Tuesday, 4 January 2011

Kế toán nghiệp vụ sử dụng sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ

KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ SỬ DỤNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA CHO TIÊU DÙNG NỘI BỘ

TS. Hà Thị Ngọc Hà

Phó Vụ trưởng Vụ CĐKT và kiểm toán

Bộ Tài chính

TS. Hà Thị Ngọc Hà

Phó Vụ trưởng Vụ CĐKT và kiểm toán

Bộ Tài chính

Theo qui định hiện hành của pháp luật thuế

giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thì khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ (gọi tắt là hàng tiêu dùng nội bộ) thì doanh nghiệp phải tính, kê khai và nộp cả thuế GTGT và thuế TNDN mặc dù nghiệp vụ này không phát sinh lợi nhuận theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp. Nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ sẽ phát sinh một khoản chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế TNDN và lợi nhuận kế toán do sự khác biệt về quan điểm ghi nhận giữa pháp luật về thuế TNDN và chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp. Trên thực tế kế toán thuế GTGT và thuế TNDN nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ chưa thực hiện đúng ở khá nhiều doanh nghiệp do chưa cập nhật kịp thời các qui định về thuế và kế toán. Tác giả xin được trình bày các qui định hiện hành và phân tích rõ để giúp các doanh nghiệp và những người quan tâm hiểu đúng để triển khai tốt các vấn đề trên, cụ thể như sau:

1. Về thuế GTGT đối với hàng tiêu dùng nội bộ và hàng luân chuyển nội bộ

Theo Thông tư Số 129 /2008/TT- BTC ngày 26/12/ 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/ 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT (sau đây gọi tắt là Thông tư số 129) thì: Đối với sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ thì doanh nghiệp phải tính, nộp thuế GTGT và giá tính thuế GTGT của sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ là giá tính thuế GTGT của sản phẩm, hàng hóa cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các nghiệp vụ này. Ngược lại, đối với sản phẩm, hàng hóa luân chuyển nội bộ (gọi tắt là hàng luân chuyển nội bộ) thì doanh nghiệp không phải tính, kê khai, nộp thuế GTGT.

Thông tư số 129 qui định để phân biệt rõ sự khác nhau giữa hàng tiêu dùng nội bộ và hàng luân chuyển nội bộ, cụ thể như sau: (1) Hàng tiêu dùng nội bộ là sản phẩm, hàng hóa do doanh nghiệp xuất sử dụng cho tiêu dùng của doanh nghiệp, không bao gồm sản phẩm, hàng hóa sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; (2) hàng luân chuyển nội bộ bao gồm sản phẩm, hàng hoá luân chuyển nội bộ như xuất sản phẩm, hàng hoá để chuyển kho nội bộ; xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong doanh nghiệp.

Ví dụ 1: Doanh nghiệp A sản xuất quạt điện, dùng 5 sản phẩm quạt lắp vào cho bộ phận bán hàng, chi phí sản xuất (giá thành thực tế) của 1 chiếc quạt là 0,4 triệu đồng/1chiếc, giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này là 0,5 triệu đồng/1chiếc. Thuế GTGT đầu ra là 10% phải nộp tính trên số quạt xuất tiêu dùng nội bộ là:

0,5 triệu đồng/1chiếc x 5 chiếc x 10% = 2,5 triệu đồng.

Với ví dụ trên:

- Nếu doanh nghiệp A nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ khi xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp A phải lập Hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. Tuy nhiên do doanh nghiệp A xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD là hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT nên số thuế GTGT đầu ra phải nộp tính trên số quạt xuất tiêu dùng nội bộ lại được khấu trừ.

- Nếu doanh nghiệp A nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ khi xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp A phải lập Hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, trường hợp này doanh nghiệp A phải tính nộp thuế GTGT và số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm sử dụng nội bộ tính vào chi phí SXKD (vì doanh nghiệp A xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT).

Ví dụ 2: Doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc B có phân xưởng sợi và phân xưởng may. Doanh nghiệp B xuất sợi thành phẩm từ phân xưởng sợi cho phân xưởng may để tiếp tục quá trình sản xuất thì doanh nghiệp B không phải tính và nộp thuế GTGT đối với sợi xuất cho phân xưởng may.

Ví dụ 3: Doanh nghiệp C vừa có hoạt động sản xuất thức ăn gia súc vừa có hoạt động trực tiếp chăn nuôi gia súc. Thức ăn gia súc sản xuất ra một phần sử dụng để bán ra chịu thuế GTGT và một phần tiếp tục sử dụng cho hoạt động chăn nuôi gia súc thì doanh nghiệp C không phải tính và nộp thuế GTGT đối với số thức ăn gia súc phục vụ hoạt động chăn nuôi không chịu thuế GTGT. Số thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất thức ăn gia súc được khấu trừ được phân bổ theo tỷ lệ doanh thu bán thức ăn gia súc trên tổng số doanh thu bán thức ăn gia súc và doanh thu bán gia súc.

2. Về thuế TNDN đối với hàng tiêu dùng nội bộ

Theo Thông tư Số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ CP ngày 11/12/ 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNDN­­­­­­ thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm tiêu dùng nội bộ.

Với Ví dụ 1 nêu trên, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế khi xác định thuế TNDN phải nộp được tính theo giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này tại thời điểm tiêu dùng nội bộ là 0,5 triệu đồng/chiếc.

3. Về phương pháp kế toán đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ

Thứ nhất, theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán khi doanh nghiệp xuất kho sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì đều không phát sinh lãi, lỗ. Khi xuất kho sản phẩm, hàng hóa phục vụ hoạt động SXKD thì giá trị sản phẩm, hàng hóa được tính vào chi phí SXKD theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn sản phẩm, hàng hoá. Đối với TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế, theo chuẩn mực kế toán số 03 – Tài sản cố định hữu hình (đoạn 18) thì nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây dựng, hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử. Trường hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Trong các trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của các tài sản đó.

Thứ hai, về phương pháp kế toán đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ (theo qui định của Thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán doanh nghiệp), cụ thể như sau:

(1). Trường hợp xuất kho sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, doanh nghiệp phải lập Hoá đơn GTGT làm chứng từ hạch toán. Trường hợp này doanh nghiệp phải tính, nộp thuế GTGT:

- Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán

Có các TK 155, 156.

- Đồng thời ghi doanh thu bán hàng nội bộ:

Nợ các TK 621, 627, 641, 642,... (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Nợ các TK 154, 642,... (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Nếu sản phẩm, hàng hóa xuất sử dụng cho hoạt động SXKD)

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nếu sản phẩm sản xuất xong được chuyển thành TSCĐ sử dụng cho SXKD)

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)

- Đồng thời phản ánh số thuế GTGT đầu ra cho sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ được khấu trừ, ghi:

Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 333 (33311)(Thuế GTGT)

Theo ví dụ 1, khi xuất kho quạt để tiêu dùng nội bộ, kế toán doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi:

Nợ TK 632: 2 triệu đồng

Có TK 155: 2 triệu đồng (5 chiếc x 0,4 triệu đồng/1 chiếc)

Đồng thời ghi doanh thu bán hàng nội bộ:

Nợ TK 641: 2 triệu đồng

Có TK 512: 2 triệu đồng

Đồng thời phản ánh số thuế GTGT đầu ra cho sản phẩm tiêu dùng nội bộ được khấu trừ, ghi:

Nợ TK 133: 0,25 triệu đồng (5 chiếc quạt x 0,5 triệu đồng/1chiếc)

Có TK 333 (33311): 0,25 triệu đồng.

Chú ý:

- Kế toán phải ghi đồng thời 2 bút toán phản ánh giá vốn hàng bán và doanh thu bán hàng nội bộ, trong đó doanh thu bán hàng nội bộ ghi Có TK 512 theo chi phí sản xuất sản phẩm là 2 triệu đồng nên không phát sinh lãi, lỗ theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán trong nghiệp vụ này.

- Khi tính, kê khai và xác định thuế GTGT và thuế TNDN phải nộp, doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu để tính thu nhập chịu thuế TNDN được tính theo giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này trên thị trường tại thời điểm tiêu dùng nội bộ là 2,5 triệu đồng/1 chiếc, giá vốn hàng tiêu dùng nội bộ là 2 triệu đồng và thu nhập chịu thuế TNDN là 0,5 triệu đồng.

(2). Trường hợp xuất kho sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho nghiệp vụ SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, trường hợp này doanh nghiệp phải tính nộp thuế GTGT và số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm, hàng hoá sử dụng nội bộ tính vào chi phí SXKD:

- Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán

Có các TK 155, 156.

- Đồng thời ghi nhận doanh thu bán hàng nội bộ, ghi:

Nợ các TK 621, 627, 641, 642,...(Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá cộng (+) với thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN); hoặc

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nếu sản phẩm sản xuất xong được chuyển thành TSCĐ sử dụng cho SXKD) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm cộng (+) với thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN)

Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (33311) (Thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN)

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)

Tuy nhiên các qui định về thuế GTGT và thuế TNDN đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ như đã nêu trên còn có những điểm chưa hợp lý đó là: (1) Nguồn thu ngân sách tăng không đáng kể vì NSNN chỉ thu được khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp. Còn trường hợp phát sinh phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay là xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, thì số thuế GTGT đầu ra của sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ lại được khấu trừ toàn bộ; (2) Làm tăng khối lượng công việc do phải kế toán và kê khai, tính và nộp thuế GTGT và thuế TNDN, đồng thời trên thực tế khó phân biệt hàng tiêu dùng nội bộ thì phải tính, nộp thuế GTGT và thuế TNDN với hàng luân chuyển nội bộ thì không phải tính, nộp thuế GTGT và thuế TNDN; (3) Không phản ánh đúng bản chất của thuế TNDN, vì hoạt động này không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp nên thuế TNDN phải nộp khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Các điểm bất hợp lý trên Nhà nước cần sớm nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các qui định trên cho phù hợp theo hướng như đã qui định trước đây đó là khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ doanh nghiệp không phải kê khai, tính và nộp thuế GTGT và thuế TNDN. Từ đó giảm bớt sự khác biệt về quan điểm ghi nhận giữa pháp luật về thuế TNDN và chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp./.

(Theo VACPA)

50 phụ nữ giàu nhất sàn chứng khoán 2010

Nắm giữ số cổ phiếu trị giá 2.340 tỷ đồng, bà Phạm Thu Hương lần đầu tiên trở thành nữ cổ đông giàu nhất sàn chứng khoán 2010 do VnExpress.net công bố, cho dù tài sản thấp hơn người đứng đầu Top 50 năm ngoái.

> Danh sách 50 phụ nữ giàu nhất
> Top 100 người giàu


Bà Hương đang sở hữu 17,5 triệu cổ phiếu VIC và 15 triệu cổ phiếu VPL với tư cách vợ ông Phạm Nhật Vượng, thành viên hội đồng quản trị hai công ty Vincom và Vinpearl, người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam năm 2010. Theo giá chốt phiên giao dịch cuối năm, số cổ phiếu của bà Hương tương đương 2.341 tỷ đồng, chưa bằng 15% tài sản của phu quân và kém 300 tỷ so với người đứng đầu Top 50 năm ngoái, song vẫn đủ giúp bà trở thành người giàu nhất trong hơn 3.300 cổ đông nữ thuộc diện phải công bố thông tin trên thị trường chứng khoán niêm yết năm 2010. So với cuối năm 2009, tài sản của bà Hương tăng gần gấp đôi.

Là cặp vợ chồng giàu nhất thị trường chứng khoán, hai công ty Vincom và Vinpearl được chú ý trong giới kinh doanh cũng như truyền thông, tuy nhiên cả bà Hương và ông Vượng hầu như không xuất hiện trước công chúng. Trong những dịp hiếm hoi, ông Vượng thường tham gia với tư cách Chủ tịch Hiệp hội doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài. Còn hình ảnh bà Hương chưa một lần xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trong hai công ty Vincom và Vinpearl, nhiều năm nay bà Hương đứng tên sở hữu cổ phiếu với tư cách cổ đông có liên quan. Riêng năm 2010, bà sở hữu cổ phiếu VPL với tư cách cổ đông lớn.

Như vậy, vị trí số một Top 50 phụ nữ giàu nhất sàn chứng khoán 2010 thuộc về một người không trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp. Người phụ nữ giàu nhất năm 2009, bà Đặng Thị Hoàng Yến - Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo đã phải lùi xuống hàng thứ hai. Số cổ phiếu ITA bà Yến đang sở hữu tăng gần 90%, song do giá giảm hơn một nửa, nên tính chung tài sản của bà giảm hơn 650 tỷ đồng so với cuối năm 2009.

2 nhân vật mới gia nhập Top 5 phụ nữ của năm 2010, trong đó có bà Nguyễn Thị Như Loan - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Quốc Cường Gia Lai (mã chứng khoán QCG). QCG mới lên sàn giữa năm 2010, trong trào lưu tìm kênh huy động vốn mới của các công ty bất động sản, và nhanh chóng thu hút sự chú ý trên thị trường, đặc biệt vì trong công ty có một thành viên hội đồng quản trị nổi tiếng, doanh nhân Nguyễn Quốc Cường - con trai bà Loan. Tính đến cuối năm 2010, bà Loan đang sở hữu 1.640 tỷ đồng cổ phiếu QCG, trong khi cậu con trai chỉ nắm 12 tỷ đồng.

Bà Nguyễn Hoàng Yến, vợ của doanh nhân nổi tiếng Nguyễn Đăng Quang đến từ Tập đoàn Ma San, lần đầu tiên lọt vào Top 5, với số tài sản 1.633 tỷ đồng. Năm 2009, bà Yến chỉ đứng thứ 12 trong Top 50 phụ nữ giàu có trên sàn chứng khoán do VnExpress.net công bố, với số tài sản 744,8 tỷ đồng.

Cùng với xu hướng giảm điểm trên toàn thị trường chứng khoán năm 2010, tài sản của hầu hết các nữ đại gia đều giảm đáng kể. 18 người trong Top 50 của năm 2009 đã phải rời ra Top 50 của năm 2010. Trong số 32 người ở lại, 21 người đều giảm tài sản phần nhiều vì giá cổ phiếu đi xuống, hoặc bán bớt để cơ cấu danh mục đầu tư.

Tổng tài sản của 50 phụ nữ giàu nhất sàn chứng khoán năm 2010 đạt gần 23.800 tỷ đồng, tăng nhẹ so với năm 2009 chủ yếu do sự góp mặt của các nhân vật đến từ những công ty mới lên sàn.

Cũng như danh sách 100 người giàu nhất sàn chứng khoán, Top 50 được VnExpress.net khảo sát, thống kê dựa trên các thông tin công bố công khai tại hai sàn chứng khoán Hà Nội và TP HCM. Trong số hơn 10.000 người thuộc diện công bố thông tin, có khoảng 3.300 phụ nữ, với số tài sản 30.430 tỷ đồng. Dữ liệu xây dựng danh sách người giàu năm 2010 được củng cố với sự tham gia của đối tác VNDIRECT, công ty chứng khoán uy tín và có thị phần môi giới hàng đầu Việt Nam.

Những phụ nữ giàu nhất sàn chứng khoán 2006-2010

Năm Họ và Tên Tài sản
(tỷ đồng)
Chu Thị Bình - Phó tổng giám đốc MPC 1.146

VnExpress.net

Doanh thu 2010 của Petro Vietnam bằng 24% GDP

Chủ tịch Hội đồng Thành viên Petro Vietnam Đinh La Thăng chủ trì buổi họp báo sáng 4/1.

Sáng 4/1, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) đã công bố kết quả sản xuất, kinh doanh năm 2010 và kế hoạch năm 2011
Sáng 4/1, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) đã công bố kết quả sản xuất, kinh doanh năm 2010 và kế hoạch năm 2011.

Theo đó, tổng doanh thu trong năm 2010 của Petro Vietnam đạt 478,4 nghìn tỷ đồng, bằng 145% kế hoạch, tăng 59% so với cùng kỳ năm 2009, tương đương 24% GDP cả nước. Tổng lợi nhuận toàn tập đoàn đạt xấp xỉ 30.000 tỷ đồng.

Doanh thu dịch vụ dầu khí năm 2010 của Petro Vietnam đạt 152,5 nghìn tỷ đồng, bằng 135% kế hoạch, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm 32% tổng doanh thu toàn tập đoàn.

Trong năm 2010, Petro Vietnam cũng đã nộp ngân sách nhà nước 128,7 nghìn tỷ đồng, tăng 41% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước.

Về công tác thăm dò và khai thác dầu khí trong năm 2010, Petro Vietnam đã phát hiện 7 mỏ mới, đưa vào khai thác 5 mỏ mới (3 mỏ trong nước và 2 mỏ ở nước ngoài). Tổng sản lượng khai thác quy dầu trong năm qua đạt 24,41 triệu tấn, bằng 106% kế hoạch, trong đó sản lượng khai thác dầu đạt 15,1 triệu tấn, sản lượng khí đạt 9,4 triệu m3. Petro Vietnam cũng đã đạt mốc khai thác 260 triệu tấn dầu thô vào ngày 22/10/2010.

Trong năm 2010, Petro Vietnam đã xuất bán được 15 triệu tấn dầu thô, trong đó bán cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất 6,08 triệu tấn, bán dầu thô khai thác ở nước ngoài 230 nghìn tấn, còn lại là xuất khẩu. Tổng số ngoại tệ Petro Vietnam thu về trong năm qua là 9,22 tỷ USD, trong đó chủ yếu là thu từ xuất khẩu dầu thô và bán dầu cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Tập đoàn cũng đã sản xuất và cung cấp 12,55 tỷ kWh điện cho lưới điện quốc gia, và đã đạt con số 25 tỷ kWh vào đầu tháng 12 năm ngoái, nâng sản lượng điện đóng góp cho lưới điện quốc gia lên 14%.

Trong năm 2011, Petro Vietnam đặt mục tiêu khai thác 23,2 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó dầu thô dự kiến đạt 15 triệu tấn, khí 8,2 tỷ m3, phấn đấu gia tăng trữ lượng dầu khí lên từ 30 - 35 triệu tấn dầu quy đổi.

Mục tiêu tổng doanh thu trong năm 2011 của tập đoàn đạt khoảng 486 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách 101 nghìn tỷ đồng. Trong giai đoạn 2011 - 2015, Petro Vietnam phấn đấu nâng doanh thu lên 3.040 nghìn tỷ đồng.

(Theo Vneconomy)

Sẽ giám sát chặt hơn các giao dịch chứng khoán bất thường

Website của HNX đã được nâng cấp và cung cấp nhiều thông tin hơn cho nhà đầu tư

HNX cho biết đã nâng cấp hệ thống giám sát giao dịch và cập nhật 21 tiêu chí phát hiện các giao dịch bất thường
Trao đổi với báo chí trước thềm năm 2011, đại diện Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) cho biết năm nay sẽ tiếp tục công tác giám sát chặt chẽ hơn nữa các hiện tượng thao túng giá, đảm bảo công bằng, minh bạch trên thị trường.

Theo ông Trần Văn Dũng, Tổng giám đốc HNX, vừa qua hàng loạt quyết định xử phạt mạnh tay với các hiện tượng thao túng giá cho thấy cơ quan quản lý đã phát đi tín hiệu sẽ làm quyết liệt hơn.

Vài tháng cuối năm 2010, thị trường đã chứng kiến dồn dập các sự kiện đáng chú ý liên quan đến công tác giám sát, xử lý các vi phạm trên thị trường, đặc biệt là các hiện tượng thao túng giá cổ phiếu. Sự kiện ghi dấu ấn về chuyển biến lớn phải kể đến là vụ bắt tạm giam hàng loạt cá nhân có liên quan tại Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông (DVD), phạt nhiều trăm triệu đồng với các trường hợp thao túng giá HTV, AMV...

Thực tế hiện tượng tăng giá bất thường, khó lý giải diễn ra không hiếm. Đối với nhà đầu tư, gần như tất cả các diễn biến giá cổ phiếu kịch trần liên tục, tăng giá ngược với thị trường, tăng giá ở các cổ phiếu không có nền tảng cơ bản đủ hấp dẫn... đều được xem là có yếu tố thao túng giá.

Nếu căn cứ vào các diễn biến đó, có thể kể ra hàng chục trường hợp làm giá mười mươi. Trong con mắt của nhà đầu tư, các vụ việc được xử lý lại khá “hẻo”, chưa kể nhiều vụ xử quá nhẹ khiến thị trường có cảm giác cơ quan quản lý bất lực.

Theo thông tin từ HNX, các giao dịch bất thường đó đều được bộ phận giám sát đưa vào diện theo dõi. Tuy nhiên, từ theo dõi đến việc khẳng định hiện tượng làm giá, tập hợp các bằng chứng để kết luận là cả một vấn đề lớn. Mặt khác, việc theo dõi cần một khoảng thời gian đủ dài, tiến hành nhiều bước tiếp theo chứ không thể căn cứ vào duy nhất diễn biến giá.

Ông Nguyễn Vũ Quang Trung, Phó tổng giám đốc HNX, cho biết từ giữa năm 2010, Sở đã nâng cấp hệ thống giám sát giao dịch với cổ phiếu niêm yết, cập nhật 21 tiêu chí với các giao dịch bất thường.

Điểm nổi bật trong hoạt động giám sát năm 2010 là Sở đã thực hiện tốt công tác giám sát tin đồn, kịp thời phát hiện và báo cáo tin đồn liên quan đến các vụ việc lớn trên thị trường như trường hợp vi phạm chào mua công khai cổ phiếu VTV, giao dịch bất thường AAA, giao dịch thâu tóm DHT… Sở đã kịp thời tiến hành lập báo cáo khi có diễn biến bất thường và yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin, đảm bảo tính công khai, minh bạch trên thị trường.

Hoạt động giám sát tuân thủ, giám sát dấu hiệu bất thường vẫn được thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Đối với thị trường niêm yết, việc đưa phần mềm giám sát nâng cấp vào hoạt động, chất lượng công tác giám sát đã được cải thiện đáng kể. Sở đã yêu cầu công ty niêm yết giải trình, công bố thông tin đối với 33 trường hợp cổ phiếu tăng trần, giảm sàn nhiều phiên liên tiếp; 196 trường hợp vi phạm giao dịch cổ đông nội bộ và người có liên quan, thực hiện giám sát bất thường, báo cáo 228 trường hợp nghi vấn có dấu hiệu giao dịch bất thường thuộc 104 mã chứng khoán…

Riêng với công tác công bố thông tin, HNX cho biết do số lượng công ty niêm yết và đăng ký giao dịch tăng mạnh khiến khối lượng thông tin cần xử lý đã tăng gấp đôi năm 2009. Năm 2010, Sở đã triển khai xây dựng quy chế công bố thông tin hướng dẫn công bố thông tin theo quy định tại Thông tư 09, tổ chức tập huấn công bố thông tin cho thành viên, tổ chức niêm yết/đăng ký giao dịch…Công tác công bố thông tin của các doanh nghiệp đã được cải thiện, số lượng vi phạm giảm dần qua các kỳ báo cáo. Phần mềm cung cấp thông tin “datafeed” giúp cải thiện đáng kể về hiệu quả của việc cung cấp thông tin thay vì phương pháp qua e-mail trước đây.

(Theo Vneconomy)

10 SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA VACPA VÀ NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN TẠI VIỆT NAM NĂM 2010

Kết thúc năm 2010 và bước sang năm mới 2011, Ban biên tập website VACPA xin điểm lại 10 sự kiện nổi bật năm 2010 của VACPA và nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam như sau:

(1) VACPA chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội kế toán Châu Á Thái Bình Dương (CAPA)


Sau hơn một năm nộp đơn và thực hiện các thủ tục cần thiết để gia nhập Hiệp hội kế toán Châu Á Thái Bình Dương (CAPA), một trong 4 tổ chức kế toán khu vực lớn nhất thế giới, từ tháng 5 năm 2010 VACPA đã chính thức được kết nạp làm thành viên của CAPA. Sự kiện này là một tin vui không chỉ cho VACPA mà còn cho nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam vì nó cho thấy VACPA và hội viên VACPA là những người làm kế toán, kiểm toán tại Việt Nam đang từng bước được khu vực và thế giới thừa nhận. Cũng trong năm nay, VACPA đã lần đầu tham dự Diễn đàn thành viên CAPA với tư cách thành viên chính thức, với một bài tham luận quan trọng giới thiệu VACPA và nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam với đồng nghiệp quốc tế.


(2) VACPA ký gia hạn biên bản hợp tác với ACCA

Nhằm xây dựng và phát triển Hội và mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức nghề nghiệp quốc tế, ngày 10/12/2005, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã cùng Hội kế toán công chứng Anh (ACCA) ký kết Biên bản hợp tác nhằm mục đích thiết lập chính thức sự hợp tác song phương giữa hai tổ chức. Sau 5 năm kể từ khi Biên bản ghi nhớ có hiệu lực, VACPA và ACCA đã triển khai có hiệu quả nhiều hoạt động hợp tác dựa trên những nguyên tắc đã ký kết. Từ kết quả khả quan của 5 năm hợp tác, VACPA và ACCA đã tiếp tục ký kết Bản gia hạn Biên bản hợp tác để củng cố mối quan hệ hợp tác giữa hai hội và tiến tới những hoạt động hợp tác mới có hiệu quả hơn cả về chất và lượng trong 5 năm tiếp theo.

(3) VACPA mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức nghề nghiệp quốc tế có uy tín


Trong năm 2010, ngoài quan hệ với các đối tác truyền thống như ACCA, CPA Australia, ICPAS, VACPA đã bước đầu thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức nghề nghiệp có uy tín trên thế giới như Hội kế toán công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW), Viện kế toán công chứng Australia (ICAA), Viện kế toán quản trị công chứng Anh Quốc (CIMA), Viện kiểm toán nội bộ quốc tế (IIA)…Điều này chứng tỏ VACPA đã dần tạo lập được tiếng vang là một tổ chức nghề nghiệp đại diện cho kiểm toán viên tại Việt Nam nên sẽ là điểm đến đầu tiên mà một tổ chức nước ngoài nghĩ đến khi muốn tìm hiểu về nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam và mở rộng hoạt động tại Việt Nam.


(4) VACPA kỷ niệm 5 năm thành lập

Năm 2010 đánh dấu 5 năm thành lập, trưởng thành và phát triển của VACPA. 5 năm không phải là một khoảng thời gian dài nhưng cũng đủ để chứng kiến những bước trưởng thành của VACPA và đủ để VACPA chứng tỏ tầm quan trọng của mình trong sự phát triển chung của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán tại Việt Nam với tư cách là một hội nghề nghiệp chuyên nghiệp. Tại buổi lễ kỷ niệm 5 năm thành lập, VACPA đã nhận được lời chúc mừng từ các cơ quan nhà nước, các hiệp hội trong và ngoài nước, các kiểm toán viên, các công ty kiểm toán và đông đảo hội viên…

(5) VACPA ban hành Chương trình kiểm toán mẫu


Trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)” do Ngân hàng thế giới tài trợ, Ban quản lý Dự án cùng các chuyên gia kiểm toán giàu kinh nghiệm tại Việt Nam đã xây dựng thành công Chương trình kiểm toán mẫu làm cơ sở đào tạo, thực hành kiểm toán, và kiểm soát chất lượng nhằm góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán, đặc biệt là các công ty kiểm toán nhỏ và vừa. Sau khi được ban hành chính thức, Chương trình kiểm toán mẫu đã nhận được phản hồi rất tốt từ các công ty kiểm toán cũng như các trường đại học. Dự kiến trong năm 2011, Chương trình kiểm toán mẫu thủ công sẽ được nâng cấp lên phiên bản phần mềm để phục vụ tốt hơn nhu cầu kiểm toán trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay.


(6) Lần đầu tiên VACPA soạn thảo và ban hành tài liệu hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam khó

Cũng trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường năng lực Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)”, lần đầu tiên tài liệu hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam khó được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực kiểm toán quốc tế mới ban hành vào tháng 12/2009 đã được dịch và thảo luận bởi Ban soạn thảo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Việc xây dựng và ban hành các tài liệu hướng dẫn với nhiều ví dụ minh họa và tình huống thực tế giúp cho các chuẩn mực kiểm toán khô khan trở nên gần gũi và dễ áp dụng hơn cho các kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán.

(7) Bộ Tài chính, VACPA, VAA và các công ty kiểm toán Việt Nam tham dự Đại hội kế toán thế giới (WCOA 2010)


Tháng 11 năm 2010, đại diện Bộ Tài chính, các hội nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán tại Việt Nam như VACPA, VAA và một số công ty kiểm toán Việt Nam đã tham dự Đại hội kế toán thế giới 2010, một sự kiện được tổ chức 4 năm một lần và được coi là Olympic của những người làm kế toán, kiểm toán. Đây là cơ hội để tìm hiểu về những thông tin quốc tế cập nhật nhất liên quan đến nghề nghiệp, gặp gỡ các đồng nghiệp quốc tế để trao đổi về nghề nghiệp, quảng bá về sự phát triển của nghề nghiệp tại Việt Nam và tìm kiếm những cơ hội hợp tác quốc tế mới.


(8) Quốc hội thảo luận Luật kiểm toán độc lập

Sau khi được Ban soạn thảo Luật của Bộ Tài chính xây dựng từ năm 2009, trong năm 2010, dự thảo Luật kiểm toán độc lập đã được đưa ra thảo luận sôi nổi tại nhiều cấp trong các cuộc hội thảo lớn nhỏ, từ các cuộc hội thảo với các công ty kiểm toán, các hội nghề nghiệp, các cuộc hội thảo liên bộ ngành đến các cuộc hội thảo với Chính phủ và sau đó với Quốc hội... Dự thảo Luật kiểm toán độc lập đã được Quốc hội thảo luận chính thức vào tháng 11/2010.Hy vọng Luật kiểm toán độc lập sau khi được hoàn thiện, thông qua và ban hành chính thức vào nửa đầu năm 2011 sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển của ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam đã bước sang tuổi thứ 20 và đã phát triển khá chin muồi.

(9) Sự ra đời của nhiều công ty kiểm toán mới


Trong năm 2010, số công ty kiểm toán mới được thành lập là 15 công ty. Việc có thêm nhiều công ty kiểm toán mới được thành lập là một tín hiệu đáng mừng cho thấy lĩnh vực kế toán, kiểm toán ngày càng trở nên quan trọng được cả xã hội quan tâm nhưng vấn đề đặt ra là các công ty kiểm toán mới cần không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để có thể đứng vững trong thị trường ngày càng mang tính cạnh tranh và đòi hỏi chất lượng dịch vụ ngày càng cao.


(10) Xu hướng sáp nhập các công ty kiểm toán nhỏ

Trong năm 2010, hiện tượng các công ty kiểm toán nhỏ sáp nhập với nhau diễn ra khá phổ biến (có 8 công ty sáp nhập từng đôi thành 4 công ty…) Việc các công ty kiểm toán nhỏ sáp nhập lại với nhau cũng là một tín hiệu đáng mừng vì việc sáp nhập không chỉ giúp các công ty nhỏ mở rộng về mặt quy mô mà quan trọng hơn, uy tín và chất lượng dịch vụ của các công ty cũng sẽ được nâng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường và mang lại những dịch vụ tốt hơn cho khách hàng.

Có thể nói năm 2010 là năm đánh dấu nhiều sự kiện quan trọng với VACPA và ngành kiểm toán độc lập. Bước sang năm 2011 cũng là bước sang một thập kỷ mới và cũng là bước sang năm thứ 20 của ngành kiểm toán độc lập, VACPA hy vọng sẽ tiếp tục là người đồng hành đáng tin cậy của hội viên, kiểm toán viên và các công ty kiểm toán tại Việt Nam, cùng chung tay xây dựng ngành kiểm toán độc lập ngày càng vững mạnh, góp phần minh bạch hóa thông tin tài chính, phục vụ lợi ích của nhà đầu tư và công chúng.

VTT-VACPA

Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán có phải góp vốn?

Xem hình

Không nên quy định giám đốc hoặc tổng giám đốc doanh nghiệp TNHH kiểm toán phải góp vốn vào doanh nghiệp kiểm toán là quan điểm của Ủy ban Kinh tế về một số vấn đề lớn khi xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật Kiểm toán độc lập, chiều 4/1.
Thảo luận tại kỳ họp thứ tám vừa qua, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội cũng không đồng tình với quy định giám đốc hoặc tổng giám đốc doanh nghiệp kiểm toán của công ty TNHH phải góp tối thiểu 10% vốn điều lệ tại dự thảo luật. Vì, theo Luật Doanh nghiệp, chủ tịch hội đồng thành viên của doanh nghiệp TNHH hai thành viên trở lên có thể thuê tuyển chức danh giám đốc hoặc tổng giám đốc để quản lý, điều hành doanh nghiệp.

Như vậy, yêu cầu tại dự thảo luật là không phù hợp, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội - cơ quan thẩm tra dự án luật – nhấn mạnh. Nhiều ý kiến thảo luận cũng đồng tình cao với quan điểm này.

Bên cạnh nội dung nói trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cho ý kiến về quản lý Nhà nước đối với kiểm toán độc lập, quy định liên quan đến kiểm toán viên hành nghề, về doanh nghiệp kiểm toán, kiểm toán bắt buộc…

Liên quan đến doanh nghiệp kiểm toán, khác với Ban soạn thảo, Ủy ban Kinh tế cho rằng dự thảo luật nên quy định cho phép tổ chức góp vốn thành lập doanh nghiệp kiểm toán, đồng thời giao Chính phủ quy định những điều kiện cụ thể.

Tán thành quan điểm cho phép tổ chức góp vốn, song Chủ nhiệm Ủy ban Pháp Luật Nguyễn Văn Thuận đề nghị không nên cái gì cũng giao cho Chính phủ quy định mà nên quy định cụ thể ngay trong luật.

“Nhượng bộ” với phương án của Ủy ban Kinh tế, song Bộ trưởng Bộ Tài chính Ninh đề nghị nên có điều kiện chặt chẽ hơn như khống chế về mức vốn để tránh sự chi phối của tổ chức góp vốn đến doanh nghiệp kiểm toán. Hoặc sử dụng chính doanh nghiệp kiếm toán này làm công cụ kiểm toán doanh nghiệp do chính pháp nhân này chi phối.

Về phạm vi hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán, Bộ trưởng Ninh kiên trì quan điểm của ban soạn thảo. Mặc dù một số ý kiến không đồng tình với việc cho phép các doanh nghiệp kiểm toán được phép cung cấp các dịch vụ như tư vấn kinh tế, tài chính, thuế, dịch vụ kế toán… vì dễ xảy ra tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Quan điểm của Bộ trưởng Ninh là các doanh nghiệp kiểm toán được làm những việc pháp luật không cấm và thực tế hiện nay các dịch vụ này đã được cung cấp. Hơn nữa, hoạt động kiểm toán cũng có thời vụ. “Có thể quy định rõ hơn về các dịch vụ mà các doanh nghiệp kiểm toán không được làm”, Bộ trưởng nói.

(Theo vneconomy.vn)

Giám đốc Deloitte 'bắt bệnh' doanh nghiệp Việt

Xem hình

Các công ty nhỏ và vừa không nhất thiết phải quan tâm quá nhiều đến mô hình kinh doanh và hoạt động. Bởi công ty càng nhỏ, thì càng dễ kiểm soát.

Do những xáo trộn trong chính sách vĩ mô, nhiều doanh nghiệp lúng túng giữa chọn cách đối phó mang tính chất tình thế và kiên định hoạch định chiến lược phát triển cho doanh nghiệp mình. Doanh Nhân đã trao đổi với ông John Yeomans, Giám đốc Công ty tư vấn Deloitte Consulting Đông Nam Á, xoay quanh câu chuyện xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp.

- Nhìn lại bối cảnh kinh doanh của thị trường Việt Nam trong năm 2010, ông đánh giá tình hình doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung ra sao?

Tôi nghĩ chúng ta không chỉ nhìn thị trường Việt Nam trong năm 2010 một cách tách biệt mà nên nhìn trong vài năm liên tiếp để thấy rõ hơn những điều đang diễn ra. Năm 2008 tình hình đã khá tệ; năm 2009 cũng tương tự như vậy và doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, năm 2010 là hệ quả của những năm trước. Tôi không phải là kinh tế gia, nhưng từ những kinh nghiệm tiếp xúc với thị trường tôi nghĩ, chúng ta cần khoảng ít nhất 5 năm để chuyển đổi từ mô hình kinh doanh cũ sang mô hình kinh doanh mới. Tôi ước tính phải đến gần nửa cuối năm 2011 thì doanh nghiệp Việt Nam mới có thể thấy được những tia sáng hy vọng và những chuyển biến tích cực.

- Với một bức tranh tổng quan như vậy, theo ông, doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng điều gì ?

Là nhà tư vấn chiến lược hoạt động tại Việt Nam, câu hỏi quan trọng hàng đầu mà chúng tôi luôn đặt cho chính mình và cho doanh nghiệp là “Chúng ta sẽ cạnh tranh ở đâu ? Và cạnh tranh ở đâu có thể có hiệu quả kinh tế nhất với những lợi thế cạnh tranh của riêng mình ?”. Câu hỏi quan trọng thứ hai là: “Doanh nghiệp cần cạnh tranh như thế nào một cách hiệu quả và tạo nên lợi thế cạnh tranh ?”.

- Khi môi trường kinh doanh thay đổi, doanh nghiệp càng có dịp thử thách khả năng của mình. Ông nhận định điều này “tốt” hay “xấu” ? Ông có nghĩ là một số doanh nghiệp Việt Nam cũng học được nhiều bài học tốt từ đó ?

Tôi nhìn thấy các doanh nghiệp Việt Nam có khá nhiều cơ hội hình thành và phát triển bất ngờ. Tôi quan ngại, họ hiện đang triển khai những chiến thuật ngắn hạn để đối phó với những khó khăn trước mắt, nhưng những chiến thuật này không thể hình thành nền tảng bền vững cho sự mở rộng bền vững và có lợi nhuận. Cần phải có cách nghĩ khác và một chiến lược dài hơi hơn.

Với những doanh nghiệp chúng tôi tiếp xúc, thường chúng tôi thấy họ có khuynh hướng cùng với các cố vấn và đồng sự của mình nhìn về quá khứ. Nhưng quan điểm của chúng tôi là doanh nghiệp cần có cái nhìn dự báo cho tương lai để dẫn dắt sự phát triển thành công. Do đó, chúng tôi cũng giúp khách hàng suy nghĩ theo phương cách: cạnh tranh ở đâu và cạnh tranh như thế nào, đồng thời phải tiến hành giúp khách hàng dự đoán những kịch bản cho tương lai.

- Theo kinh nghiệm của ông, để dự báo tốt cần những điều kiện gì ?

Phải có đầy đủ kiến thức về thị trường, phải biết đối thủ cạnh tranh đang hành động ra sao và phải xây dựng những kịch bản cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tôi muốn nhấn mạnh đó là những kịch bản tạo ra sự khác biệt. Điều doanh nghiệp cần là phải xây dựng những kịch bản khác nhau cho từng bối cảnh một. Quan trọng là phải đảm bảo mỗi kịch bản được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, theo khả năng diễn ra, thực tế và thực dụng với kế hoạch hành động cụ thể.

- Một giáo sư Mỹ thường nói, không chỉ chuẩn bị cho những tình huống có thể xảy ra mà phải chuẩn bị luôn cả tình huống không thể xảy ra. Theo ông, có cần thiết phải dự báo đến như vậy không ?

Không có điều gì là hoàn hảo cả. Chúng tôi làm việc với doanh nghiệp theo cách thức như sau: khi xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp, ngoài việc phải xác định cạnh tranh ở đâu, cạnh tranh như thế nào để có hiệu quả, chúng tôi còn đưa ra một vấn đề nữa là xác định nơi nào doanh nghiệp không nên cạnh tranh.

Có một điều tôi đã thấy ở nhiều doanh nghiệp (không chỉ là doanh nghiệp Việt Nam mà cả những doanh nghiệp nước ngoài) đó là bị choáng khi có nhiều cơ hội. Cơ hội đến thường làm cho doanh nghiệp hào hứng và làm họ rất dễ nghĩ đến chuyện nắm được càng nhiều cơ hội càng tốt. Trong kinh doanh, tôi cho rằng phải hết sức tỉnh táo. Chúng ta dễ bay lên khi gặp gió và đua theo gió. Nhưng phải lưu ý phía sau của gió có thể là bão. Những cơn gió vừa đưa chúng ta lên cũng rất có thể cuốn chúng ta đi lạc lối luôn. Tôi muốn nhấn mạnh là: cần cẩn trọng với những cơ hội, chỉ nên chọn theo thế mạnh của mình chứ không nên dàn trải, thiếu tập trung.

Không may là nền kinh tế Việt Nam còn non trẻ, các doanh nghiệp vừa thiếu cơ sở hạ tầng, vừa thiếu yếu tố dẫn dắt. Do đó doanh nghiệp càng khó thấy đường đi một cách rõ ràng.

- Ông có thể giải thích rõ hơn “yếu tố dẫn dắt” là như thế nào ?

Đối với một công ty sẽ cần có nhiều yếu tố để có thể phát triển. Một trong những yếu tố đó là phải có “mô hình kinh doanh và hoạt động” (hay có thể gọi theo cách khác là phương thức kinh doanh và hoạt động - business model). “Mô hình kinh doanh và hoạt động” sẽ giúp doanh nghiệp biết được hoạt động nào cần thực hiện và bộ phận chức năng nào cần phải có để triển khai. Và khi đấy doanh nghiệp có thể tự quyết định hoạt động kinh doanh nào họ tự triển khai hoặc thuê bên ngoài. Khi nào doanh nghiệp có “mô hình kinh doanh và hoạt động” hợp lý thì sẽ dễ thực hiện triển khai bộ máy thực thi. Hiện tại, tôi cho rằng, nhiều công ty Việt Nam khá non trẻ nên không có đầy đủ những chức năng, những bộ máy, công cụ thích hợp để triển khai đồng bộ các hoạt động của mình. Do vậy, dễ thấy là các doanh nghiệp thường triển khai chiến thuật hơn là có một chiến lược hoạt động kinh doanh thực hiện theo lộ trình và thời điểm cụ thể.

- Một yếu tố dẫn dắt kế tiếp là cấu trúc doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam không để ý đến chuyện này. Vấn đề là phải thẳng thắn nói với nhau, chúng ta muốn cấu trúc/tái cấu trúc doanh nghiệp để làm gì ? Kết quả cuối cùng của tái cấu trúc là gì ? Nguyên tắc mà chúng tôi đưa ra là: mục tiêu nào thì chiến lược đó. Mục tiêu của doanh nghiệp là A thì tái cấu trúc có giúp giải quyết được mục tiêu đó không ?

Với một tổ chức doanh nghiệp thì khi định hình cơ cấu tổ chức, cần quan tâm đến sự phân quyền để mọi người ý thức rõ chức năng, quyền hạn và cách thức thực hiện trong cùng hệ thống…

Một yếu tố nữa là quy trình. Quy trình phải rõ ràng, minh bạch, có độ chính xác cao để mọi người tuân thủ, định hướng. Nhiều công ty Việt Nam thường bắt chước một quy trình nào đó mà không xem xét chúng một cách cẩn thận. Phải nhớ là mục tiêu nào thì chiến lược đó; chiến lược nào thì quy trình đó. Không nên bắt chước quy trình nào đó bởi nếu không có một nền tảng vững chắc thì rồi nó cũng rất lỏng lẻo, không ráp nối được. Đó là những sai lầm mà tôi nghĩ doanh nghiệp Việt Nam cần tránh.

Yếu tố dẫn dắt nữa chính là nguồn nhân lực, đây là yếu tố quan trọng.

Tóm lại, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần có các yếu tố dẫn dắt: Mô hình kinh doanh và hoạt động, Chiến lược, Cơ cấu tổ chức, Quy trình và Con người.

- Cũng có một thực tế hiện nay đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều là những doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp không thể ngay lập tức có được những nền tảng, những điều kiện như ông vừa đề cập nên có thể họ vừa làm, vừa mày mò tìm một hướng đi riêng rồi hoàn thiện mô hình kinh doanh của mình. Theo ông, làm sao để doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam có thể đạt được một mô hình kinh doanh đúng hướng ?

Thực tế các công ty nhỏ và vừa không nhất thiết phải quan tâm quá nhiều đến mô hình kinh doanh và hoạt động. Bởi công ty càng nhỏ, thì càng dễ kiểm soát. Nhưng khi công ty phát triển mạnh, lúc đó cần quan tâm đến mô hình kinh doanh và hoạt động nhiều hơn. Tuy nhiên, các công ty nhỏ hay lớn đều phải đối mặt với một câu hỏi giống nhau, đó là: cạnh tranh ở đâu và cạnh tranh như thế nào cho hiệu quả ?

Các công ty nhỏ rồi sẽ dần dần trở thành công ty vừa và công ty lớn; khi đó doanh nghiệp phải biết năng lực nào là năng lực cốt lõi. Doanh nghiệp cũng phải tự tìm ra đâu là thế mạnh của mình, đâu là sự khác biệt so với đối thủ, đâu là yếu tố bắt buộc doanh nghiệp phải có. Có những cái doanh nghiệp tự xây dựng riêng cho mình; có cái sẽ thuê ngoài. Chia sẻ dịch vụ logistic là một ví dụ mà nhiều doanh nghiệp có thể nghĩ đến khi chưa đủ khả năng tự mình thực hiện tất cả các nghiệp vụ cần thiết.

- Theo kinh nghiệm của ông, các doanh nghiệp Việt Nam thường bỏ qua những yếu tố nào ?

Công nghệ quản lý là một yếu tố mà doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm. Chúng tôi nhìn thấy đó là một công cụ kinh doanh quan trọng giúp doanh nghiệp dễ dàng ra quyết định có chất lượng cao. Rất không may, ở Việt Nam, doanh nghiệp thường chỉ sử dụng công nghệ thông tin như là một giải pháp kỹ thuật. Tôi thấy nó lãng phí và không hiệu quả. Không mấy doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ hợp lý để trích xuất thông tin về hoạt động kinh doanh của mình và ra các quyết định quan trọng. Hiện nay, phổ biến nhất là chúng được sử dụng để xử lý các giao dịch tài chính cơ bản và cả cho những việc đóng góp không mấy giá trị cho kinh doanh.

- Theo ông, nếu không có con người phù hợp để thực hiện các định hướng chiến lược, mô hình kinh doanh hay tổ chức bộ máy thực hiện… thì sẽ ra sao ?

Cần phải kiên nhẫn và cần thời gian để tìm được người thích hợp triển khai các ý tưởng này. Khi thực hiện tư vấn, chúng tôi luôn có kế hoạch tránh rủi ro cho doanh nghiệp, và biết phải đợi chờ thời điểm chín muồi. Đôi khi chính doanh nghiệp cũng sẽ nhìn thấy tiềm năng của con người cụ thể để cùng phát triển với doanh nghiệp trong tương lai nữa.

- Ông có đề cập, khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam chỉ có chiến lược ngắn hạn. Từ năm 2008, khi có mặt tại thị trường Việt Nam đến nay, ông nhìn thấy có doanh nghiệp Việt Nam nào có một chiến lược kinh doanh xuyên suốt ?

Có. Chúng tôi có thấy một số công ty Việt Nam như vậy. Đáng tiếc là không nhiều. Tôi xin phép không nêu tên doanh nghiệp.

- Các công ty Việt Nam khi đến với công ty tư vấn chiến lược (chiến lược kinh doanh, chiến lược chức năng, chiến lược nguồn nhân lực…), điều công ty ông quan tâm nhất ở doanh nghiệp là gì để việc hợp tác được diễn ra thuận lợi ?

Chúng tôi có 4 nguyên tắc vàng: 1. Lắng nghe (lắng nghe thật kỹ những điều khách hàng nói và cả những điều khách hàng không nói; 2. Suy nghĩ (chúng tôi có hiểu đúng khách hàng? Và khách hàng có hiểu đúng hiện tượng hay vấn đề cốt lõi?); 3. Tư vấn (chúng tôi thực hiện tư vấn nội bộ trước để xem điều gì chúng tôi có thể tư vấn cho khách hàng và điều gì là không thể tư vấn; 4. Hành động (quay lại gặp khách hàng để xem khách hàng có thống nhất, đồng ý với những ý kiến của chúng tôi; đưa ra những kế hoạch thực hiện tư vấn…). Nếu ở bước này, khách hàng không thống nhất, không thông suốt thì có nghĩa là xong rồi !

Điều chúng tôi quan tâm là phải cùng song hành với khách hàng, phải hiểu đúng vấn đề cốt lõi để có chiến lược và giải pháp hoạt động tốt nhất.

- Trong năm 2011, ông có cho rằng doanh nghiệp Việt Nam sẽ có những cơ hội tốt hơn ?

Chúng ta có cơ hội lớn là đi sau, có thể thấy được cái đúng, cái sai, có thể dự báo được tốt hơn. Tránh được sai lầm là đã có thể đi xa hơn rồi. Tôi thấy rõ, Việt Nam có cơ hội lớn trong khu vực; ngay cả thị trường nội địa Việt Nam cũng có cơ hội rất lớn nếu doanh nghiệp dám dấn thân và có tính cam kết.

Tôi có hơn 20 năm làm việc tại châu Á. Tôi không nhìn thấy Việt Nam thua sút quá xa so với các nước trong khu vực. Tôi nhìn thấy doanh nghiệp Việt Nam có rất nhiều cơ hội, nhiều tiềm năng để phát triển. Nếu doanh nghiệp Việt Nam làm tốt, tôi tin là các bạn không phải mất một thời gian quá dài để theo kịp các nước trong khu vực.

- Vậy ông dự báo bao lâu nữa thì Việt Nam tạo ra được bước nhảy vọt như thế ?

Tôi nghĩ nó tùy thuộc vào đường lối của Chính phủ, tùy thuộc cơ sở hạ tầng mà Chính phủ tạo ra cho doanh nghiệp phát triển, và cũng tùy thuộc vào sự quyết tâm, cam kết của cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, cá nhân tôi ước tính nếu doanh nghiệp làm đúng, làm tốt và làm hợp lý thì ít nhất 5 năm tới Việt Nam có thể tạo được bước ngoặt khá lớn.

(Theo Diễn đàn doanh nghiệp)

Popular Posts