tính hợp lý trong việc thiết kế các điểm kiểm soát giúp giảm thiểu rủi ro đối với DN và quy trình có liên quan; tính hiệu lực trong việc thực hiện triển khai các điểm kiểm soát và ảnh hưởng của việc không tuân thủ các điểm kiểm soát.
Giai đoạn 2: Xác định các thiếu hụt. DN cần tiến hành so sánh thực tế về KSNB tại DN với thông lệ kiểm soát của ngành nhằm xác định những điểm thiếu hụt/kém hiệu quả trong kiểm soát. Ngoài ra, cần phân tích nguyên nhân của các thiếu hụt/kém hiệu quả nói trên và hậu quả tương ứng.
Giai đoạn 3: Đưa ra các giải pháp hoàn thiện. Ở giai đoạn này, sau khi đã xác định được các thiếu hụt/yếu kém trong hệ thống KSNB, DN cần tiến hành tìm kiếm các giải pháp cải tiến phù hợp dựa trên việc xác định và phân tích các thiếu hụt cũng như sự kém hiệu quả trong việc thực hiện các kiểm soát trên phạm vi toàn DN.
Giai đoạn 4: Thực hiện các giải pháp. DN cần xác định mức độ ưu tiên của các giải pháp dựa trên thông lệ kiểm soát tốt nhất và các yêu cầu chiến lược khác cũng như khả năng thực hiện các cải tiến này để có thể xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động phù hợp và hiệu quả nhất.
Friday, 28 October 2011
Nâng cấp bộ phận kiểm toán nội bộ: Yếu tố quyết định thành công của DN
Trình độ của chức năng KTNB có thể được định vị ở 5 cấp khác nhau, có thể ở mức: hạn chế; sơ lược; cơ bản; tiên tiến và dẫn đầu. Trình độ này được đánh giá dựa trên việc xem xét các yếu tố hoạt động của chức năng KTNB bao gồm: quản trị, con người và nền tảng hoạt động.
Để nâng cấp bộ phận kiểm toán nội bộ, DN cần xác định rõ trình độ của chức năng KTNB và mức độ muốn nâng cấp, không nhất thiết phải nâng lên đến cấp "dẫn đầu". Quyết định lựa chọn nâng cấp lên mức độ nào phụ thuộc vào kết quả phân tích và so sánh giữa lợi ích đem lại và chi phí DN phải bỏ ra.
Để chuyển đổi, nâng cấp thành công bộ phận KTNB, DN cần có lộ trình phù hợp. Lộ trình này phải đảm bảo không gây nhiều ảnh hưởng đến hoạt động của DN, tiết kiệm chi phí và mang lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của bộ phận. Thông thường, việc chuyển đổi bộ phận KTNB trải qua 5 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Đánh giá hiện trạng của bộ phận KTNB, trên các phương diện: năng lực quản trị, con người và nền tảng hoạt động. Quá trình này giúp lãnh đạo của bộ phận KTNB nói riêng và của toàn DN nói chung thấy được những bất cập trong hệ thống KTNB hiện tại và nhu cầu chuyển đổi.
Giai đoạn 2: Xác định tầm nhìn và thiết kế mô hình hoạt động của bộ phận KTNB. Mục tiêu hoạt động và nhiệm vụ của KTNB cần được thiết kế phù hợp với chiến lược và mục tiêu chung của DN và là nhân tố cơ bản quyết định việc lựa chọn mô hình hoạt động của bộ phận KTNB. Ngoài ra, trình độ phát triển, đặc thù kinh doanh và môi trường hoạt động cũng là những nhân tố quyết định giúp lãnh đạo DN xác định mô hình hoạt động phù hợp cho bộ phận KTNB của DN.
Giai đoạn 3: Phân tích lợi ích và chi phí cho việc chuyển đổi bộ phận KTNB. Dựa trên kết quả đánh giá hiện trạng của bộ phận KTNB và việc xác định tầm nhìn, thiết kế mô hình hoạt động cho bộ phận KTNB, DN cần tiến hành đánh giá, so sánh giữa chi phí và lợi ích đem lại từ hoạt động KTNB. Kết quả của việc đánh giá và so sánh này sẽ giúp các bên liên quan nhìn nhận những lợi ích đem lại từ hoạt động chuyển đổi, làm cơ sở đề xuất các bước chuyển đổi cụ thể và ngân sách tương ứng.
Giai đoạn 4: Tiến hành chuyển đổi bộ phận. Xác định kế hoạch thay đổi dựa trên các quyết định thay đổi về thời gian, chi phí, cách thức chuyển đổi. DN có thể tự triển khai hoặc triển khai với sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Giai đoạn 5: Đồng kiểm toán/thuê ngoài dịch vụ KTNB. Việc sử dụng dịch vụ tư vấn đồng kiểm toán và/hoặc thuê ngoài dịch vụ KTNB có thể giúp DN đẩy nhanh quá trình chuyển đổi và khắc phục những khó khăn trong ngắn hạn về nguồn lực và các nền tảng hoạt động khác vốn chưa sẵn sàng hoặc chưa có trong DN ở giai đoạn đầu chuyển đổi.
Có thể nói, quá trình nâng cấp, chuyển đổi bộ phận KTNB sẽ giúp DN hướng đến các vấn đề sau:
Thứ nhất, nâng cao năng lực quản trị cho DN (đảm bảo sự phù hợp giữa mục đích, tầm nhìn, vấn đề tập trung và phạm vi hoạt động của KTNB với mục tiêu và chiến lược chung của DN, đồng thời, kế hoạch kiểm toán phù hợp với mục đích, tầm nhìn, vấn đề tập trung và phạm vi hoạt động của KTNB);
Thứ hai, phát triển con người, gắn liền với mục tiêu và tầm nhìn của KTNB, cụ thể: hoàn thiện cơ cấu tổ chức của bộ phận KTNB (đảm bảo đội ngũ kiểm toán viên đáp ứng được nhu cầu của hoạt động kiểm toán); hoàn thiện quy trình phát triển nguồn nhân lực cho bộ phận KTNB; duy trì đội ngũ cán bộ (đảm bảo áp dụng các quy chế giữ người phù hợp thông qua các hoạt động hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm trong nội bộ và các hoạt động khác có liên quan).
Thứ ba, đầu tư vào nền tảng hỗ trợ hoạt động (phương pháp tiếp cận, công nghệ và công cụ hỗ trợ; quản lý tri thức; quản lý hoạt động; quản lý chất lượng).
Cùng với việc gia tăng vai trò, trách nhiệm và kỳ vọng đối với hoạt động KTNB, việc hoàn thiện và cải tổ bộ máy KTNB là điều các DN sớm muộn phải tiến hành. Tuy nhiên, chuyển đổi như thế nào, trên các phương diện gì và khi nào phụ thuộc vào tầm nhìn và nhu cầu của từng DN. Xây dựng một lộ trình chuyển đổi, nâng cấp phù hợp dựa trên những đánh giá hợp lý là yếu tố quyết định thành công của quá trình chuyển đổi.
| Ông Hoàng Đức Hùng là Phó tổng giám đốc của Ersnt&Young Việt Nam. Ông có hơn 14 năm kinh nghiệm làm việc tại Ernst & Young Việt Nam, Ernst&Young San Francisco (Hoa Kỳ) và Ernst&Young Brisbane (Úc) trong các lĩnh vực kiểm toán, chẩn đoán, rà soát hệ thống kiểm soát nội bộ, tư vấn về quản trị doanh nghiệp, xây dựng cẩm nang tài chính và đào tạo … Ông Hùng là kiểm toán viên công chứng của Việt Nam và là thành viên của Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh (ACCA), kiểm toán viên nội bộ công chứng của Học viện Kiểm toán viên nội bộ Hoa Kỳ (IIA). |
(Theo Đầu tư chứng khoán)
Sunday, 20 March 2011
Bàn về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại (Phần II)
BÀN VỀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ThS. CPA. Nguyễn Thị Lê Thanh
- HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -
| Bàn về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại (Phần I) |
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ của các ngân hàng thương mại
Việc đo lường và đánh giá hiệu quả đối với các hoạt động trong các doanh nghiệp nói chung và hiệu quả hoạt động KTNB trong NHTM nói riêng là rất cần thiết.
Rõ ràng hiệu quả hoạt động KTNB trong NHTM là một khái niệm tương đối vì nó được đánh giá bằng cách so sánh mục tiêu NHTM đặt ra khi thiết lập và duy trì KTNB (yếu tố đầu ra) đạt được và nguồn lực sử dụng cho KTNB (yếu tố đầu vào).
Yếu tố đầu vào của hoạt động KTNB là số lượng, chất lượng (trình độ) nhân sự làm công tác KTNB; chi phí dành cho bộ phận KTNB, bao gồm: Thu nhập của cán bộ kiểm toán, chi phí đào tạo,…; chi phí áp dụng yếu tố khoa học công nghệ vào công tác KTNB: phần mềm KTNB, chi phí trang bị máy tính cho cán bộ kiểm toán. Yếu tố đầu ra của hoạt động KTNB trong NHTM mang tính chất vô hình (tính trung thực của thông tin tài chính; khả năng dự đoán để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng - hoạt động tín dụng, hoạt động kế toán và ngân quỹ, hoạt động kinh doanh ngoại tệ,…; khả năng phát hiện kịp thời các vi phạm và kiến nghị xử lý phù hợp; hoạt động giám sát sau kiểm toán chặt chẽ, các vi phạm được chỉ ra đều được sửa chữa thích hợp;…). Do vậy, để đánh giá tính hiệu quả của hoạt động KTNB trong NHTM, điều quan trọng là nhằm vào kết quả việc thực hiện quy trình của các hoạt động nghiệp vụ, các vi phạm được phát hiện và sửa chữa,… hơn là đánh giá dựa vào kết quả bằng con số cụ thể.
Nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể của bộ phận KTNB ở mỗi NHTM thường do chính NHTM thiết lập, thể hiện trong bản quy chế về KTNB, căn cứ vào đặc điểm hoạt động và những mục tiêu chung cần đạt tới. Bản quy chế rõ ràng, chi tiết, đầy đủ và phù hợp là cơ sở để tổ chức hoạt động kiểm toán, là căn cứ để phân bổ các nguồn lực thích hợp cho KTNB và đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá kết quả của hoạt động này. Tuy nhiên, một thực tế là các NHTM không tự đề ra bản quy chế cụ thể hóa, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm riêng có của NHTM, mà chỉ đơn thuần tiếp nhận những bản quy chế từ các quy định chung chung. Do đó, khi đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của KTNB ở một NHTM nào đó, cũng cần đánh giá xem bản thân các quy định về nhiệm vụ, mục tiêu của KTNB tại ngân hàng đó có phù hợp hay không.
Để đánh giá KTNB có tiết kiệm các nguồn lực trong quá trình thực hiện công việc không, thông thường các NHTM xem xét về mức độ hoàn thành nhiệm vụ của KTNB và so sánh giữa chi phí cho KTNB giữa các ngân hàng với nhau. Tuy nhiên, đây thường là thông tin được bảo mật của các ngân hàng, không một NHTM nào công khai các số liệu này. Do đó, đánh giá hiệu quả của hoạt động KTNB bằng cách so sánh kết quả và chi phí dành cho KTNB giữa các ngân hàng với nhau là không thực hiện được.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động KTNB trước hết phải xác định được thước đo đánh giá. Thước đo phải bảo đảm phục vụ tốt cho việc đánh giá đầu ra theo mục tiêu, chiến lược cũng như mối liên kết từ đầu vào đến đầu ra. Đối tượng đánh giá là mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của hoạt động KTNB, như phân tích ở trên, rất phức tạp và khó đo lường được bằng giá trị cụ thể. Do đó, phần lớn các chỉ tiêu đánh giá là chỉ tiêu định tính.
Kết quả hoạt động (yếu tố đầu ra) thường được thực hiện thông qua các tiêu chí: số lượng, chất lượng, thời gian và chi phí.
· Thước đo số lượng: Phản ánh kết quả thông qua số lượng kết quả đầu ra, ví dụ: tổng số lượng các cuộc KTNB, số lượng các cuộc KTNB cho từng hoạt động nghiệp vụ,… Hoặc thể hiện phạm vi hoạt động của KTNB, số lượng các cuộc KTNB cho từng lĩnh vực kiểm toán: Kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động, và kiểm toán quản lí. Do tính phức tạp và đa dạng của kết quả đầu ra trong hoạt động KTNB tác động tới hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng nên thước đo số lượng không thể phản ánh toàn bộ kết quả thu được nên cần kết hợp với các thước đo còn lại;
· Thước đo chất lượng: Phản ánh chất lượng của hoạt động KTNB, thể hiện ở chất lượng báo cáo KTNB và giai đoạn giám sát sau kiểm toán. Những tiêu chí để đo lường chất lượng báo cáo KTNB là: tính chính xác, tính khách quan, tính xây dựng, yêu cầu rõ ràng, cô đọng, đầy đủ và kịp thời. Báo cáo KTNB phải tập trung vào đúng vấn đề, các sai phạm được phát hiện và hướng xử lý đối với các sai phạm. Chất lượng của giai đoạn giám sát sau kiểm toán không chỉ thể hiện ở các văn bản, báo cáo thực hiện kiến nghị kiểm toán của đơn vị được kiểm toán, đòi hỏi phải thực hiện kiểm tra công tác khắc phục sai phạm thực tế tại đơn vị được kiểm toán.
Thước đo chất lượng chính là hệ thống chỉ tiêu định tính đánh giá trực tiếp hiệu quả hoạt động KTNB trong NHTM. Để đánh giá được chất lượng hoạt động KTNB, trong trường hợp này, giả sử nguồn lực (yếu tố đầu vào) cho hoạt động KTNB là không đổi. Điều này thể hiện ở: Khả năng phát hiện ra sai phạm trong các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng; Khả năng cảnh báo đối với hệ thống quản lý để từ đó đưa ra các chính sách điều hành hoạt động kinh doanh để giảm tỷ lệ nợ xấu, giảm các hành vi vi phạm (như tham nhũng, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản,…), giảm rủi ro tác nghiệp,…; Kết quả của hoạt động KTNB giúp Hội đồng quản trị đánh giá đúng thực chất tình hình hoạt động của ngân hàng để đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp; Hiệu quả hoạt động KTNB là cơ sở so sánh với kết quả kiểm toán độc lập để điều chỉnh hoạt động ngân hàng. Trên cơ sở phát hiện các sai phạm, KTNB đưa ra các kiến nghị để sửa chữa sai phạm, hiệu quả hoạt động KTNB còn thể hiện ở giai đoạn giám sát sau kiểm toán - xem xét việc thực hiện các kiến nghị kiểm toán. Hơn nữa, hiệu quả KTNB thể hiện ở giá trị các kiến nghị với Đại hội cổ đông để tổ chức lại Hội đồng quản trị, kiến nghị với Hội đồng quản trị để tổ chức bộ máy điều hành hoạt động.
Hiệu quả hoạt động KTNB tại các NHTM đã thể hiện được đầy đủ hai vai trò là xác nhận và tư vấn hay chưa. Trong đó xác nhận là chức năng chủ yếu của KTNB, đối tượng của KTNB đã thực hiện được những lĩnh vực nào: hệ thống KSNB, các thủ tục quản lí rủi ro, hệ thống thông tin tài chính, kiểm tra các giao dịch và các thủ tục, kiểm tra tính tuân thủ với pháp luật và quy định của các cơ quan quản lí, và các cuộc điều tra đặc biệt khác. Với tư vấn, hoạt động KTNB đã thực hiện được những lĩnh vực tư vấn gì và trong phạm vi nào, xem xét KTNB khi thực hiện vai trò tư vấn có bị ảnh hưởng tới tính độc lập không. Hiệu quả hoạt động KTNB ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp, các chính sách đảm bảo cho hoạt động này, do đó một phần hiệu quả tư vấn của KTNB thể hiện đã xây dựng được các quy định liên quan đến hoạt động KTNB hay chưa: Ban hành điều lệ kiểm toán; thành lập Uỷ ban kiểm toán trực thuộc trực tiếp Hội đồng quản trị; thúc đẩy quan hệ thường xuyên giữa KTNB và kiểm toán độc lập; ban hành những hướng dẫn đối với hoạt động KTNB; xem xét lại và thông qua kế hoạch kiểm toán hàng năm của KTNB.
· Thước đo thời gian: Thước đo thời gian cung cấp các thông số về thời gian thực hiện, hoàn tất quy trình KTNB trong NHTM, kể cả kiểm toán tổng thể và kiểm toán từng mảng nghiệp vụ. Mặc dù chất lượng là quan trọng nhưng nếu thực hiện hoạt động KTNB tại một đơn vị trong thời gian quá dài thì số lượng các đơn vị được kiểm toán là ít, hoặc đòi hỏi số lượng kiểm toán viên rất lớn, điều này là nhân tố làm giảm hiệu quả hoạt động KTNB.
· Thước đo chi phí: Thông tin chi phí có vai trò quan trọng trong việc đánh giá, so sánh kết quả hoạt động KTNB đạt được với kế hoạch, với kỳ trước và với mức trung bình chung của ngành.
Như vậy, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động KTNB trong NHTM mang tính chất vô hình, thể hiện yếu tố định tính hơn là định lượng.
Có thể đưa ra một số chỉ tiêu định lượng để đánh giá gián tiếp hiệu quả hoạt động KTNB. Tuy nhiên khi sử dụng các chỉ tiêu định lượng này, cần thiết phải kết hợp với các chỉ tiêu định tính.
o Hệ số đánh giá số lượt các cuộc kiểm toán hoạt động tín dụng ảnh hưởng tới tỉ lệ nợ xấu của NHTM (H1), phản ánh khi tăng (giảm) 1% số lượt các cuộc kiểm toán hoạt động tín dụng làm tăng (giảm) bao nhiêu % tỉ lệ nợ xấu của ngân hàng.
| H1 | DN | : | DN |
| N0 | x0 |
Trong đó: DN: Tỉ lệ nợ xấu tăng (giảm) = Nl - N0
Nl: Tỉ lệ nợ xấu kỳ báo cáo; N0: Tỉ lệ nợ xấu kỳ gốc
Dx : Số lượt các cuộc kiểm tra hoạt động tín dụng tăng (giảm)
Dx = x1 - x0
xl: Số lượt các cuộc kiểm tra hoạt động tín dụng kỳ báo cáo
x0: Số lượt các cuộc kiểm tra hoạt động tín dụng kỳ gốc.
o Hệ số đánh giá số lượng cán bộ KTNB có trình độ ảnh hưởng tới tổng số lượt các cuộc KTNB (H2), phản ánh khi tăng (giảm) 1% số lượng cán bộ KTNB có trình độ làm tăng (giảm) bao nhiêu % tổng số cuộc KTNB của ngân hàng.
| H2 | DT | : | Dx |
| T0 | x0 |
Trong đó: Dx: Số lượng cán bộ KTNB có trình độ đại học trở lên tăng (giảm)
Dx = xl - x0
xl, x0: Số lượng cán bộ KTNB có trình độ kỳ báo cáo; kỳ gốc
DT : Tổng số lượt các cuộc kiểm KTNB tăng (giảm)
DT = T1 - T0
Tl, T0: Tổng số lượt các cuộc KTNB kỳ báo cáo, kỳ gốc.
Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ của ngân hàng thương mại
* Thứ nhất, nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan thuộc về bản thân NHTM có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động KTNB gồm các nhân tố ảnh hưởng đến việc thiết kế bộ phận KTNB từ mô hình tổ chức KTNB; số lượng, chất lượng nhân viên kiểm toán; phương pháp kiểm toán áp dụng; quy trình kiểm toán; yếu tố khoa học công nghệ áp dụng trong KTNB; công tác giám sát sau kiểm toán; …
· Mô hình tổ chức KTNB: Một mô hình tổ chức KTNB tốt, không cồng kềnh, xác định KTNB trực thuộc cấp nào: Ban kiểm soát thuộc Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát thuộc Đại hội cổ đông hay KTNB trực thuộc trực tiếp Hội đồng quản trị có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động KTNB, đặc biệt là khi KTNB tác nghiệp và thực hiện công việc giám sát sau kiểm toán.
· Đội ngũ cán bộ KTNB: Ảnh hưởng bởi đội ngũ cán bộ làm công tác KTNB thể hiện về số lượng, chất lượng và mức độ đảm bảo các nguyên tắc làm nền tảng cho hoạt động của KTNB, bao gồm: tính liên tục, tính độc lập và tính chuyên nghiệp. Số lượng cán bộ KTNB nếu quá ít không đảm bảo kiểm tra được toàn bộ các đơn vị trong NHTM, hoặc nếu kiểm tra chất lượng không được đảm bảo. Ngược lại, nếu số lượng cán bộ KTNB quá nhiều thì chi phí lớn (gồm cả chi phí tiền lương, thưởng, phụ cấp và chi phí đào tạo), công tác kiểm toán thậm chí bị chồng chéo. Do đó cần thiết NHTM phải có số lượng cán bộ KTNB phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động KTNB đòi hỏi cán bộ thực hiện phải có một trình độ tương xứng, phải am hiểu về các hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các sản phẩm dịch vụ mới cũng như sử dụng thành thạo hệ thống ngân hàng hiện đại để phục vụ yêu cầu công việc.
Tính độc lập của cán bộ KTNB cũng rất quan trọng, nếu vi phạm sẽ ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán, điều này làm ảnh hưởng kéo theo tới kết quả của một loạt các hoạt động khác trong ngân hàng. Do đó cần thiết phải có một mô hình tổ chức KTNB và các chính sách ưu đãi đối với kiểm toán viên nội bộ để tiêu chuẩn tính độc lập được đảm bảo một cách cao nhất.
· Phương pháp kiểm toán: Cần thiết áp dụng kết hợp cả hai phương pháp kiểm toán: hệ thống và cơ bản đảm bảo giảm thiểu được thời gian thực hiện kiểm toán và kết quả thu được, mức độ phát hiện sai phạm cao hơn. Phương pháp kiểm toán phải được áp dụng một cách có hệ thống, cho toàn ngân hàng và cho từng hoạt động nghiệp vụ.
· Quy trình KTNB: Quy trình KTNB cần thiết được xây dựng, cập nhật thường xuyên, có tính hệ thống và phải được áp dụng thống nhất đối với tất cả các đơn vị trong ngân hàng để KTNB thực hiện được đúng mục tiêu đề ra của hoạt động.
· Công nghệ thông tin: Để tiết kiệm thời gian, chi phí, số lượng nhân viên KTNB, đòi hỏi có phần mềm kiểm toán riêng. Hệ thống này nếu có sẽ hỗ trợ và nâng cao chất lượng KTNB, giúp tổng hợp toàn hệ thống, kết xuất dữ liệu, xử lý và phân tích dữ liệu trên máy,…
* Thứ hai, nhân tố khách quan
Để hoạt động KTNB có hiệu quả, nhân tố khách quan ảnh hưởng lớn nhất là hệ thống văn bản pháp lý quy định và hướng dẫn đối với công tác KTNB, từ xây dựng mô hình tổ chức; tuyển chọn nhân sự; thiết kế quy trình kiểm toán đối với từng hoạt động nghiệp vụ; yêu cầu đối với kiểm toán viên nội bộ; hướng dẫn thiết kế và áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động KTNB;… của Nhà nước và của ngành, cũng như của bản thân từng NHTM.
Như vậy, để KTNB trong NHTM hoạt động đúng mục đích, yêu cầu đặt ra khi thiết lập bộ phận KTNB của Hội đồng quản trị, để nâng cao hiệu quả hoạt động của KTNB, cần thiết các NHTM phải xây dựng được một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động KTNB (bao gồm chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính). Hiệu quả hoạt động KTNB trong NHTM cần được đánh giá thường xuyên, định kỳ theo hệ thống chỉ tiêu đã được xây dựng để phân tích nguyên nhân ảnh hưởng làm giảm hiệu quả hoạt động KTNB, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục để hoạt động KTNB ngày càng hiệu quả, hoạt động kinh doanh chung của toàn ngân hàng ngày càng phát triển ổn định và bền vững./.
- Hết -Nguồn: www.vacpa.org.vn
Bàn về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại (Phần I)
BÀN VỀ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ThS. CPA. Nguyễn Thị Lê Thanh
- HỌC VIỆN NGÂN HÀNG -
Bàn về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại (Phần II)
Ngân hàng thương mại - với chức năng trung gian tài chính - ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu với khu vực và thế giới, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, hoạt động của các NHTM ngày càng đa dạng, phức tạp với rủi ro tiềm tàng khá cao. Điều này đòi hỏi phải có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ hoạt động của hệ thống NHTM. Biện pháp cụ thể mà hầu hết các ngân hàng đều xây dựng tổ chức thực hiện là hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) với sự có mặt không thể thiếu của kiểm toán nội bộ (KTNB).
Tuy nhiên, hoạt động KTNB của các NHTM Việt Nam hiện nay đang còn tồn tại một số bất cập, hạn chế. Điều này sẽ đặt ra thách thức lớn cho các ngân hàng khi Việt Nam từng bước mở của thị trường tài chính. Cần thiết các NHTM phải xây dựng được cho mình một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực sự của hoạt động KTNB để đề ra các biện pháp cải thiện tổ chức hoạt động của bộ phận này, góp phần vào sự phát triển bền vững chung của hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Trước hết, cần làm rõ quan niệm về hiệu quả hoạt động kiểm toán nội bộ
Hiệu quả được hiểu là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo đạt được các mục tiêu đặt ra. Điều đó có nghĩa là kết quả tạo ra nhiều hơn so với mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng vẫn sử dụng đúng nguồn lực đã được xác định, hoặc kết quả tạo ra đúng như mục tiêu, mục đích hoặc kế hoạch nhưng nguồn lực sử dụng ít hơn.
Như vậy, tính hiệu quả liên quan mật thiết giữa yếu tố đầu vào (nguồn lực sử dụng) và kết quả đầu ra (mục đích của hoạt động). Một hoạt động được coi là hiệu quả nếu nó đảm bảo được đồng thời 2 điều kiện: (1) Đạt được mục tiêu đề ra; và (2) Tiết kiệm các nguồn lực (thời gian, nhân lực và chi phí).
Hiệu quả hoạt động KTNB là đảm bảo đạt được các mục tiêu của NHTM đặt ra khi thiết lập và duy trì bộ phận KTNB đồng thời tối thiểu hóa nguồn lực sử dụng cho KTNB. Cụ thể hiệu quả của hoạt động KTNB thể hiện ở mức độ đạt được mục tiêu của các nhiệm vụ và tiết kiệm các nguồn lực mà nó sử dụng trong quá trình thực hiện công việc.
Nói đến hiệu quả hoạt động KTNB là phải xem xét hai khía cạnh: nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra của KTNB. Vậy tại sao cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động KTNB của các NHTM? Có ba nguyên nhân chính sau:
Nguyên nhân thứ nhất là do vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
NHTM là một trong những tổ chức tín dụng lớn nhất và có vị trí quan trọng nhất trong hệ thống ngân hàng trung gian của các nước, nó đóng vai trò rất quan trọng trong việc làm cầu nối giữa huy động vốn và cho vay vốn trong nền kinh tế.
NHTM với các hoạt động cơ bản là huy động vốn, tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ,... đã thực hiện được các chức năng: trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán. Với chức năng trung gian tài chính - NHTM là một tổ chức với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai chủ thể trong nền kinh tế là các đối tượng tạm thời thâm hụt chi tiêu, bao gồm cả chi tiêu cho tiêu dùng và cho đầu tư, đây là đối tượng cần bổ sung vốn; và các đối tượng thặng dư trong chi tiêu, thu nhập của nhóm đối tượng này lớn hơn nhu cầu chi tiêu, có tiền tiết kiệm. Với chức năng tạo phương tiện thanh toán - Trong điều kiện phát triển thanh toán qua NHTM phát sinh quan điểm hiện đại về phương tiện thanh toán. Khi NHTM cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hóa, dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay, các NHTM đã tạo ra phương tiện thanh toán. Với chức năng trung gian thanh toán - thay mặt khách hàng, NHTM thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Có nhiều hình thức để thực hiện chức năng trung gian thanh toán: Thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, hệ thống thẻ, mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ,… Chức năng trung gian thanh toán đặc biệt quan trọng khi khách hàng phát sinh những hoạt động xuyên biên giới, hội nhập kinh tế toàn cầu.
Hệ thống ngân hàng với các chức năng của nó đã góp phần giúp các hoạt động trong nền kinh tế vận hành trôi chảy và an toàn. Một nền kinh tế không thể phát triển nếu không có hệ thống NHTM hiện đại, hoạt động an toàn - điều này chỉ có thể đạt được khi NHTM có bộ phận KTNB hoạt động hiệu quả.
Nguyên nhân thứ hai là do cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại ảnh hưởng tới kiểm toán nội bộ
NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, theo đó NHTM cũng bao gồm các hình thức sở hữu như các doanh nghiệp khác:
- NHTM Nhà nước: là NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn;
· NHTM 100% vốn nước ngoài: là NHTM được thành lập bởi một hoặc một số ngân hàng nước ngoài và không có sự tham gia góp vốn của phía Việt Nam;
· NHTM liên doanh: là NHTM được thành lập bởi một hoặc một số ngân hàng nước ngoài và ngân hàng trong nước. NHTM liên doanh là sự kết hợp giữa yếu tố nội và yếu tố ngoại;
· NHTM cổ phần: là NHTM hoạt động trên cơ sở góp vốn của các cổ đông. Đây là loại hình NHTM có nhiều ưu điểm, phổ biến trên thế giới và đang có xu hướng được đẩy mạnh.
Bộ phận KTNB là biểu hiện của sự tách biệt giữa Hội đồng quản trị và bộ máy điều hành. Đặc biệt khi các NHTM cổ phần ra đời, thị trường chứng khoán phát triển, nảy sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa các cổ đông và người điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng (ban giám đốc), từ đó xuất hiện nhu cầu kiểm tra của các cổ đông để đảm bảo hoạt động kinh doanh ngân hàng đi đúng mục đích đề ra của chủ sở hữu.
Các NHTM Nhà nước đang có xu hướng chuyển đổi mô hình thành NHTM cổ phần. Trong xu thế phát triển và chuyển đổi đòi hỏi các NHTM phải tổ chức một bộ phận KTNB hoạt động hiệu quả, giải quyết được mẫu thuẫn giữa chủ sở hữu và ban điều hành hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nguyên nhân thứ ba: Do đặc điểm của ngân hàng thương mại tác động tới hoạt động kiểm toán nội bộ
Là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính, hoạt động kinh doanh NHTM có rất nhiều những khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Những đặc điểm này sẽ ảnh hưởng tới hoạt động KTNB của NHTM.
- Đặc điểm về tổ chức:
Cơ cấu tổ chức của NHTM thường phức tạp, nhiều cấp bậc, thường với một hội sở chính, dưới nó là hệ thống các sở/phòng giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện và các công ty trực thuộc (nếu có). Với đặc điểm mạng lưới chi nhánh, sở/phòng giao dịch lớn và phân tán rộng về mặt địa lý kéo theo sự phân quyền lớn và sự phân tán các chức năng trong ngân hàng như chức năng kế toán, chức năng kiểm toán, kiểm soát và chức năng quản lý,... Hậu quả của đặc điểm tổ chức này là rất khó để duy trì được một hệ thống kế toán và những thông lệ hoạt động thống nhất trong toàn tổ chức, đặc biệt đối với các tổ chức có quy mô lớn.
- Đặc điểm sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cung cấp:
o Tính vô hình: Tính vô hình là đặc điểm chính của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, đó cũng là đặc điểm chính của các ngành cung cấp dịch vụ - điểm phân biệt rõ ràng nhất với sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế. Sản phẩm ngân hàng thường được thực hiện theo một quy trình, nó không phải là một vật thể rõ ràng để khách hàng có thể lựa chọn, so sánh để sử dụng. Khách hàng chỉ có thể kiểm tra và xác định chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong và thậm chí sau khi sử dụng.
o Tính thống nhất: Cũng như các sản phẩm của các ngành cung cấp dịch vụ khác, sản phẩm dịch vụ ngân hàng thể hiện tính thống nhất - không thể tách biệt. Quá trình cung cấp và quá trình tiêu dùng sản phẩm dịch vụ cùng song song thực hiện, đồng thời đòi hỏi có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ. Mặt khác, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường phải thực hiện theo quy trình nhất định, không thể tách biệt ra thành nhiều sản phẩm khác nhau, ví dụ, sản phẩm tín dụng bao gồm quy trình thẩm định, quy trình cho vay, quy trình giải ngân,... Đặc tính này làm cho ngân hàng không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho.
o Tính phát triển và đổi mới: Các ngân hàng liên tục phát triển những sản phẩm mới, những công cụ tài chính mới do sức ép của cạnh tranh, tự do hoá tài chính, sự phát triển của khoa học công nghệ. Những sản phẩm này thường có mức rủi ro cao trong khi sự phát triển của chúng thường đi trước những nguyên tắc kế toán, kiểm toán, kiểm soát cũng như những quy tắc giám sát khác. Do đó hoạt động phát triển sản phẩm mới có thể nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro và khả năng có sai phạm ảnh hưởng trọng yếu tình hình tài chính của ngân hàng.
· Đặc điểm về rủi ro trong ngân hàng:
Hoạt động kinh doanh ngân hàng có những loại rủi ro đặc thù ít xuất hiện trong những ngành kinh doanh khác. ngân hàng là trung gian tài chính, là cầu nối dẫn vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt, với quy mô, thời hạn của từng khoản huy động và từng khoản vay rất khác biệt. Do vậy, hoạt động ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động,...) song lợi nhuận ngân hàng cũng đến từ việc chấp nhận các rủi ro này.
o Rủi ro tín dụng: Rủi ro khi một khách hàng hay một đối tác không có khả năng hoàn thành những nghĩa vụ của nó một cách đầy đủ. Cụ thể, rủi ro tín dụng là rủi ro xuất hiện khi người đi vay không có khả năng hoặc không có ý định trả nợ theo đúng các điều khoản trên hợp đồng tín dụng.
o Rủi ro thanh khoản: Rủi ro xuất hiện khi ngân hàng không thể tìm được nguồn vốn với chi phí và quy mô hợp lý tại đúng thời điểm có nhu cầu.
o Rủi ro thị trường (rủi ro giá cả): Rủi ro xuất hiện khi giá trị của tài sản hoặc các nghĩa vụ nợ thay đổi do những biến động của các yếu tố thị trường. Rủi ro thị trường bao gồm ba loại rủi ro sau:
ü Rủi ro lãi suất: Rủi ro xuất hiện khi mức lãi suất liên quan đến các tài sản hoặc quyền được nhận tài sản trong tương lai không tương đương với lãi suất của các nghĩa vụ hay các tài sản nợ.
ü Rủi ro tỷ giá: Rủi ro xuất hiện khi có sự không cân đối giữa những tài sản, quyền với những nghĩa vụ, khoản nợ ghi bằng cùng một đồng tiền.
ü Rủi ro giá chứng khoán: Rủi ro xuất hiện do những thay đổi trong giá cả của một hoặc một số loại chứng khoán đơn lẻ.
o Rủi ro hoạt động: Rủi ro xuất hiện khi hệ thống kế toán của ngân hàng không đủ khả năng xử lý các giao dịch kịp thời và chính xác. Loại rủi ro này có thể làm trầm trọng thêm các loại rủi ro khác.
Những rủi ro trên thường xuất hiện ở nhiều loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Chúng có đặc thù là mang tính gián tiếp, tức là xuất phát từ những biến động của nền kinh tế nói chung hoặc từ rủi ro của khách hàng chuyển thành rủi ro của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng. Phần lớn các rủi ro này đều có thể tích luỹ rất nhanh, nếu không được ghi nhận, giám sát liên tục kịp thời, đầy đủ chúng có thể đẩy ngân hàng sụp đổ nhanh chóng. Vì thế xu hướng hiện nay quản trị rủi ro đang có một vai trò quan trọng trong kinh doanh ngân hàng. Để quản trị và kiểm soát tốt rủi ro, ngân hàng phải thiết lập và duy trì thường xuyên một hệ thống ghi nhận và giám sát rủi ro hiệu quả, đồng thời các nhà quản lý ngân hàng phải có kiến thức, kỹ năng cần thiết phù hợp.
· Đặc điểm khác: Ngoài các đặc điểm chủ yếu trên, một số đặc điểm khác của hoạt động ngân hàng tác động đến KTNB:
o Các ngân hàng tham gia vào một khối lượng các giao dịch lớn và đa dạng cả về số lượng, giá trị. Phần lớn các giao dịch này đòi hỏi phải được xử lý kịp thời nhanh chóng, chính xác và thường có ảnh hưởng trực tiếp đến số liệu trên báo cáo tài chính của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần phải có hệ thống kế toán và KSNB đủ mạnh để thực hiện và kiểm soát dựa trên cơ sở ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin. Hệ thống thông tin trong các ngân hàng thường rất phức tạp với khối lượng lớn các giao dịch được xử lý tự động, trực tuyến và theo thời gian thực.
o Các ngân hàng thường quản lý và giám sát một khối lượng tài sản lớn trong đó chủ yếu là những tài sản tài chính, các khoản mục tiền tệ bao gồm tiền mặt và giấy tờ có giá. Các loại tài sản này thường đòi hỏi phải có những biện pháp bảo vệ an ninh rất chặt chẽ trong bảo quản cất giữ, vận chuyển cũng như chuyển giao, đồng thời nó cũng biến các ngân hàng thành nơi rất nhạy cảm với các vấn đề về gian lận, vượt thẩm quyền. Vì vậy các ngân hàng thường phải thiết lập một hệ thống những thủ tục hoạt động và thủ tục kế toán rõ ràng, chặt chẽ và chuẩn tắc; hệ thống hạn mức chính xác cho quyền hạn của mỗi cá nhân; và hệ thống KSNB nghiêm khắc chặt chẽ.
o Hệ thống ngân hàng là một trong những lĩnh vực bị quản lý chặt chẽ nhất trong nền kinh tế bởi các cơ quan nhà nước. Lý do là vì ngân hàng quản lý một số lượng lớn các tài sản của những người gửi tiền trong khi hoạt động kinh doanh ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Hơn nữa rủi ro trong ngân hàng có tính dây chuyền, một ngân hàng sụp đổ có thể kéo theo khủng hoảng cho toàn hệ thống và để lại những hậu quả nặng nề cả về kinh tế và xã hội. Chính vì thế, tại hầu hết các quốc gia đều đặt ra rất nhiều những quy chế đặc biệt ngăn chặn các ngân hàng chấp nhận rủi ro qua mức hay có những hành vi kinh doanh gian lận nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền cũng như đảm bảo sự an toàn lành mạnh của nền kinh tế. Những quy định, quy chế này sẽ có những tác động đáng kể đến những chuẩn mực, thông lệ kế toán và kiểm toán trong ngành đặc biệt này.
Ngân hàng - một loại hình doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đặc biệt, với những đặc điểm riêng có, luôn tiềm ẩn rủi ro với liền với từng mặt hoạt động của ngân hàng đòi hỏi phải có một hệ thống KSNB chặt chẽ với bộ phận KTNB hoạt động hiệu quả để giúp ngân hàng lường trước những rủi ro có thể gặp phải, đánh giá rủi ro và đưa ra những tư vấn để xử lý những rủi ro đó.
Từ những phân tích trên đây, sự phát triển của hệ thống NHTM có vai trò quyết định tới sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân. Để các hoạt động kinh doanh của NHTM có hiệu quả, đòi hỏi phải có một hệ thống KSNB chặt chẽ với các chức năng hoạt động. Để thiết lập được một hệ thống KSNB chặt chẽ và hoạt động tốt trong thực tế, cần thiết phải có một bộ phận KTNB với mô hình tổ chức phù hợp với đặc thù từng NHTM, một đội ngũ kiểm toán viên nội bộ có trình độ, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm làm việc, đòi hỏi phải có một hệ thống phần mềm trợ giúp hoạt động KTNB, một quy trình KTNB chi tiết với phương pháp KTNB cụ thể. NHTM phải tự xây dựng một bộ phận KTNB, tạo ra cho bộ phận KTNB có những công cụ và sức mạnh để kiểm tra hoạt động của hệ thống KSNB, phát hiện sai phạm, đưa ra khuyến nghị sửa chữa và giám sát sau kiểm toán chặt chẽ, để hoạt động KTNB trong NHTM thực sự hiệu quả, không chỉ là hình thức và bị hệ thống KSNB lấn át, bao trùm.
Còn nữa ...Nguồn www.vacpa.org.vn
Popular Posts
-
8 vị lãnh đạo công ty có mức lương, thưởng tới cả trăm triệu USD mỗi năm và bằng cả nghìn nhân viên dưới quyền cộng lại. Báo cáo của Chính p...
-
Mẫu A310: Tìm hiểu khách hàng và môi trường hoạt động Chuẩn mực áp dụng và người thực hiện Chuẩn mực kiểm toán “Xác định và đánh giá...
-
Mức “trần” lãi suất huy động đã được chính thức quy định tại Thông tư số 02/2011/TT-NHNN được Ngân ...
-
Nhật Bản hiện là quốc gia đánh thuế doanh nghiệp cao nhất Nhật Bản hiện là quốc gia mà ở đó các doanh nghiệp chịu mức thuế thu nhập cao nhấ...
-
Từ 1.1.2011, DN không còn phải đến cơ quan thuế để mua hóa đơn - Ảnh: D.Đ.M ...
-
Số tư liệu: 123/2007/TT-BTC Ngày ban hành: 23-10-2007 Tệp đính kèm: TT123BTC.DOC BỘ T...
-
BỘ TÀI CHÍNH ------- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- Số: 154/2011/TT-BTC Hà Nội, n...
-
BBT: Từ lâu nay, việc chi hoa hồng giảm giá phí kiểm toán đã trở thành phổ biến, thành tệ nạn của hoạt động kiểm toán… Chúng tôi giới thi...
-
Cơ quan quản lý cho rằng bắt buộc sử dụng mã số thuế tự động cho người phụ thuộc từ 1/7 sẽ giúp ngăn ch...
-
Phó chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Đinh Văn Nhã: Quan trọng là phải cơ cấu lại căn bản cơ cấu chi ngân sách Trung ương - ...