Friday, 29 July 2011

KỶ NIỆM ĐỜI KIỂM TOÁN VIÊN (Phần 1)

KỶ NIỆM ĐỜI KIỂM TOÁN VIÊN

BBT: Trong sách kỷ yếu "Hội nghị Tổng kết và Lễ kỷ niệm 20 năm Kiểm toán độc lập (05/2011) đã đăng bài viết này. Tuy nhiên theo yêu cầu của đông đảo KTV và bạn đọc, BBT đăng lại bài này để bạn đọc gần xa tham khảo, có thêm thông tin về nghề nghiệp kiểm toán độc lập".

Các bạn thân mến!

Trong quá trình chuẩn bị tài liệu cho Hội nghị tổng kết và Lễ kỷ niệm 20 năm kiểm toán độc lập, tôi bồi hồi nhớ lại những sự việc – những kỷ niệm không quên trong 20 năm làm kiểm toán viên. Nghĩ rằng sẽ không còn dịp khác để kể lại với các bạn nên đã viết lại trong bài này. Do mới có ý định và viết trong mấy ngày nghỉ lễ nên bài viết này có thể còn sai sót, mong bạn đọc thứ lỗi và hãy chắt lọc lấy những ý nghĩa có lợi ích cho nghề nghiệp.

Nhân dịp này tôi trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến các cơ quan, công ty kiểm toán đồng nghiệp, các kiểm toán viên và bạn đọc đã hỗ trợ, giúp đỡ và cùng cộng tác, giúp tôi hoàn thành trách nhiệm cũng như thực hiện được các nguyện vọng cho nghề nghiệp cũng như cuộc sống.

Kính chúc các bạn vui khỏe, thành đạt và hạnh phúc!

Ông Bùi Văn Mai

Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký VACPA

(Nguyên Giám đốc Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO) từ 5/1991 đến 6/1998; Nguyên Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính từ 7/1998 đến 9/2008; Nguyên Chủ tịch VACPA từ 4/2005 đến 5/2008)

1. KIỂM TOÁN LÀ GÌ

Tôi có anh bạn học từ thời cấp III phổ thông, từ 1963-1967. Vào năm 1990/1991 Anh đã là giáo sư toán học. Cách đây hơn 10 năm Anh hay dẫn đoàn học sinh đi thi toán quốc tế. Sau mấy năm không gặp, hè 1995 gặp Anh. Tôi tặng Anh cuốn sách “Tìm hiểu về kiểm toán độc lập”. Biết tôi làm giám đốc công ty kiểm toán, anh vỗ vai tôi cười bảo: “Kiểm toán là gì? Chắc là kiểm tra toán học phải không?”

2. CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC CẤP

KINH PHÍ SỰ NGHIỆP TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Theo Quyết định số 165 TC/QĐ/TTCB ngày 15/05/1991 của Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Hoàng Quy về việc thành lập công ty dịch vụ kiểm toán Việt Nam, VACO được cấp kinh phí sự nghiệp/hành chính trong vòng 1 năm. Mà các bạn biết đấy, để được cấp kinh phí sự nghiệp, công ty phải được Bộ duyệt định biên, phải sử dụng định mức dự toán, đơn giá lập kế hoạch dự toán xin kinh phí (theo mức của cơ quan Bộ Tài chính).

Thực tế sau 3 tháng đầu hưởng kinh phí hành chính thấy thủ tục nhiều, tiền có ít, lại ký được hợp đồng thu phí đủ chi tiêu, tôi đã xin thôi hưởng kinh phí ngân sách.

3. HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ ĐẦU TIÊN CỦA

CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM ĐẦU TIÊN

Sau khi khai trương hoạt động ngày 21/09/1991, biết có công ty kiểm toán, khách hàng đã đến giao dịch ký hợp đồng. Các bạn biết không, hợp đồng đầu tiên VACO ký là giám định tính đúng đắn của 4 tờ phiếu chi tiền mặt của Xí nghiệp dịch vụ Côn Đảo (văn phòng đại diện tại Hà Nội) với giá trị hợp đồng là 1000.000đ (Một triệu đồng).

4. KIỂM TOÁN LIÊN DOANH CÂU LẠC BỘ QUỐC TẾ

11 LÊ HỒNG PHONG, HÀ NỘI

Từ tháng 8/1991 đến tháng 3/1992 chúng tôi thực hiện hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) của Liên doanh Câu lạc bộ quốc tế. Đã 20 năm làm việc ở Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính, tôi và các đồng nghiệp rất thạo công việc kiểm tra kế toán, nên khi bắt đầu làm kiểm toán, chúng tôi yêu cầu đưa hết chứng từ, sổ sách và BCTC, sau đó chia nhóm ra đếm chứng từ, xác định lại nội dung từng bút toán Nợ/Có, kiểm tra xem có ghi đúng vào sổ cái, sổ chi tiết không. Chúng tôi thi nhau cộng lại số phát sinh, tính lại từng số dư của từng tài khoản, từng sổ chi tiết, đối chiếu với sổ cái, cộng sổ tính lại từng số liệu trên từng báo cáo tài chính…y như làm lại công việc hàng ngày của kế toán…

Công việc chưa xong đã thấy mệt nhoài vì nhiều chứng từ bằng tiếng Anh, chuyển từ nước ngoài về, dịch không hiểu hết…Thấy chúng tôi mỏi mệt, cô kế toán trưởng người Philippin mới nói rằng: “Không biết các anh làm gì chứ đấy không phải là làm kiểm toán.” Sau hỏi ra mới biết cả 2 cô làm kế toán của Liên doanh Câu lạc bộ đều là CPA của Philippin – là KTV của công ty SGV. Chúng tôi đã nhờ các cô trình bày trong 1 buổi hội thảo nhỏ và mở lớp học dạy chúng tôi làm kiểm toán: Thế nào là chọn mẫu, thế nào là trọng yếu…Thế mới nhớ: Đi làm kiểm toán khách hàng lại được chính khách hàng dạy lại cách làm kiểm toán. Tôi chỉ còn nhớ 2 cô khách hàng đó tên là Len và Lin (tên gọi thân mật).

5. GIỐNG NHƯ CÁO VÀ CÒ

Các bạn đều biết chuyện ngụ ngôn “Cáo mời Cò đến nhà ăn tiệc, Cáo múc cháo ra đĩa mời Cò ăn. Hôm sau Cò mời Cáo đến nhà, Cò múc cháo đổ vào bình mời Cáo ăn…” Ngày đầu làm kiểm toán tôi đã gặp chuyện đúng như vậy. Một khách hàng nước ngoài mời chúng tôi đến dự Tết dương lịch và ăn buffet. Vào những năm 1991/1992, ăn buffet còn lạ lẫm lắm nên chẳng ai dám đi lại lấy thức ăn, đứng không quen mỏi chân chẳng ăn được bao nhiêu. Đến Tết âm lịch chúng tôi lại mời các bạn nước ngoài đến nhà mình ăn tết bằng cách ngồi ngay trên chiếu rải giữa nhà. Hai cô gái người nước ngoài mặc váy ngắn đều không ngồi được, thấp thỏm đứng lên, quỳ xuống…cũng không ăn được bao nhiêu. Chỉ là sự vô tình nhưng chuyện xảy ra đúng như chuyện ngụ ngôn thời kỳ đầu kinh tế thị trường.

6. KIỂM TOÁN DỰ ÁN “NGƯỜI HỒI HƯƠNG”

Tháng 3/1992, chúng tôi được Ngân hàng thế giới (NHTG) mời làm kiểm toán cho Dự án do NHTG tài trợ, Dự án “Người hồi hương”. Chả là những người vượt biên không được nước nào cho cư trú, NHTG tài trợ kinh phí bằng cách cấp vốn ban đầu để họ tự kinh doanh sinh sống nếu hồi hương về nước. Họ được cấp tiền mua phương tiện làm ăn như mua xe bò, xe xích lô, mua lợn, trâu, bò chăn nuôi, hoặc hỗ trợ 1 phần tiền mua thuyền, bè đánh bắt hải sản…Những người này chủ yếu sống ở vùng biển hoặc thị trấn nhỏ….Để làm kiểm toán 10 tỉnh ven biển miền Bắc, chúng tôi phải huy động người về hưu từ các ngân hàng, các doanh nghiệp…đến gần 30 người tỏa đi các tỉnh. Xung quanh dự án này thật nhiều kỷ niệm đời KTV.

a. Một “kiểm toán viên” về kiểm toán tại vùng xứ đạo, ở nhà dân, đêm mất một đôi dép nhựa Tiền phong trắng, sáng sớm đã làm đơn trình báo công an xã…nhưng cũng không tìm được. Công ty đã chi trả ½ giá tiền đôi dép.

b. Một bạn nữ về kiểm toán ở một xóm nghèo miền núi, nghèo đến mức bạn đánh vỡ một cái đèn dầu thủy tinh mà không có cách nào mua đền cho chủ nhà được, trước khi về đã để lại một bộ quần áo thường mặc cho chủ nhà…để đền chiếc đèn.

c. Đây là hợp đồng có giá trị khá lớn (22.500 USD), công ty thì nhỏ chưa nhận được sự tin tưởng của khách hàng đến mức NHTG không đồng ý chuyển tiền chi trả trực tiếp vào tài khoản của công ty mà phải chuyển nhờ vào tài khoản của Bộ Tài chính. Đến khi hoàn thành hợp đồng được NHTG chấp nhận báo cáo kiểm toán mới được nhận tiền từ tài khoản của Bộ Tài chính…

7. TÀI TRỢ KINH PHÍ

Công ty vừa thành lập còn quá nhỏ nhoi. Chúng tôi có bàn với chi nhánh công ty kiểm toán INDOCHINA Ltd cũng vừa được phép thành lập tại Việt Nam để tổ chức một cuộc hội thảo về kiểm toán độc lập (KTĐL). Ngày đầu thành lập, công ty kiểm toán còn chưa biết gì về kiểm toán chứ đừng nói doanh nghiệp. Nhiều Ông/Bà giám đốc bảo: “Nói như ông, chúng tôi vừa bị kiểm tra, phải cung cấp tài liệu, giải thích, trình bày mà lại mất tiền là làm sao?...” Dó đó, việc tuyên truyền, quảng bá, hội thảo, tổ chức lớp học về kiểm toán là cần thiết lắm. Chúng tôi có đề nghị INDOCHINA Ltd hỗ trợ kinh phí tổ chức hội thảo. Bạn đồng ý và yêu cầu chúng tôi lập dự toán. Chúng tôi mời giám đốc chi nhánh của bạn đến để cùng báo cáo với lãnh đạo Bộ về hội thảo. Diễn biến buổi làm việc rất vui vẻ và suôn sẻ. Trước khi kết thúc, ông giám đốc người nước ngoài đặt bó tiền tên bàn họp, đẩy nhẹ lại phía Việt Nam và nói: “Như đã trao đổi, chúng tôi hỗ trợ Bộ 20 triệu đồng tổ chức hội thảo.” - “Chúng tôi không thiếu 20 triệu đồng. Ông làm việc này với công ty Ông M…” Cuộc họp kết thúc nhanh chóng.

Sau đó, chúng tôi nhận được chỉ đạo là không tổ chức hội thảo với INDOCHINA Ltd nữa mà chuyển sang cùng làm với NHTG.

Thế mới biết, không phải cứ tài trợ mà người ta đã nhận đâu.

8. LỚP HỌC KIỂM TOÁN ĐẦU TIÊN

Trước khi thành lập Công ty kiểm toán Việt Nam (VACO), các công ty kiểm toán quốc tế (Big 6) đã ra, vào Việt Nam. Ngay sau khi VACO được thành lập, lần lượt Big 6 đều gặp gỡ VACO muốn thành lập liên doanh. Thân thiện nhất lúc đầu là Price Waterhouse (PW), hai bên đã gặp và bàn thảo nhiều lần nhưng rút cuộc không thành vì VACO là công ty của Bộ Tài chính…

Vì thân thiện nhất nên tôi đã chủ động đặt vấn đề nhờ PW tổ chức 1 lớp học về KTĐL. Bạn đồng ý và yêu cầu chúng tôi làm bản đề xuất: Mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng lớp học, thời gian, địa điểm giảng…Tôi đã nhanh chóng đưa ra một bản đề xuất theo yêu cầu của bạn. Mọi đề xuất PW đều nhanh chóng chấp thuận – chỉ riêng nội dung giảng thì bạn cười lớn và bảo…

Các bạn có biết được tôi đã đề xuất PW giảng dạy nội dung gì?

Tôi chuẩn bị 2 trang nội dung dài: kiểm toán là gì, có mấy loại kiểm toán, vì sao phải kiểm toán, KTV là gì, khách hàng kiểm toán là ai; tiêu chuẩn, điều kiện là KTV…Ông Rex Clementson cười bảo: “PW không có người giảng những vấn đề này, tại sao các ông lại yêu cầu giảng những nội dung này…” Tôi phải giải thích mãi PW mới hiểu: “Hãy cứ coi chúng tôi là tờ giấy trắng về kiểm toán, KTĐL…Nếu không dạy chúng tôi và không quảng bá để doanh nghiệp Việt Nam, quan chức, giảng viên, người làm kiểm toán Việt Nam hiểu từ những vấn đề đơn giản đó thì PW cũng không thể hoạt động ở Việt Nam được…” Tôi hỏi lại: “Ở Hồng Kông ai giảng về những nội dung chúng tôi yêu cầu?” (PW từ Hồng Kông vào Việt Nam) – “Ở nước nào cũng vậy, các trường Đại học kinh tế giảng những nội dung các ông yêu cầu”. “Thế PW có thể giảng cho chúng tôi nội dung gì?” “Chúng tôi giảng về chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán, về rủi ro, chọn mẫu…” toàn nói những từ ngữ tiếng Anh mà phiên dịch Việt Nam cũng chưa dùng đến. Phải giải nghĩa loanh quanh…

Cuối cùng chúng tôi cũng thống nhất được nội dung lớp học: VACO giảng 3 ngày đầu với những gì giám đốc VACO biết được từ trước, PW giảng 11 ngày, ôn tập 2 ngày sau đó làm bài kiểm tra/thu hoạch…

Sau 2 tháng PW chuẩn bị, tôi được mời sang Hồng Kông 3 ngày để thông qua tài liệu trước khi mở lớp học. Lần đầu tiên sang một nước “tư bản”, thủ tục thật khó khăn. Người phiên dịch đầu tiên của tôi, anh Đinh Toàn Thắng đã không được đi cùng tôi vì anh đang là nhân viên hợp đồng ngắn hạn. Một cán bộ phiên dịch đối ngoại đã đi cùng tôi. Đã khó khăn lại thêm khó khăn khi anh phiên dịch chỉ quen dịch giao tiếp nay phải dịch từ chuyên môn không chỉ là tiếng Anh mà ngay cả tiếng Việt khi đó cũng chưa dùng mấy: “Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro kiểm toán, trọng yếu, chọn mẫu…” (tất nhiên, những thuật ngữ này bây giờ đã quá quen thuộc với những người trong nghề như chúng ta). Cùng với 2 bạn người Việt đã sang Hồng Kông mấy năm trước, chúng tôi loay hoay, giải thích vòng vo, qua lại…Từ Việt Nam bay sang Hồng Kông, chúng tôi được đón thẳng đến văn phòng PW, làm việc ngay, trưa ăn suất ăn nhanh tại văn phòng, 12h đêm được đưa về khách sạn 4-5 sao. Phòng ốc sang trọng: có 2 phòng ngủ, 1 phòng tiếp khách và 2 phòng phụ…Tôi không kịp đi hết các phòng, lăn ra ngủ - 7h sáng được báo thức, ăn sáng tại khách sạn xong được đón đến văn phòng làm việc. Cứ thế, đến chiều tối ngày thứ 3 tôi được đưa từ văn phòng ra sân bay. Ở Hồng Kông 3 ngày đêm mà tôi chỉ được biết vài ba tòa nhà đi qua lại trong lúc đi ăn tối…

Hai năm trước đó tôi đã ở Lêningrát (Liên xô cũ), đã choáng ngợp với thành trì cách mạng nhưng khi đến Hồng Kông tôi đã ngây ngất vì sự hoa lệ của các công trình và đường phố, cờ, hoa, đèn trang trí…

Lớp học kiểm toán đầu tiên không chỉ để lại kỷ niệm đầu đời làm nghề kiểm toán với những khái niệm và kiến thức mới mẻ và phức tạp (cho dù bây giờ là quá đỗi đơn giản) mà còn vì một đất nước, một xã hội hoàn toàn khác…

9. NHẬN PHÍ KIỂM TOÁN

Ngày kết thúc của một trong vài hợp đồng kiểm toán đầu tiên, mức phí cũng khá lớn (7.000 USD). Sau khi ký biên bản thanh lý hợp đồng, ông Tổng giám đốc khách hàng gọi thủ quỹ mang tiền lên phòng làm việc. Ông Tổng giám đốc sau ít lời cảm ơn đã đưa gói tiền trên cho tôi. Tôi cảm ơn và xin lỗi chưa nhận tiền được. Tôi gọi thủ quỹ và một cán bộ công ty đến nhận tiền từ tay ông Tổng giám đốc sau đó xin phép về trước. Ông Tổng giám đốc bắt tay tôi thật chặt và ngạc nhiên hỏi: “Tại sao ông không nhận tiền?” Tôi nói nguyên tắc kế toán của chúng tôi là thủ quỹ là người nhận tiền. Nhưng vì số tiền lớn nên cần có một người đi cùng để bảo đảm an toàn. Ông ta vui hẳn lên và nói rằng: “Đó cũng là nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế. Nhưng đã 2 năm làm việc ở đây, ông là người đầu tiên từ chối nhận tiền đấy.”

10. CÓ LẼ TÔI LÀ GIÁM ĐỐC ĐẦU TIÊN CỦA CÔNG TY KIỂM TOÁN

…ĐƯỢC MỜI VÀO HỎA LÒ

Trong một ngày làm việc bận rộn vào cuối tháng 3/1993, tôi giật mình khi nhận được tờ giấy mời có mặt lúc 9h sáng hôm sau tại Phòng A…Hỏa Lò Hà Nội (khi đó chưa có công trình Tháp Hà Nội như hiện nay). Mấy cán bộ, nhân viên công ty lo lắng lộ ra mặt. Bạn làm hành chính đứng lặng yên khi trình cặp công văn mới trong đó có tờ giấy mời nói trên. Tôi đọc tờ giấy 2-3 lần và không nói gì. Lật xem lịch làm việc thấy trùng giờ tiếp một khách nước ngoài. Tôi viết mấy dòng vào tờ giấy A4 xong nhờ 1 cán bộ khá đứng tuổi mang đến Phòng A…Hỏa Lò.

Sáng hôm sau tiếp khách hàng 30 phút xong xin lỗi vì có việc gấp cần xử lý. Tôi và anh bạn mang thư hôm trước cùng đến Hỏa Lò. Anh lính gác cổng hơi ngạc nhiên khi chỉ dẫn đường đi cho chúng tôi. Nếu bạn chưa có dịp đến Hòa Lò thì hãy thu xếp đến thăm quan một lần cho biết: Khi đó đường đi nhỏ, hẹp, tường xây 30-50, đèn hơi tối, qua nhiều lần cửa…Vào phòng đầu tiên, tôi được một anh cán bộ mở cửa ra đón, dẫn 2 chúng tôi đi qua một sân nhỏ đến một phòng khác, giới thiệu đến gặp trưởng Phòng A… và chỉ cho mình tôi vào. Tôi gõ cửa 3 lần không thấy có tiếng trả lời, lưỡng lự vài giây, tôi đẩy cửa bước vào. Cảnh tượng trong phòng làm tôi hơi chững lại: căn phòng nhỏ và chật, bày la liệt các tượng gỗ và đồ thờ cúng…một anh bán bộ đang cắm cúi viết, không ngẩng mặt và nói: “Sao đến muộn thế, Tưởng làm giám đốc mà ghê gớm lắm à?...Muốn cho vào tù lúc nào…” Tôi nói xen vào, “Xin lỗi anh, hôm qua tôi đã có người đến xin phép 10h tôi mới đến được…” Thấy tôi vẫn đứng, anh cán bộ đứng ngoài tiến vào kéo ghế mời tôi ngồi: “Tại sao hôm kia không giao tài liệu cho cán bộ của tôi? Tại sao không trả tiền của ông C.R…” Nghe thêm mấy câu nữa thì tôi hiểu ra vấn đề và lý do vì sao tôi được mời vào đây.

Số là thế này: chúng tôi, VACO có hợp danh cùng với ông C.R (C.R & công ty) làm kiểm toán BCTC cho khách sạn Thống Nhất (Metropole Hotel). Ông C.R có thuê một người nước ngoài cùng làm việc đồng thời là người giúp việc. Ông C.R đã bất ngờ chuyển văn phòng và cho bà giúp việc nghỉ việc nhưng chưa trả lương cho bà đã mấy tháng trước. Bà giúp việc đã làm đơn nhờ Phòng A…xử lý, đòi hộ tiền. Ông C.R đã được gọi đến và yêu cầu làm giải trình. Ông C.R nói rằng đã làm việc chung với VACO, theo thỏa thuận khách sạn trả tiền qua tài khoản VACO và VACO chuyển trả tiền cho ông C.R theo % ghi trên hợp đồng. Do VACO chưa trả tiền nên ông chưa có tiền trả cho bà giúp việc. Và anh cán bộ Phòng A…hôm trước đã đến VACO làm việc, yêu cầu cung cấp BCTC, hợp đồng kiểm toán và giải trình về tình hình tài chính, thu chi, yêu cầu xuất trình hồ sơ kiểm toán, báo cáo kiểm toán…Tôi đã trả lời: VACO chỉ có thể cung cấp được một số tài liệu liên quan đến khách hàng khi được chính khách hàng đồng ý. Câu trả lời đó chính là lý do tôi được mời vào Hỏa Lò…

Khi biết rõ lý do, tôi trả lời anh trưởng phòng rằng, hợp đồng chưa kết thúc, khách sạn chưa trả phí thì chúng tôi không thể trả tiền cho ông C.R được. “Vậy khi nào khách sạn trả tiền thi công ty giao tiền cho chúng tôi.” Lại một lần nữa tôi từ chối: “Xin lỗi anh tôi chỉ có thể giao tiền cho ông C.R. Nếu cần các anh đi cùng ông C.R để nhận tiền từ tay ông C.R…” Anh trưởng phòng không vui vẻ và cũng không nói gì thêm.

Mấy hôm sau khách hàng trả tiền cho VACO, tôi thông báo cho ông C.R đến nhận và cũng thông báo lại cho Phòng A…Hỏa Lò. Khi trả tiền cho ông C.R, tôi đã rải 2.000 USD mặt có dãy chữ số và sêri của từng tờ tiền lên máy photo thành 3 bản đính kèm phiếu chi tiền để ông C.R ký nhận. Tôi thấy ông C.R không đếm tiền mà giao ngay số tiền đó cho anh cán bộ đi cùng.

Tôi chẳng lo lắng gì về sự việc xảy ra như các đồng nghiệp trong công ty mà chỉ thấy rằng làm nghề kiểm toán phải vững tin ở mình và mọi sự cẩn trọng đều không bao giờ thừa.

Còn nữa ...

Nguồn: VACPA

Friday, 22 July 2011

Kiểm toán quỹ bình ổn xăng dầu

Quyết định kiểm toán việc sử dụng và trích quỹ bình ổn giá xăng dầu tại 11 đơn vị đầu mối được lãnh đạo Tổng kiểm toán Nhà nước công bố chiều nay.

Theo đó, việc kiểm toán việc sử dụng, quản lý và trích lập quỹ bình ổn giá xăng dầu tại 11 đơn vị bắt đầu thực hiện từ hôm nay cho đến hết tháng 8. Những đơn vị nằm trong danh sách kiểm toán gồm 9 doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu và 2 đơn vị quản lý thuộc 2 bộ Tài chính và Công Thương.

Nhiều câu hỏi đặt ra cho quỹ bình ổn giá xăng dầu. Ảnh: Hoàng Hà.

Đợt kiểm toán này được diễn ra đúng vào thời điểm dư luận bức xúc trước việc "ông lớn" Petrolimex tuyên bố lãi lớn sau thời gian dài kêu lỗ, xin tăng giá hoặc trích ngân sách để bù. Đầu tháng này, khi công bố kế hoạch cổ phần hóa để giới thiệu mình với nhà đầu tư, Petrolimex cho biết lợi nhuận của năm 2010 là 900 tỷ đồng, trong đó lãi từ xăng dầu là 81 tỷ đồng. Công ty đặt mục tiêu lợi nhuận sau thuế năm 2012 đạt tới 2.109 tỷ đồng.

Hồi tháng 1/2011, trong một lần kiểm tra, cơ quan chức năng cũng phát hiện một số doanh nghiệp đầu mối sử dụng sai quỹ bình ổn. Trong đó, số tiền mà Petrolimex sử dụng không đúng mục đích lên tới 1.200 tỷ đồng.

Trao đổi với VnExpress.net, Phó tổng Kiểm toán Nhà nước - Đoàn Xuân Tiên cho biết kế hoạch kiểm toán quỹ bình ổn xăng dầu đã có từ trước chứ không phải khi dư luận bức xúc, kiểm toán mới vào cuộc. "Do đây là kiểm toán chuyên đề nên chúng tôi sẽ không tập trung vào việc làm rõ các vấn đề về lỗ lãi hay cơ cấu hình thành giá bán lẻ", ông Tiên nói.

Đợt kiểm toán này kéo dài 40 ngày, tập trung vào việc quản lý, sử dụng và trích lập quỹ bình ổn xăng dầu. Với hai bộ Tài chính - Công Thương, kiểm toán sẽ làm rõ chức năng nhiệm vụ và việc quản lý quỹ bình ổn có đúng thẩm quyền và quy định của Chính phủ.

Còn đối với 9 nhà nhập khẩu đầu mối, trong đó có Petrolimex, kiểm toán sẽ làm rõ việc trích lập và sử dụng quỹ đã đúng và thực sự hiệu quả. Qua đó, kiểm toán sẽ làm rõ những ảnh hưởng bởi cơ chế, chính sách và cách sử dụng quỹ bình ổn tác động như thế nào đế giá xăng dầu và người tiêu dùng...

Trả lời VnExpress.net về việc thời gian qua, nhiều ý kiến đặt vấn có nên duy trì quỹ bình ổn, ông Tiên cho rằng có quá nhiều yếu tố tác động đến giá xăng dầu trong nước. Trong đó, quỹ chỉ là một phần nên không thể giải quyết được vấn đề về chuyện tăng hay giảm giá bán lẻ trong nước. "Việc nên hay không nên có quỹ hoặc những vấn đề còn tồn tại trong quá trình sử dụng như thế nào, tôi cho rằng kết thúc quá trình kiểm toán, chúng ta mới có thể nói được", ông Tiên nhấn mạnh.

Quỹ bình ổn giá xăng dầu được thành lập từ năm 2009. Nguồn thu của quỹ được trích từ giá bán lẻ mỗi lít xăng dầu, được đặt tại doanh nghiệp và chỉ được sử dụng để bình ổn giá theo chỉ đạo của Liên bộ Tài chính - Bộ Tài chính. Theo quy định, mức trích quỹ bình ổn cho xăng hiện là 400 đồng mỗi lít, còn các loại dầu, mức trích là 300 đồng.

Ngay tại thời điểm thành lập, nhiều ý kiến bày tỏ sự lo ngại về những tiêu cực có thể phát sinh một khi quỹ được hình thành từ sự đóng góp của người tiêu dùng nhưng lại đặt tại các doanh nghiệp và cũng do chính họ quản lý. Thậm chí, trong kỳ họp Quốc hội diễn ra hồi tháng 11/2010, nhiều ý kiến đại biểu cũng bắt đầu đặt vấn đề có nên hình thành quỹ bình ổn giá hay không, một khi nó không thực sự đem lại quyền lợi cho người tiêu dùng?

Tại thời điểm ấy, bản thân các doanh nghiệp cũng có những ý kiến trái chiều khi cho rằng quỹ bình ổn đặt tại doanh nghiệp chỉ tác động tới các nhà nhập khẩu chiếm thị phần lớn. Số tiền trích lập quỹ sẽ tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp lớn từ đó tạo ra lợi thế về giá dẫn đến độc quyền - tiêu diệt cạnh tranh trong kinh doanh xăng dầu.

Trên thực tế, đầu tháng 6, khi giá thế giới hạ xuống mức rất thấp, người tiêu dùng trong nước hy vọng giá bán lẻ xăng dầu sẽ giảm. Thế nhưng, trái với mong đợi này, Liên bộ Tài chính - Công Thương tuyên bố không giảm giá bán, thay vào đó, thuế nhập khẩu được điều chỉnh tăng lên 5% cùng với việc tăng thu cho quỹ bình ổn.


(Theo Vnexpress)

KỶ NIỆM 20 NĂM HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP (1991-2011)

héi kiÓm to¸n viªn hµnh nghÒ viÖt nam (vacpa)

§· thùc hiÖn TèT c¸c tr¸ch nhiÖm do

bé tµi chÝnh chuyÓn giao

TS. Hà Thị Ngọc Hà - Phó Vụ trưởng

Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán

1. Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán trên thế giới:

Trong điều kiện kinh tế thị trường, BCTC của doanh nghiệp phải trung thực, minh bạch và công khai vì liên quan đến lợi ích, nghĩa vụ của nhiều nhà đầu tư. Để góp phần đảm bảo yêu cầu trên, những người hành nghề kế toán, kiểm toán đã lập ra tổ chức nghề nghiệp độc lập để thực hiện trách nhiệm đào tạo, kiểm soát chất lượng, xác nhận năng lực, cung cấp thông tin và quản lý đạo đức nghề nghiệp những người hành nghề này. Nhờ đó uy tín, danh tiếng của những người hành nghề ngày càng được nâng cao, không chỉ được từng nước mà nhiều nước thừa nhận, như Hiệp Hội kế toán công chứng Anh (ACCA) hiện có 140.000 Hội viên, 83 văn phòng đại diện trên 64 nước trên thế giới, đã có văn phòng và gần 400 hội viên ở Việt Nam; Hội kế toán viên công chứng Australia (CPA A) hiện có 132.000 Hội viên, đang làm việc tại hơn 111 quốc gia trên thế giới; có văn phòng và 98 Hội viên ở Việt Nam. Cơ quan Nhà nước nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận kết quả hoạt động của các Hội nghề nghiệp này. Tuy nhiên Nhà nước vẫn thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động của các Hội nghề nghiệp.

Các Hội nghề nghiệp quốc tế thường được Nhà nước thừa nhận các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu, soạn thảo và công bố Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán và Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; Ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán;

- Tổ chức đào tạo, tổ chức thi và cấp chứng chỉ Hội viên sau 3-5 năm kinh nghiệm thực tế.

- Tổ chức cập nhật kiến thức cho Hội viên; Cung cấp thông tin nghề nghiệp và tư vấn chuyên môn cho Hội viên;

- Kiểm soát chất lượng dịch vụ của Hội viên; Quản lý đạo đức nghề nghiệp và xử lý các sai phạm của Hội viên.

Hội nghề nghiệp ở các nước đang phát triển được Nhà nước giao có sự khác nhau về: (1) Việc công bố Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán và (2) Việc tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề.

Các qui định liên quan đến mục đích, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội nghề nghiệp nói trên được qui định trong văn bản pháp luật hoặc các hình thức khác, có nước có Luật riêng về Hội nghề nghiệp tự quản; có nước có các chương riêng trong Luật kế toán viên công chứng…

2. Nội dung công việc Bộ Tài chính đã chuyển giao cho VACPA

Năm 2005, xét đến sự cần thiết của công cuộc đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế; xét điều kiện thực tế của các Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán đã có ở Việt Nam, trong đó có VACPA là hội nghề nghiệp đi tiên phong trong việc tổ chức bộ máy và hoạt động theo mô hình của tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp. Ngày 14/07/2005 tại Quyết định số 47/2005/QĐ-BTC, Bộ Tài chính đã chuyển giao một số công việc liên quan đến quản lý hành nghề kiểm toán cho VACPA theo lộ trình chuyển giao phù hợp, gồm: (1) Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp cho KTV hành nghề. Thực hiện cập nhật kiến thức cho KTV hành nghề; (2) Quản lý thống nhất danh sách KTV hành nghề, danh sách doanh nghiệp kiểm toán (DNKT); (3) Xem xét điều kiện và công khai danh sách KTV hành nghề, danh sách DNKT đủ điều kiện hành nghề; (4) Thực hiện kiểm tra tuân thủ pháp luật về kiểm toán, chất lượng dịch vụ trong các DNKT. Hàng năm thực hiện tổng kết, đánh giá chất lượng dịch vụ và hoạt động nghề nghiệp của KTV hành nghề, hoạt động kiểm toán và báo cáo với Bộ Tài chính; (5) Các việc khác như: Tổ chức ôn thi và tham gia tổ chức thi KTV.

Trong năm 2008, Bộ Tài chính tiếp tục uỷ quyền cho VACPA thực hiện việc nghiên cứu, soạn thảo, cập nhật Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế (Quyết định số 1053/QĐ-BTC ngày 13/5/2008).

3. Đánh giá kết quả công việc VACPA đã đạt được từ khi Bộ Tài chính chuyển giao :

(1). Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và cập nhật kiến thức cho KTV hành nghề:

Công việc cập nhật kiến thức về cơ bản đạt kết quả tốt do VACPA có nhiều cải tiến và không ngừng nâng cao chất lượng thông qua các công việc mà VACPA đã làm cụ thể như sau:

- Thứ nhất: VACPA đã chủ động lập Kế hoạch tổ chức các lớp cập nhật kiến thức KTV ngay từ đầu năm (Nêu rõ dự kiến thời gian, chương trình và nội dung cập nhật kiến thức của từng lớp học trong năm), để gửi xin ý kiến, thông báo công khai trên trang web của VACPA và tổng hợp, tiếp thu ý kiến tham gia của các DNKT trước khi chính thức thông qua. Sau đó VACPA thông báo Kế hoạch tổ chức các lớp cập nhật kiến thức KTV Việt Nam và KTV người nước ngoài để các DNKT chủ động bố trí thời gian và đăng ký tham dự các lớp học cho KTV, đáp ứng yêu cầu cập nhật kiến thức và đảm bảo đủ thời gian qui định.

- Thứ hai: VACPA đã hợp tác với nhiều tổ chức và Hội nghề nghiệp quốc tế có uy tín như ACCA, CPAA, Đại học Swinburne (Australia), các trường Đại học, các Cục, Vụ, Viện của Bộ Tài chính và các DNKT lớn nên đã mời, bố trí được nhiều chuyên gia, giảng viên trong nước và quốc tế có năng lực chuyên môn cao, kinh nghiệm thực tế nhiều. Việc tổ chức lớp cập nhật đã được thực hiện nghiêm túc, có biện pháp xử lý nghiêm, kịp thời các sai phạm.

- Thứ ba: VACPA đã tổ chức lấy và tiếp thu ý kiến học viên sau mỗi lớp cập nhật kiến thức nên các lớp học đã được cải cách, đổi mới đáng kể cả về nội dung học, lựa chọn giảng viên và địa điểm học ngày càng tốt hơn;

- Thứ tư: Về hình thức cập nhật, VACPA đã tổ chức có sự kết hợp giữa các lớp giảng dạy với các buổi toạ đàm, giao tiếp với Hội viên, trả lời câu hỏi, tổ chức hội thảo; giữa lớp mở tập trung 3-4 ngày cho các nội dung cần cập nhật với lớp mở theo từng chuyên đề kết hợp lớp học trong và ngoài giờ, ngày nghỉ… bảo đảm mỗi KTV đều dự ít nhất là 40 giờ, có ít nhất 1 bài kiểm tra đạt yêu cầu; Hàng năm VACPA có Bảng tổng hợp số giờ tham dự các lớp cập nhật kiến thức cho từng KTV hành nghề, của từng DNKT và công khai rộng rãi trên Website của VACPA làm cơ sở xem xét khi xác nhận đăng ký hành nghề.

- Thứ năm: Về nội dung cập nhật được cải tiến đa dạng và phong phú hơn để đáp ứng yêu cầu của người hành nghề. Ngoài các nội dung cơ bản phải cập nhật, VACPA còn tổ chức nhiều lớp cập nhật về các vấn đề chuyên sâu mà hầu hết các DNKT qui mô vừa và nhỏ không có khả năng thực hiện như: Lập BCTC hợp nhất, hợp nhất kinh doanh, phân tích BCTC nâng cao, kỹ năng soát xét file kiểm toán, định giá tài sản, thẩm định dự án đầu tư, kiểm toán nội bộ và phát hiện gian lận, chuyển đổi và tái cơ cấu doanh nghiệp, thay đổi trong các chuẩn mực BCTC quốc tế, kỹ năng quản lý, lãnh đạo, đạo đức nghề nghiệp và thông tin nghề nghiệp quốc tế…VACPA đã phân loại các nội dung cập nhật cho phù hợp với từng loại đối tượng như: Ban lãnh đạo, trưởng phó phòng, người vừa được cấp chứng chỉ đủ điều kiện hành nghề...Và năm 2011 còn có lớp đào tạo cho trợ lý kiểm toán viên mới tuyển dụng của các công ty kiểm toán.

(2). Quản lý thống nhất danh sách KTV hành nghề và danh sách DNKT đang hành nghề kiểm toán độc lập trên cả nước

Trong các năm gần đây số lượng KTV hành nghề và DNKT tăng nhanh, việc chia tách các DNKT lớn thành nhiều DNKT mới hoặc sáp nhập giữa các DNKT nhỏ và sự biến động tăng, giảm KTV đăng ký hành nghề xảy ra khá phổ biến và phức tạp. Thực tế này đòi hỏi VACPA phải có cách thức triển khai phù hợp. Hai loại công việc trên khi được chuyển giao, VACPA đã thực hiện tốt, có hiệu quả, cụ thể như sau:

Thứ nhất: VACPA đã có công văn hướng dẫn chi tiết việc đăng ký hành nghề gửi đến các DNKT, đồng thời có Qui chế nội bộ hướng dẫn qui trình xử lý công việc tạo điều kiện cho các DNKT đăng ký hành nghề thuận lợi. Ngoài ra, VACPA có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước liên quan như Vụ CĐKT&KT, UBCKNN và Cơ quan đăng ký kinh doanh các tỉnh, thành phố để trao đổi, xin ý kiến, cung cấp thông tin trong quá trình quản lý và xem xét, xác nhận KTV và DNKT đủ điều kiện hành nghề.

Thứ hai, VACPA đã có nhiều đổi mới thực hiện quản lý thống nhất danh sách KTV hành nghề và DNKT theo qui định, theo chương trình phần mềm theo dõi, cập nhật toàn bộ KTV hành nghề của các DNKT và một số doanh nghiệp khác. Mọi thông tin thay đổi của Hội viên, KTV hành nghề, DNKT đăng ký hàng năm đều được cập nhật hàng ngày. Đồng thời thực hiện hình thức công khai trên trang Website của VACPA toàn bộ danh sách KTV hành nghề và DNKT đủ điều kiện hành nghề trong cả nước để cung cấp thông tin kịp thời cho các cơ quan nhà nước và các doanh nghiêp, tổ chức có nhu cầu kiểm toán có thể lựa chọn KTV hành nghề và DNKT, hạn chế đáng kể tình trạng KTV không hành nghề vẫn đăng ký hành nghề hoặc có KTV đăng ký hành nghề ở hai nơi; hạn chế hoàn toàn KTV không đủ điều kiện vẫn làm giám đốc DNKT như trước đây.

(3). Công việc kiểm tra tuân thủ pháp luật về kế toán, kiểm toán, chất lượng dịch vụ trong các DNKT

Qua các năm, với nhân lực còn hạn chế nhưng VACPA đã có nhiều cải tiến, và nỗ lực để hoàn thành tốt công việc kiểm tra tuân thủ pháp luật về kế toán, kiểm toán, chất lượng dịch vụ trong các DNKT, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Có nhiều thay đổi trong cách thức tổ chức kiểm tra như:

- Hàng năm VACPA đã thông báo dự kiến Kế hoạch kiểm tra thường niên tình hình hoạt động và chất lượng dịch vụ cho các DNKT được kiểm tra (định kỳ 3 năm một lần). Trong Kế hoạch kiểm tra nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung và phạm vi kiểm tra; thời gian kiểm tra và danh sách đoàn kiểm tra; trình tự kiểm tra, gửi kèm Kế hoạch kiểm tra có Danh mục câu hỏi kiểm tra chất lượng dịch vụ yêu cầu các DNKT tự tổ chức kiểm tra, tự đánh giá kết quả kiểm tra vào Bảng câu hỏi và gửi Báo cáo kết quả tự kiểm tra cho VACPA.

- Số lượng các đơn vị được kiểm tra tăng hàng năm; công việc kiểm tra chia thành các đợt khác nhau, mỗi đợt chia thành nhiều đoàn; thành phần từng đoàn kiểm tra có sự tham gia của cán bộ chuyên trách của VACPA, của Bộ Tài chính và Hội viên của VACPA huy động từ các DNKT lớn; thời gian kiểm tra từng đơn vị mỗi năm đều dài hơn.

- Nội dung và phạm vi kiểm tra khá toàn diện, bao gồm: Kiểm tra việc xây dựng và thực hiện các quy chế kiểm soát nội bộ, qui chế kiểm soát chất lượng dịch vụ và kiểm tra các Hồ sơ làm việc cho từng loại dịch vụ, cho các loại khách hàng khác nhau. Nội dung kiểm tra từ chỗ chỉ kiểm tra thủ tục hành chính, thủ tục kiểm toán nay đã kiểm tra nội dung tài chính, chất lượng ý kiến kiểm toán.

- Thành phần đoàn kiểm tra của VACPA có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm thực tế lâu năm. Qua kiểm tra đã phát hiện nhiều sai sót ở đơn vị được kiểm tra mà chỉ những người thực tế hành nghề mới có khả năng phát hiện. Việc tăng cường kiểm tra đã góp phần đáng kể trong việc tăng cường chất lượng hoạt động và chất lượng dịch vụ kiểm toán trong các DNKT nói chung, đặc biệt là các DNKT nhỏ và vừa.

Thứ hai: Cuối đợt kiểm tra VACPA đều có Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra gửi Bộ Tài chính, tất cả các DNKT và công khai trên Website VACPA để phát huy các mặt tốt và chấn chỉnh, rút kinh nghiệm về các sai sót phát hiện qua kiểm tra. Trong quá trình hoạt động, khi phát sinh các sai phạm, đã yêu cầu DNKT báo cáo, có thể cử người xuống kiểm tra và báo cáo kết quả với Bộ Tài chính.

Hàng năm đều tổ chức tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả hoạt động nghề nghiệp kế toán, kiểm toán để báo cáo Bộ Tài chính và làm tài liệu cùng Bộ Tài chính tổ chức họp thường niên tất các giám đốc các DNKT đang hoạt động tại Việt Nam, nhằm rút kinh nghiệm, sửa chữa sai sót và đề ra hướng phát triển cho năm sau.

(4). Tham gia xây dựng các chế độ, chính sách, chuẩn mực kế toán, kiểm toán:

Thực hiện Quyết định số 1053/QĐ-BTC ngày 13/5/2008 của Bộ Tài chính ủy quyền cho VACPA thực hiện soạn thảo Chuẩn mực kiểm toán trình Bộ Tài chính ban hành, từ năm 2009 VACPA đã thành lập Ban soạn thảo, ký thỏa thuận sử dụng CMKiT quốc tế với IFAC, tổ chức dịch, soạn thảo được 12 chuẩn mực kiểm toán. Đến nay đã trình dự thảo 09 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam để Bộ Tài chính xem xét ban hành.

VACPA đã tích cực tham gia xây dựng các chế độ, chính sách tài chính, kế toán, kiểm toán, đặc biệt tham gia là thành viên Ban soạn thảo Luật Kiểm toán độc lập và có nhiều đóng góp thiệt thực trong quá trình soạn thảo Luật. Với sự trợ giúp của Dự án “Tăng cường năng lực cho VACPA” do WB tài trợ, Hội đã chủ trì soạn thảo được “Chương trình kiểm toán mẫu”, tổ chức đào tạo và triển khai áp dụng thử tại 31 DNKT và đã hoàn chỉnh ban hành chính thức áp dụng rộng rãi từ năm 2010.

(5). Các công việc khác:

- Các năm qua VACPA đã cử một đại diện của VACPA tham gia Hội đồng thi KTV và kế toán viên hành nghề cấp Nhà nước và cử cán bộ tham gia Tổ thường trực Hội đồng thi để trực tiếp tham gia các công việc theo sự phân công của Hội đồng thi. Đã tham gia phát hành hồ sơ thi KTV, giúp Bộ xem xét điều kiện dự thi khi tiếp nhận hồ sơ của người dự thi.

- Tổ chức các lớp học và ôn thi cho tất cả các môn thi cho người Việt Nam và cho người nước ngoài dự thi lấy chứng chỉ KTV; các lớp học ôn thi đã được cải tiến, lựa chọn các giảng viên có trình độ chuyên môn cao, khả năng giảng dạy tốt.

4. Các công việc tiếp theo

Nhà nước cần tiếp tục thực hiện việc chuyển giao các công việc liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập cho VACPA vì các lý do sau:

- Hoạt động kiểm toán đòi hỏi sự độc lập, trung thực, minh bạch, chịu sự kiểm soát của cả xã hội. Do đó, cần có sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp chuyên nghiệp nhằm giảm nhẹ thủ tục hành chính và sự can thiệp trực tiếp của cơ quan nhà nước vào doanh nghiệp. Các công việc Bộ Tài chính đã chuyển giao cho VACPA thực hiện từ năm 2005 và thực tế qua đánh giá đã chứng minh việc chuyển giao này là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội, đúng với chủ trương đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết Đại hội Đảng IX nêu rõ: “cần mở rộng hơn các hình thức tập hợp nhân dân, tham gia các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp…” và “hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà vì nhu cầu, lợi ích của nhân dân. Những tổ chức này được Nhà nước uỷ quyền thực hiện một số nhiệm vụ, cung cấp một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng. Thông qua đó, Nhà nước có thể tập trung sức lực để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng”.

- Công việc chuyển giao trong 6 năm qua đã đạt hiệu quả tốt: Về cơ bản VACPA đã và đang triển khai thực hiện tốt, có hiệu quả các công việc do Bộ Tài chính chuyển giao.Trong các năm qua, để thực hiện được các công việc Bộ Tài chính chuyển giao, VACPA đã hình thành được tổ chức bộ máy với các qui chế hoạt động theo mô hình của tổ chức nghề nghiệp quốc tế. Bước đầu VACPA đã góp phần nâng cao chất lượng và uy tín KTV hành nghề thông qua hoạt động đào tạo, cập nhật kiến thức, tư vấn chuyên môn, kiểm soát chất lượng, quản lý hành nghề và quan hệ quốc tế. Xã hội đã biết đến VACPA và tổ chức quốc tế bước đầu đã quan tâm đến hoạt động của VACPA.

- Các công việc Bộ Tài chính đã chuyển giao cho VACPA thực hiện trong các năm qua và thực tế qua đánh giá đã chứng minh việc chuyển giao cho Tổ chức nghề nghiệp những công việc này là hợp lý. Các quy định trên phù hợp với thông lệ quốc tế và là cơ sở pháp lý để Việt Nam triển khai đàm phán để thực hiện Hiệp định khung về thừa nhận lẫn nhau về hành nghề kế toán, kiểm toán giữa các nước thuộc khối ASEAN đã được ký kết vào tháng 26/2/2009.

Kế toán, kiểm toán là một loại hình dịch vụ phổ biến và quan trọng ở mọi quốc gia.Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu sẽ dẫn đến sự hình thành thị trường thống nhất về dịch vụ kiểm toán, trước hết là quốc gia, tiếp theo ở cấp khu vực, sau đó là toàn cầu. Trong bối cảnh đó, việc đẩy nhanh sự phát triển, nâng cao trình độ nghề nghiệp và đảm bảo chất lượng dịch vụ kiểm toán tiếp cận và ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với mọi quốc gia đang phát triển, và trong sự nghiệp quan trọng đó, vai trò của Hội nghề nghiệp là rất lớn và cần được Nhà nước quan tâm đặc biệt. Việc chuyển giao cho VACPA những công việc như đã nêu trên trong các năm qua là kịp thời và phù hợp với thông lệ các nước, thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước về quản lý hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam là thực hiện theo nguyên tắc kết hợp quản lý Nhà nước với phát huy vai trò tự quản của Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán. Thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ triển khai soạn thảo Nghị định để hướng dẫn thi hành Luật Kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 đã được Quốc hội thông qua ngày 29/3/2011 và được Chủ tịch nước ký Lệnh số 06/L-CTN công bố ngày 20/4/2011. Trong Nghị định này sẽ quy định rõ các công việc mà Thủ tướng Chính phủ sẽ giao cho VACPA theo quy định tại Khoản 2, Điều 12 của Luật Kiểm toán độc lập: “ Tổ chức nghề nghiệp về kiểm toán được bồi dưỡng kiến thức cho kiểm toán viên, kiểm toán viên hành nghề và thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập do Chính phủ quy định”./.

(Theo VACPA)

Nên sớm soát xét báo cáo tài chính theo quý

NÊN SỚM SOÁT XÉT

BÁO CÁO TÀI CHÍNH THEO QUÝ

Ông Bùi Văn Mai

“Cơ quan quản lý nên khuyến khích DN thay đổi kỳ lập báo cáo tài chính (BCTC), để tạo tiền đề sớm triển khai soát xét BCTC theo quý, nhằm minh bạch thông tin hoạt động của DN niêm yết hơn nữa”, ông Bùi Văn Mai, Tổng thư ký Hiệp hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) chia sẻ với ĐTCK.

Hữu Hòe

Biên bản hợp tác được VACPA ký với Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCK) ngày 19/7 đưa ra những biện pháp gì để nâng cao chất lượng hoạt động soát xét, kiểm toán BCTC, thưa ông?

VACPA và UBCK đã hợp tác khá hiệu quả với nhau trong thời gian 6 năm qua và việc ký thoả thuận hợp tác là để khẳng định hiệu quả hợp tác cũng như đưa quan hệ hợp tác giữa hai bên đi vào chiều sâu hơn, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán đối với DN niêm yết, công ty chứng khoán. Theo nội dung hợp tác giữa hai bên, UBCK sẽ hỗ trợ đào tạo các kiểm toán viên (KTV) là hội viên của VACPA về văn bản pháp lý trong lĩnh vực chứng khoán. UBCK có thể có các báo cáo, đánh giá, nhận xét về hoạt động của các CTKT, tổng hợp các sai sót thường gặp của các CTKT, phổ biến những yêu cầu của UBCK về kiểm toán các DN niêm yết trong những năm tới, để CTKT kịp thời nắm bắt và thực hiện tốt. Ngược lại, VACPA sẵn sàng tham gia góp ý vào các dự thảo văn bản pháp quy về chứng khoán mà UBCK chủ trì soạn thảo…. Đặc biệt, hai bên sẽ chú trọng phối hợp kiểm tra, giám sát việc soát xét BCTC, đánh giá chất lượng của các KTV, BCKT, BCTC của các tổ chức niêm yết.

Hai bên sẽ thúc đẩy việc sớm thực hiện soát xét BCTC theo quý nhằm nâng cao tính minh bạch trong công bố thông tin của DN niêm yết thay vì dừng lại ở soát xét bán niên như hiện nay?

Cách đây 2 năm, VACPA cùng với Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) có công văn đề nghị UBCK và Bộ Tài chính yêu cầu DN thực hiện soát xét BCTC quý và bán niên. Tuy nhiên, qua phân tích, cơ quan quản lý nhận thấy nếu soát xét theo quý sẽ khiến lượng công việc tăng lên đột ngột đối với cả cơ quan quản lý, CTKT lẫn DN niêm yết, nên trước mắt chỉ thực hiện soát xét BCTC bán niên. Sau khi việc thực hiện soát xét BCTC bán niên dần trở nên bình thường và quen thuộc, thì cần nghiên cứu để sớm tiến thêm một bước là thực hiện soát xét BCTC quý. Điều đó sẽ tốt hơn rất nhiều cho việc công khai, minh bạch thông tin tài chính thường kỳ và hàng năm.

Việc khuyến khích DN thay đổi kỳ lập BCTC năm theo Luật Kế hoán, thay vì hầu hết lập vào ngày 31/12 hàng năm như hiện nay, sẽ giúp sớm triển khai soát xét BCTC theo quý, thưa ông?

Đúng vậy, bởi hiện hầu hết DN lập BCTC vào ngày 31/12, trong khi đây là thời điểm DN phải hoàn tất rất nhiều công việc như: khoá sổ kế toán, đối chiếu công nợ, thanh quyết toán… dẫn đến quá tải cho không chỉ DN, mà cả kiểm toán viên và cơ quan quản lý. Thực tế, UBCK cũng bị rơi vào tình trạng quá tải trong quá trình nhận và nhắc nhở các DN chậm nộp BCTC theo hạn định, bởi số lượng DN niêm yết ngày càng nhiều. Nút thắt này cần được nhanh chóng tháo gỡ, nếu muốn sớm triển khai hoạt động soát xét BCTC theo quý. Muốn vậy, Bộ Tài chính nên có chính sách khuyến khích DN thay đổi niên độ kế toán 12 tháng, bởi Luật Kế toán đã cho phép DN có thể lập BCTC năm vào 4 kỳ: 31/3, 30/6, 30/9, và 31/12… Để đảm bảo thực hiện soát xét BCTC theo quý hiệu quả, công tác kế toán, lập BCTC phải được DN tiến hành đạt chất lượng, đảm bảo về thời gian. Cơ quan quản lý cũng cần sớm hoàn chỉnh các quy định về chế độ kế toán theo hướng đầy đủ, đồng bộ hơn.Việc DN công bố BCKT có tác động đáng kể đến diễn biến TTCK. Trong khi đó việc dồn dập công bố BCKT vào cuối năm, khiến nhiều thời điểm trong năm thị trường rơi vào trạng thái “đói” thông tin trong khi đó cuối năm lại "bội thực". Nếu thay đổi thời điểm lập BCTC năm sẽ giúp cho việc kiểm toán, giám sát và công bố các báo cáo này diễn ra rải khắp trong năm, qua đó hỗ trợ tích cực cho TTCK, nhất là NĐT có cơ hội đa dạng kế hoạch tham gia thị trường mỗi khi tiếp cận được với BCKT.

(Theo ĐTCK)-Nguồn VACPA

THÔNG BÁO TÀI LIỆU HỌC, ÔN TẬP, THI KIỂM TOÁN VIÊN CHÍNH THỨC NĂM 2011 DO BỘ TÀI CHÍNH PHÁT HÀNH THÁNG 7/2011

Kính gửi: Các Anh/Chị Học viên Lớp ôn thi KTV 2011

Các bạn quan tâm

VACPA xin thông báo tới các Anh/Chị Học viên đã tham gia lớp học ôn thi của VACPA và các bạn quan tâm có thể tải toàn bộ các Tài liệu học, ôn tập, thi Kiểm toán viên và Kế toán viên hành nghề (dùng cho kỳ thi năm 2011) từ trang Website của Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn (Mục Thông báo hoặc Gõ vào thanh công cụ Tìm kiếm chữ “Tài liệu thi năm 2011”), hoặc tải về đường link dưới đây:

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/ttsk/1370574?pers_id=2177083&item_id=42348946&p_details=1

Bao gồm:

- Quyển I: Gồm 05 chuyên đề áp dụng cho người dự thi kiểm toán viên và kế toán viên hành nghề;

- Quyển II: Gồm 03 chuyên đề áp dụng cho người dự thi kiểm toán viên;

Xin lưu ý:

- Trong 08 chuyên đề trên thì 03 chuyên đề không có bất kỳ thay đổi nào so với tài liệu học và ôn thi do VACPA đã phát cho các Anh/chị Học viên tại lớp học. (Môn Kiểm toán, Ngoại ngữ, Tin học)

- Có 05 chuyên đề có sửa đổi, bổ xung, gồm:

+ Chuyên đề môn Tài chính;

+ Chuyên đề môn Pháp luật;

+ Chuyên đề môn Thuế;

+ Chuyên đề môn Kế toán;

+ Chuyên đề môn Phân tích HĐTC;

Các phần bổ xung này, VACPA đã gửi trực tiếp cho các Học viên qua địa chỉ email của lớp học: loponthiktv2011@gmail.com

VACPA xin chúc các Anh/Chị Học viên khai thác tốt tài liệu hữu ích trên để việc học, ôn tập và thi đạt hiệu quả cao nhất.

Trân trọng!

BAN TỔ CHỨC


(Nguồn: VACPA)

Wednesday, 20 July 2011

Cổ đông chiến lược không được chuyển nhượng cổ phần trong 5 năm-Thông tư 59/2011 của Chính phủ

Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chỉ có tối đa 3 cổ đông chiến lược. Ngân hàng muốn chọn nhà đầu tư chiến lược phải được Thủ tướng duyệt.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 59 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 109 ngày 26/6/2007.

Theo đó, chỉ có 3 đối tượng được cổ phần hóa, giảm một nửa so với quy định trước đây, bao gồm công ty mẹ của Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước, công ty thuộc các Bộ, UBND tỉnh, thành phố và công ty 100% vốn nhà nước chưa chuyển thành công ty TNHH một thành viên.

Mỗi công ty sau khi cổ phần hóa chỉ có tối đa 3 nhà đầu tư chiến lượng. Các cổ đông chiến lược này không được chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn tối thiểu 5 năm. Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng trước thời hạn thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.

Số cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và nhà đầu tư khác tối thiểu là 25% vốn điều lệ, trong đó số cổ phần bán cho nhà đầu tư khác không thấp hơn 50%.

Với các doanh nghiệp quy mô lớn có vốn nhà nước trên 500 tỷ đồng hoạt động trong những lĩnh vực như bảo hiểm, ngân hàng, bưu chính viễn thông, hàng không, khai thác than, dầu khí và các công ty mẹ thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước nếu phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì phải do Thủ tướng quyết định tiêu chí lựa chọn, phương thức bán và số lượng cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược.

Nghị Định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

Nghị Định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

CHÍNH PHỦ

- Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
- Căn cứ Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Căn cứ Luật số 34/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai ngày 18 tháng 6 năm 2009;
- Căn cứ Luật số 38/2009/QH12 về sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19 tháng 6 năm 2009;
- Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH

Chương 1
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung về sở hữu nhà ở, phát triển nhà ở, quản lý việc sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở quy định tại Luật Nhà ở.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

1. Tổ chức, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển nhà ở tại Việt Nam;

2. Tổ chức, cá nhân sở hữu nhà ở, sử dụng nhà ở và tham gia giao dịch về nhà ở tại Việt Nam;

3. Cơ quan quản lý nhà nước các cấp về lĩnh vực nhà ở;

4. Tổ chức, cá nhân không thuộc diện quy định tại các khoản 1, 2 và khoản 3 Điều này nhưng có các hoạt động liên quan đến lĩnh vực nhà ở.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Nhà ở thương mại là nhà ở do tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng để bán, cho thuê theo nhu cầu và cơ chế thị trường;

2. Nhà ở xã hội là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53, Điều 54 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này mua, thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định;

3. Nhà ở công vụ là nhà ở do Nhà nước đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 60 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này thuê trong thời gian đảm nhiệm chức vụ theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định này;

4. Nhà biệt thự tại đô thị là nhà ở riêng biệt (hoặc có nguồn gốc là nhà ở đang được dùng vào mục đích khác) có sân, vườn, hàng rào và lối ra vào riêng biệt, có số tầng chính không quá ba tầng (không kể tầng mái che cầu thang, tầng mái và tầng hầm), có ít nhất ba mặt nhà trông ra sân hoặc vườn, có diện tích xây dựng không vượt quá 50% diện tích khuôn viên đất, được xác định là khu chức năng trong quy hoạch đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

5. Nhà chung cư là nhà ở có từ hai tầng trở lên, có lối đi, cầu thang và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho nhiều hộ gia đình, cá nhân. Nhà chung cư có phần diện tích thuộc sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân, của chủ đầu tư và phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư;

6. Thuê mua nhà ở xã hội là việc người thuê mua nhà ở thanh toán trước một khoản tiền nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng, số tiền còn lại được tính thành tiền thuê nhà và người thuê mua phải trả hàng tháng hoặc trả theo định kỳ. Sau khi hết hạn thuê mua và người thuê mua đã trả hết tiền thuê nhà thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó.

TẢI NGHỊ ĐỊNH VỀ...

Popular Posts