Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Saturday, 8 January 2011

Lạm phát 2010, nhìn từ các góc độ giá

picture

Chi phí lưu thông trong quá trình phân phối đến tay người tiêu dùng khiến giá bị đẩy lên qua nhiều khâu.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chỉ là một trong nhiều chỉ số giá của Tổng cục Thống kê

Tác động của việc chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 tăng 11,75% đến người tiêu dùng là thấy rõ.

Tuy nhiên, CPI chỉ là một trong nhiều chỉ số giá của Tổng cục Thống kê. Đặt CPI trong các chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, chỉ số giá bán người sản xuất... sẽ còn cho thấy các góc độ ảnh hưởng khác của giá.

Bà Trần Thị Hằng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã chia sẻ những phân tích này với báo giới.

Giá nhập tăng 7, giá xuất tăng 10

Thưa bà, kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2010 đều có đóng góp của yếu tố tăng giá. Vậy mức độ tác động của nó đến trong nước như thế nào?

Theo đánh giá của chúng tôi, trị giá xuất khẩu của Việt Nam năm 2010 đạt 71,6 tỷ USD, ngoài việc tăng về số lượng, tăng giá ở đây cũng góp phần đẩy giá trị xuất nhập khẩu tăng cao. Năm nay riêng yếu tố tăng giá trên thế giới giúp cho trị giá xuất khẩu của chúng ta tăng khoảng 7 tỷ USD.

Đối với nhập khẩu cũng tương tự như vậy, năm nay nhập khẩu đạt khoảng 84 tỷ USD. Theo chúng tôi tính toán thì riêng yếu tố tăng giá cũng làm cho trị giá nhập khẩu tăng thêm 5,5 tỷ USD.

Và như vậy, với tốc độ tăng của giá nhập khẩu tăng khoảng 7% so với tốc độ tăng giá xuất khẩu là trên 10%, thì tính tổng thể chúng ta có lợi hơn.

Điều này có ảnh hưởng như thế nào đến CPI năm 2010, thưa bà?

Nếu giá xuất khẩu thế giới tăng thì các đơn vị của chúng ta tăng cường sản xuất, tăng cường thu mua để đẩy xuất khẩu lên, chúng ta được hưởng lợi từ thị trường thế giới. Cái này cũng góp phần làm cho giá trong nước tăng lên.

Ví dụ, về hàng lương thực, khi chúng ta đã đẩy thu gom xuất khẩu mạnh lên thì giá trong nước sẽ phải tăng lên. Đây là một trong những yếu tố làm tăng chỉ số giá, lương thực đóng góp cho tăng CPI năm nay khá cao.

Đối với nhập khẩu, trị giá nhập về có đến 90% là tư liệu sản xuất, trong đó trên 60% nhập nguyên, nhiên, vật liệu sản xuất trong nước. Và như vậy, giá thế giới cũng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp, làm cho giá thành sản phẩm tăng lên và do đó sẽ ảnh hưởng đến giá bán ngoài thị trường.

Đây cũng là bài toán cân đối như thế nào giữa cái lợi trong việc thu được ngoại tệ từ xuất khẩu và hạn chế việc sử dụng nguồn nguyên, nhiên, vật liệu từ nước ngoài để sản xuất trong nước, một bài toán cân đối vĩ mô rất lớn.

Nếu không giải quyết được vấn đề này, chúng ta sẽ vẫn trong vòng luẩn quẩn về việc phụ thuộc vào nguyên vật liệu nước ngoài. Và như vậy, chúng ta sẽ khó kiểm soát chặt chẽ tác động của giá bên ngoài đối với giá bán tại thị trường trong nước.

Người tiêu dùng thiệt nhất

Vậy thể hiện trong chi phí đầu vào sản xuất và bán ra như thế nào, thưa bà?

Trong năm 2009 và 2010, Tổng cục Thống kê đã triển khai tính thêm chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, một chỉ số rất quan trọng giúp loại trừ và đánh giá giá ảnh hưởng đến chi phí trung gian cho sản xuất.

Theo số liệu mà chúng tôi tính toán, chỉ số giá nhập khẩu tăng hơn trước khoảng 7%, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng khoảng 10%.

Trong khi đó, chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp, tức sản phẩm của người sản xuất bán ra, tăng trên 12%; và chỉ số giá bán sản phẩm nông nghiệp tăng trên 14%.

Qua đây, chúng ta đánh giá được là doanh nghiệp có thuận lợi hơn trong năm 2010 và người nông dân cũng thu lợi hơn trong năm 2010, bởi giá bán của họ tăng cao hơn giá nguyên, nhiên, liệu đầu vào.

So với mức tăng CPI cả năm 11,75% thì cho thấy điều gì, thưa bà?

Cho thấy đối với người sản xuất có thuận lợi hơn, dù có gặp nhiều khó khăn đi chăng nữa, nhưng vì chỉ số giá bán vẫn còn cao thì doanh thu của họ vẫn còn đạt khá và năm nay chúng ta vẫn giữ được tăng trưởng kinh tế khá ngoạn mục, đạt gần 6,8%. Đây cũng cho thấy giá trị của khu vực sản xuất tăng lên rất nhiều.

Chỉ số giá của người sản xuất đã tăng, chỉ số giá bán lẻ lại tăng tiếp, tức là khâu thương mại, dịch vụ, khâu trung gian, khâu phân phối tăng tiếp, thì như vậy, người tiêu dùng sẽ là người bị ảnh hưởng nhất. Người kinh doanh vẫn được lãi.

Cần giảm chi phí trung gian

Theo bà, điều này tác động đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào?

Đánh giá chung tổng thể năm 2010 có những thuận lợi hơn, nhưng tất nhiên trong xử lý làm thế nào để giảm chi phí. Nguyên, nhiên, vật liệu tăng khoảng 10% rồi thì ngoài ra những chi phí khác như quản lý hành chính, hoạt động trung gian… doanh nghiệp sẽ phải tính toán như thế nào đó để cân đối nhằm đạt được lợi ích tối đa.

Nhìn vào hai chỉ số giá này, doanh nghiệp và người sản xuất trong năm 2010 vẫn có thuận lợi. Nếu ngược lại thì lại có vấn đề, chỉ số giá đầu vào tăng cao hơn, chỉ số giá bán thấp hơn thì sẽ nguy hiểm lớn đối với doanh nghiệp.

Với chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn chỉ số giá bán người sản xuất như số liệu bà vừa dẫn, có thể hiểu là khâu phân phối đang giảm lợi nhuận?

Chi phí mà người kinh doanh phải bỏ ra kinh doanh, tôi bỏ vốn, anh kia cũng bỏ vốn và như vậy, mỗi khâu đều phải có lợi. Chi phí lưu thông trong quá trình phân phối đến tay người tiêu dùng khiến giá bị đẩy lên qua nhiều khâu.

Theo một nghiên cứu, chúng tôi thấy giữa giá trên thị trường thực tế ở Hà Nội, từ giá bán buôn cho đến các chợ bán lẻ, đến tay người tiêu dùng có những mặt hàng giá đã tăng đến 30%.

Điểm nữa trong khâu phân phối là các doanh nghiệp cũng như lãnh đạo các tỉnh quan tâm để kiềm chế, bình ổn giá và đã có những hỗ trợ cho các doanh nghiệp xây dựng những điểm bán giá bình ổn. Nhưng hiện nay không phải tất cả các mặt hàng đều được bình ổn, chỉ một số mặt hàng thiết yếu thôi.

Doanh nghiệp mua với giá cao thì họ vẫn phải bán giá cao. Các điểm bình ổn vẫn rất ít so với thực tế nhu cầu tiêu dùng, hầu hết là các siêu thị, các trung tâm thương mại, hoặc một số cửa hàng của hệ thống doanh nghiệp nhà nước cũ trước đây... Còn lại, toàn bộ các chợ truyền thống, khu vực nông thôn hầu như không được “phủ sóng”, chưa tác động được.

Với mức tiêu dùng hàng trăm nghìn tỷ đồng mỗi tháng, mấy nghìn tỷ đồng bình ổn chưa thấm vào đâu. Cần phải nghiên cứu trong cải tiến hệ thống phân phối, để hàng hóa đến tay người tiêu dùng qua ít khâu trung gian thì sẽ giảm khá nhiều chi phí.

Thống kê các chỉ tiêu vĩ mô lớn trong chuỗi thời gian dài, Tổng cục Thống kê nhìn nhận xu thế giá thế giới và tác động đến trong nước sẽ như thế nào trong năm 2011?

Tối thấy sẽ có khó khăn. Nếu kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi thì sản xuất sẽ tăng lên và nhu cầu về nguyên, nhiên, vật liệu cho sản xuất trên thế giới sẽ tăng lên. Và khi cầu tăng lên thì chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào mà chúng ta bị phụ thuộc vào nước ngoài cũng sẽ tăng lên, tiếp tục ảnh hưởng đến chi phí đầu vào.

Trong quá trình hiện nay, chúng ta đang cơ cấu lại kinh tế, các doanh nghiệp cũng phải cơ cấu lại chính doanh nghiệp của mình để có thể giảm tối đa chi phí đầu vào, chi phí trung gian không cần thiết, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp mình.

(Theo VNECONOMY)

Tuesday, 4 January 2011

Doanh thu 2010 của Petro Vietnam bằng 24% GDP

Chủ tịch Hội đồng Thành viên Petro Vietnam Đinh La Thăng chủ trì buổi họp báo sáng 4/1.

Sáng 4/1, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) đã công bố kết quả sản xuất, kinh doanh năm 2010 và kế hoạch năm 2011
Sáng 4/1, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) đã công bố kết quả sản xuất, kinh doanh năm 2010 và kế hoạch năm 2011.

Theo đó, tổng doanh thu trong năm 2010 của Petro Vietnam đạt 478,4 nghìn tỷ đồng, bằng 145% kế hoạch, tăng 59% so với cùng kỳ năm 2009, tương đương 24% GDP cả nước. Tổng lợi nhuận toàn tập đoàn đạt xấp xỉ 30.000 tỷ đồng.

Doanh thu dịch vụ dầu khí năm 2010 của Petro Vietnam đạt 152,5 nghìn tỷ đồng, bằng 135% kế hoạch, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm 32% tổng doanh thu toàn tập đoàn.

Trong năm 2010, Petro Vietnam cũng đã nộp ngân sách nhà nước 128,7 nghìn tỷ đồng, tăng 41% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm khoảng 30% tổng thu ngân sách nhà nước.

Về công tác thăm dò và khai thác dầu khí trong năm 2010, Petro Vietnam đã phát hiện 7 mỏ mới, đưa vào khai thác 5 mỏ mới (3 mỏ trong nước và 2 mỏ ở nước ngoài). Tổng sản lượng khai thác quy dầu trong năm qua đạt 24,41 triệu tấn, bằng 106% kế hoạch, trong đó sản lượng khai thác dầu đạt 15,1 triệu tấn, sản lượng khí đạt 9,4 triệu m3. Petro Vietnam cũng đã đạt mốc khai thác 260 triệu tấn dầu thô vào ngày 22/10/2010.

Trong năm 2010, Petro Vietnam đã xuất bán được 15 triệu tấn dầu thô, trong đó bán cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất 6,08 triệu tấn, bán dầu thô khai thác ở nước ngoài 230 nghìn tấn, còn lại là xuất khẩu. Tổng số ngoại tệ Petro Vietnam thu về trong năm qua là 9,22 tỷ USD, trong đó chủ yếu là thu từ xuất khẩu dầu thô và bán dầu cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.

Tập đoàn cũng đã sản xuất và cung cấp 12,55 tỷ kWh điện cho lưới điện quốc gia, và đã đạt con số 25 tỷ kWh vào đầu tháng 12 năm ngoái, nâng sản lượng điện đóng góp cho lưới điện quốc gia lên 14%.

Trong năm 2011, Petro Vietnam đặt mục tiêu khai thác 23,2 triệu tấn dầu quy đổi, trong đó dầu thô dự kiến đạt 15 triệu tấn, khí 8,2 tỷ m3, phấn đấu gia tăng trữ lượng dầu khí lên từ 30 - 35 triệu tấn dầu quy đổi.

Mục tiêu tổng doanh thu trong năm 2011 của tập đoàn đạt khoảng 486 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách 101 nghìn tỷ đồng. Trong giai đoạn 2011 - 2015, Petro Vietnam phấn đấu nâng doanh thu lên 3.040 nghìn tỷ đồng.

(Theo Vneconomy)

Wednesday, 29 December 2010

GDP năm 2010 của Việt Nam vượt 100 tỷ USD

Tổng sản phẩm quốc nội của toàn nền kinh tế trong 12 tháng tăng gần 13 tỷ USD so với năm 2009, đưa GDP của Việt Nam đạt 104,6 tỷ USD.

Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu chính thức về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2010. Theo đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tính theo giá thực tế, đạt 1,98 triệu tỷ đồng. Con số này tương đương khoảng 104,6 tỷ USD (tính theo tỷ giá liên ngân hàng ngày 28/12), nhiều hơn so với năm 2009 khoảng 13 tỷ USD.

Mục tiêu tăng trưởng tiếp tục được ưu tiên hơn trong năm 2010. Ảnh: CSMonitor
Mục tiêu tăng trưởng tiếp tục được ưu tiên hơn trong năm 2010. Ảnh: CSMonitor

Nếu so sánh theo kỳ gốc (năm 1994), tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay đạt khoảng 6,78% so với năm 2009. Con số này cao hơn gần 0,3% so với kế hoạch được Quốc hội phê duyệt đầu năm. Tốc độ tăng trưởng cũng tăng dần đều theo các quý và cao nhất vào quý IV (khoảng 7,3%). Về cơ cấu ngành, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng mạnh nhất (7,7%), dịch vụ tăng 7,5% trong khi nông nghiệp chỉ tăng khoảng 2,8%.

Để đạt được mức tăng trưởng nói trên, tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trong năm 2010 đạt khoảng 140.000 tỷ đồng, giảm khoảng 8% về giá trị tuyệt đối so với năm 2009. Tuy nhiên, con số này vẫn cao hơn khoảng 10% so với kế hoạch đề ra hồi đầu năm.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tính đến 21/12 năm nay, cả nước thu hút được 969 dự án với tổng vốn FDI đăng ký là 17,23 tỷ USD. Tuy chỉ có 8 dự án nhưng Quảng Nam lại là địa phương thu hút FDI mạnh nhất cả nước với lượng vốn gần 4,2 tỷ USD, gấp gần 2 lần hai địa phương tiếp theo là Bà Rịa - Vũng Tàu và Quảng Ninh.


(Theo Vnexpress)

Thursday, 23 December 2010

Vietnam Airlines ước đạt hơn 36.200 tỉ đồng doanh thu năm 2010

Hãng hàng không Vietnam Airlines (VNA) vừa cho biết, với tổng lượng hành khách dự kiến cả năm 2010 đạt 12,3 triệu lượt người, Vietnam Airlines đạt mức tăng trưởng vận chuyển khách 33,7% so với năm 2009.

Tổng doanh thu của hãng này trong năm đạt khoảng 36.265 tỉ đồng, tăng 37,6% so với năm 2009. Hệ số sử dụng ghế trong năm của hãng hàng không này đạt 77%. Tuy nhiên, lợi nhuận của Vietnam Airlines chỉ đạt khoảng 350 tỉ đồng.

Mặc dù con số lợi nhuận này tăng hơn gấp đôi so với năm trước (154 tỉ đồng), nhưng vẫn chưa tương xứng với mức gia tăng mạnh về số lượng hành khách hàng hàng hóa mà hãng này vận chuyển trong năm 2010 (tăng 43,9%). Nguyên nhân chính được xác định là do lạm phát và biến động mạnh về tỷ giá. Được biết, hãng này phải trích lập số chi phí chênh lệch tỷ giá để bảo toàn vốn với các khoản vay bằng ngoại tệ với số tiền trên 1.000 tỷ đồng.

Chiều 23/12, tại Sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội, Vietnam Airlines cũng đã tổ chức lễ đón hành khách thứ 12 triệu của năm 2010. Nhân dịp này, Vietnam Airlines đã công bố tặng quà cho 3 hành khách may mắn đi trên chuyến bay VN220 từ TP Hồ Chí Minh đi Hà Nội, hạ cánh xuống sân bay Nội Bài lúc 15 giờ. Theo đó, hành khách thứ 12.000.000 được tặng 1 cặp vé hạng thương gia trên chặng bay quốc tế bất kỳ của Vietnam Airlines.

Hành khách thứ 11.999.999 và 12.000.001, mỗi người cũng được tặng 1 cặp vé hạng phổ thông trên đường bay Đông Nam Á của hãng. Đồng thời, toàn bộ hành khách là hội viên Bông Sen Vàng đi trên chuyến bay có hành khách thứ 12 triệu đều được tặng 25.000 điểm thưởng vào tài khoản điểm.


(Theo DDDN)

Monday, 29 November 2010

Kinh tế Việt Nam là hiện tượng thần kỳ ở châu Á

Kinh tế Việt Nam là hiện tượng thần kỳ ở châu Á

Theo các chuyên gia Pháp, kinh tế Việt Nam là "hiện tượng phát triển thần kỳ ở châu Á," sau nhiều năm khó khăn do chiến tranh gây ra.


Cuối tuần qua, mạng tin Eurasia Review dẫn đánh giá của các chuyên gia Viện Nghiên cứu phát triển thuộc Đại học Tổng hợp Paris nhận định kinh tế Việt Nam là một "hiện tượng phát triển thần kỳ ở châu Á" sau nhiều năm khó khăn nghiêm trọng do chiến tranh gây ra.

Theo các nhà nghiên cứu Pháp, ngay từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, tình trạng nghèo đói ở Việt Nam đã giảm bớt. Số dân sống dưới mức nghèo đói giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 14,5% trong năm 2008. Chỉ trong vòng 15 năm, đã có 25 triệu người dân Việt Nam thoát nghèo.

Năm 2008, tại các khu vực thành thị, chỉ có 3,5% số dân thuộc diện nghèo đói mặc dù giá sinh hoạt tiếp tục tăng. Tỷ lệ người giàu tăng mạnh do Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế đáng kể trong 20 năm qua và là một trong số các nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới. Do đó, mới đây, Việt Nam đã được coi là "mấp mé" ở gần thứ hạng của khu vực các nước mới nổi.

Các chuyên gia nhận định Việt Nam đạt được thành công kinh tế như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là công cuộc đổi mới năm 1986 của Việt Nam đã đưa ra một định hướng đặc biệt: xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sau đó khu vực tư nhân năng động hình thành song song với khu vực kinh tế công. Việt Nam xác định động lực phát triển kinh tế trên cơ sở xuất khẩu và nhanh chóng tham gia nền kinh tế quốc tế. Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu dẫn đầu thế giới về càphê, hạt tiêu và đứng thứ hai về xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ.

Ngoài ra, Việt Nam còn đóng vai trò tích cực trong các tổ chức quốc tế. Tháng 1/2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Sự bùng nổ kinh tế không phải luôn mang lại lợi ích cho mọi người dân Việt Nam. Để khắc phục sự bất bình đẳng giữa các vùng miền, Chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách chuyển ngân sách từ các khu vực giàu sang khu vực nghèo, các vùng sâu, vùng xa để phát triển cơ sở hạ tầng như giáo dục, y tế, điện, hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp nước và thoát nước, cung cấp y tế và các loại dịch vụ xã hội khác.

Các chiến lược của Việt Nam dẫn đến sự cải thiện các chỉ số phát triển con người, đó là tỷ lệ trẻ em đến trường về cơ bản đạt 100%, tuổi thọ của nam giới tăng từ 63 tuổi năm 1990 lên 68 tuổi năm 2005 và tuổi thọ của nữ giới tăng từ 67 lên 73 tuổi. Việt Nam đang phấn đấu đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đúng thời hạn là vào năm 2015.

Tuy nhiên, để khắc phục nghèo đói, theo các chuyên gia Pháp, Việt Nam vẫn đang đứng trước một số thách thức cần giải quyết; trong đó những thách thức quan trọng nhất là phải giảm khu vực kinh tế không chính thức gồm những người bán hàng rong, các cửa hàng tư nhân trên đường phố, các dịch vụ trong nước...

Việt Nam hiện có trên 10 triệu người kinh doanh buôn bán nhỏ. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm mất một số lượng lớn việc làm và đã thúc đẩy khu vực kinh tế không chính thức tại Việt Nam. Khu vực này giải quyết 50% thị trường lao động và chiếm khoảng 20% GDP.

Eurasia Review kết luận để thu hẹp khu vực kinh tế không chính thức, Nhà nước nên tăng cường cung cấp các khoản vay hoặc đào tạo việc làm cho người nghèo và thành lập hệ thống an sinh xã hội cho người lao động thuộc khu vực này.

Theo TTXVN

Thursday, 25 November 2010

Tập đoàn kinh tế và DNNN: Những 'người khổng lồ' ốm yếu

Chính các tập đoàn kinh tế (TĐKT) và tổng công ty (TCT) nhà nước tạo nên sức mạnh kinh tế của quốc gia. Sự lớn mạnh của TĐKT góp phần vào thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia thông qua các hiệu ứng và tác động lan tỏa, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, tạo nhiều việc làm mới. Ngược lại, sự đổ vỡ của TĐKT, nhất là những tập đoàn mạnh có thể gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.

Nhìn vào danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500), có thể thấy các TĐKT và TCT nhà nước đang chiếm những vị trí dẫn đầu, chứng tỏ đó là những tổ chức kinh tế thực sự lớn về quy mô. Trong bảng xếp hạng VNR 500 năm 2009, 100% số các TĐKT cùng với 60% số các TCT hiện tại đã góp mặt, với tỷ trọng về doanh thu chiếm tới 41.85% trong toàn bảng so với 15.31% trong năm 2006.
Tỷ trọng Doanh thu của các TĐKT và TCT có mặt trong BXH VNR500
Những 'người khổng lồ' yếu ớt

Tuy nhiên, có thể nói, TĐKT đang giống những chiếc xe buýt tuy to nhưng không hề khỏe. Thống kê từ bảng xếp hạng VNR500 cũng cho thấy, các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh của các TĐKT và TCT Nhà nước không có chênh lệch lớn với khối doanh nghiệp thuộc thành phần sở hữu tư nhân và thua xa các doanh nghiệp thuộc khối FDI.

Chỉ tiêu ROA và ROE của 8 TĐKT và 54 TCT Nhà nước có mặt trong BXH 2009 lần lượt chỉ là 6,3% và 6,2%. Trong khi đó, các con số tương ứng của khối FDI 14% và 28%. Điều đó cho thấy, nếu xét riêng về hiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế đang thua kém từ 2 đến 3 lần so với các doanh nghiệp FDI. Đó là chưa kể, đóng góp vào GDP của khối kinh tế Nhà nước trong 4 năm gần đây giảm so với trước, chỉ còn khoảng 35% so với khoảng 46% của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước.

Có ý kiến cho rằng các tập đoàn, TCT nhà nước hút quá nhiều nguồn lực của xã hội nhưng sử dụng lại không hiệu quả, tạo môi trường cạnh tranh không công bằng, minh bạch, ảnh hưởng không tốt tới phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời, cũng có thể lập luận thêm rằng ngay cả khi những tập đoàn và TCT có lãi thì chủ yếu nhờ vào sự bảo hộ của Chính phủ, nhờ vào vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, hay hàng rào thuế quan cao, và/hoặc được Chính phủ trợ cấp bằng vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên rẻ, hay được ban phát các hợp đồng béo bở.

Lại có ý kiến cho rằng khu vực nhà nước ở Việt Nam hiện chiếm hữu rất nhiều nguồn lực nhưng sử dụng chúng một cách kém hiệu quả, đóng góp rất khiêm tốn cho ngân sách, tăng trưởng GDP, tạo việc làm mới, phát triển công nghiệp, và xuất khẩu, bởi vậy cần từ bỏ quan điểm chọn trước một khu vực nào đó là “xương sống” hay “chủ đạo”, bất chấp kết quả hoạt động của khu vực này.

Vai trò quan trọng

Dù nói gì thì nói, các tập đoàn, TCT nhà nước vẫn giữ vai trò không thể thiếu được trong nền kinh tế Việt Nam. Việc xây dựng và phát triển các tập đoàn, TCT nhà nước vừa đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc gia, vừa phù hợp với xu thế của kinh tế thế giới, đồng thời cho phép khai thác được những lợi thế so sánh của quốc gia và là hệ quả tất yếu của tăng trưởng. Hình thành và phát triển các TĐKT cho phép huy động một nguồn lực thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Với quy mô lớn, trình độ quản lý hiện đại, các TĐKT phát huy được lợi thế về quy mô, thống nhất phương hướng phát triển, tiết kiệm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, phát huy được thương hiệu chung của cả tập đoàn, qua đó làm tăng sức mạnh chung của cả tập đoàn cũng như mỗi công ty thành viên. Ngoài ra, việc khai thác lợi thế so sánh trong nước để thúc đẩy phát triển, các TĐKT còn chống lại sự thâm nhập ồ ạt của các tập đoàn nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới.

Đối với các nước đang phát triển, các nước đang tiến hành công nghiệp hóa như Việt Nam, TĐKT có vai trò quan trọng trong chiến lược bảo vệ sản xuất trong nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những cam kết tự do thương mại, hình thành các TĐKT lớn là giải pháp quan trọng để bảo vệ sản xuất trong nước khi mà các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh với các TĐKT lớn nước ngoài. Ở một số quốc gia, sự hỗ trợ của Nhà nước cùng với chiến lược phát triển đúng đắn đã hình thành những TĐKT mạnh và từng bước chiếm lĩnh thị trường quốc tế, các chaebol của Hàn Quốc là một ví dụ.

Cần phải làm gì?

Vấn đề đặt ra là nhận thức rõ ràng sức mạnh và vai trò của các TĐKT và TCT nhà nước, từ đó có những chủ trương, quyết sách, hành động đúng đắn.

Thứ nhất, vấn đề cốt lõi lớn nhất hiện nay đó chính là việc phân biệt vai trò của nhà nước trong nền kinh tế với vai trò và vị trí của các doanh nghiệp nhà nước - đặc biệt là vị trí của các tập đoàn, TCT trong nền kinh tế. Kinh doanh và quản lý nhà nước là hai vấn đề không nên trùng lặp nhau bởi quản lý nhà nước là để điều hành, chi phối nền kinh tế - khác với trực tiếp sản xuất kinh doanh. Do chưa có sự tách biệt rõ ràng nên các tập đoàn, TCT vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực hiện một số chức năng như cơ quan quản lý nhà nước, vừa phải lo đạt chỉ tiêu kinh doanh, vừa phải lo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội.

Nếu không giải quyết vấn đề từ gốc, không có một khung khổ pháp lý thì sẽ tiếp tục vướng mắc trong khi tìm giải pháp xử lý. Rõ ràng cần có Luật về đầu tư công (hay Luật sử dụng vốn và tài sản nhà nước) không chỉ đề cập đầu tư bằng vốn của ngân sách nhà nước vào các dự án, công trình mà điều chỉnh cả đầu tư vào các doanh nghiệp.

Thứ hai, cần xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong các TĐKT và TCT nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, vừa đảm bảo quyền chủ động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vừa bảo toàn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước.

Trong các doanh nghiệp nhà nước có 2 yếu tố quan trọng chi phối là: sở hữu và quản trị. Vốn và tài sản của doanh nghiệp có nguồn gốc từ đâu không quyết định được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà phụ thuộc vào yếu tố quản trị doanh nghiệp, vào quản trị công ty (corporate govenance) và điều hành sản xuất kinh doanh. Quản trị hạn chế sẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn và hoạt động thấp. Vấn đề quan trọng đặt ra trong thời gian tới là quản trị doanh nghiệp bao gồm việc thiết kế lại quy chế về quản trị doanh nghiệp, xác định rõ nội dung giám sát của nhà nước, làm rõ vai trò quản lý nhà nước và vai trò chủ sở hữu, làm rõ vai trò chủ sở hữu với quyền quyết định kinh doanh...

Quan điểm chỉ đạo tách quản lý hành chính nhà nước với chủ sở hữu vốn tại các doanh nghiệp nhà nước đã được đề cập từ Đại hội IX và Nghị quyết Đại hội X; đồng thời Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng quy định tách biệt 2 chức năng này. Vấn đề là thực hiện và cụ thể hóa nó như thế nào vẫn còn hạn chế.

Trong Nghị quyết của Quốc hội sau khi giám sát các tập đoàn, TCT đã kiến nghị 6 nội dung. Báo cáo về vấn đề này cũng đã phân tích rõ các hạn chế yếu kém và thể hiện những lỗ hổng mang tính hệ thống, ở toàn bộ các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các tập đoàn, TCT nói riêng; từ đó đặt ra những khuyến nghị liên quan đến vấn đề luật pháp, chính sách, quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp, kiểm tra giám sát hay đưa ra tái cơ cấu doanh nghiệp...

Thứ ba, bên cạnh việc đổi mới các quy định về quản lý tài chính và chế độ kiểm tra, giám sát hoạt động của các TĐKT, TCT nhà nước, cần tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng, giúp cho khu vực dân doanh ngày một trưởng thành tương xứng với tiềm tăng và những đóng góp của khu vực này cho nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển mạnh các loại hình kinh tế ngoài nhà nước, ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đưa thành phần kinh tế này trở thành động lực phát triển quan trọng của đất nước trong thời gian tới.

Các tập đoàn, TCT nhà nước là những chiếc đầu tàu của nền kinh tế, nhưng nền kinh tế có thể đi lên không chỉ trên những đường ray định sẵn.


(Theo DDDN)

Wednesday, 24 November 2010

Bước ngoặt mới về chống chuyển giá

picture

Vấn đề chuyển giá của doanh nghiệp FDI được đại biểu Quốc hội xem như là một trong những lỗ hổng quản lý tài chính lớn nhất hiện nay - Minh họa: Khều.

Những động thái gần đây cho thấy các cơ quan quản lý đang triển khai chống chuyển giá một cách quyết liệt, thay vì chỉ cảnh báo chung chung như trước.

Nóng ở Quốc hội

Trong phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, đại biểu Phạm Xuân Thường (Thái Bình) đã nêu vấn đề chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) như là một trong những lỗ hổng quản lý tài chính lớn nhất hiện nay.

Theo đại biểu Thường, năm 2009 toàn quốc có 1.358 doanh nghiệp FDI đang hoạt động thì có tới 56% số doanh nghiệp báo cáo làm ăn thua lỗ. Các doanh nghiệp này đều có công ty mẹ tại nước ngoài, hàng sản xuất ra 99% là xuất khẩu sang nước thứ ba.

Một doanh nghiệp FDI ở Tp.HCM liên tiếp trong ba năm báo cáo lỗ hàng nghìn tỷ đồng, có điều lạ là lỗ như vậy nhưng doanh nghiệp này vẫn mở rộng sản xuất, năm sau cao hơn năm trước.

Theo đại biểu Thường, đây thực chất là hình thức chuyển giá để trốn thuế của doanh nghiệp, bằng cách nhập nguyên liệu đầu vào từ công ty mẹ với giá cao ngất ngưởng, hàng đầu ra xuất sang các nước có thuế suất bằng 0 hoặc thuế suất thấp, nên danh nghĩa theo báo cáo là lỗ ở công ty con, nhưng lại lãi cực lớn ở công ty mẹ.

Trả lời chất vấn của đại biểu Phạm Xuân Thường về tình trạng này, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh nói rằng trên thực tế Bộ Tài chính đã bắt tay vào việc chống chuyển giá từ lâu, nhưng ông thừa nhận rằng đây “là một việc khó”

“Bộ đã tích cực trong việc triển khai thực hiện thanh tra, kiểm tra để hạn chế việc chống trượt giá, tuy nhiên việc chống trượt giá là vô cùng khó khăn, bởi vì việc xác định giá trị thiết bị, nhiên nguyên vật liệu nhập từ công ty mẹ nhìn trên hình thức giấy tờ là rất hợp pháp”.

Ông Ninh cũng nói rằng, khi Việt Nam gia nhập WTO, việc áp định bảng giá tối thiểu làm căn cứ vào đó xác định thuế đã phải hủy bỏ và cơ quan quản lý phải chuyển sang xác định thuế trên cơ sở giá trị theo chứng từ hóa đơn. Chính vì thế, quá trình triển khai về thanh tra, kiểm tra rất khó khăn.

Thông tư 66 về chống chuyển giá được ban hành vào tháng 4/2010 được xem là một nỗ lực nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc chống chuyển giá. Theo Bộ trưởng Vũ Văn Ninh, Bộ Tài chính khi thanh tra 127 doanh nghiệp FDI lỗ nhiều liên tục trong 3 năm, cũng đã phát hiện khai lỗ không đúng là 1.450 tỷ đồng, truy thu vào ngân sách.

“Hiện nay Bộ đang tiếp tục triển khai một chương trình thanh tra toàn diện đối với doanh nghiệp FDI, chúng tôi đối chiếu với các chứng từ đầu vào và đầu ra, tham khảo giá trên thị trường thế giới, trong quy định gọi là tham vấn giá… Hiện nay chúng tôi đã có công văn, văn bản đề nghị với Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tài chính chỉ đạo các cơ quan thương vụ, các cơ quan tham tán và đại sứ quán nước ngoài xin thu thập các thông tin có liên quan khi cơ quan thuế có yêu cầu phối hợp chống chuyển giá này”, ông Ninh nói.

Hình sự hóa để chống chuyển giá

Thay vì chỉ thanh kiểm tra và xử phạt chung chung như trước, chống chuyển giá đã được "hình sự hóa" trong năm nay, khi mà cơ quan nn ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố vụ án trốn thuế tại Khách sạn Equatorial, Tp.HCM.

Lịch sử thu hút đầu tư nước ngoài cho thấy trong hầu hết trường hợp vi phạm về thuế của doanh nghiệp FDI, cách xử lý thông thường vẫn là “xử lý hành chính”, phổ biến nhất là phạt và rồi… xong chuyện, với mức phạt mà nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận.

Theo tài liệu của cơ quan điều tra, Khách sạn Equatorial đã có hàng loạt sai phạm trong quá trình hoạt động. Trong hồ sơ chuyển giao cho cơ quan an ninh, Cục Thuế Tp.HCM nhận định từ năm 2003 đến 2008, khách sạn này không mở sổ sách kế toán theo quy định, không áp dụng hệ thống kế toán Việt Nam.

Ngoài ra, các phương thức đăng ký chuyển lỗ và xác định số liệu không nhất quán liên quan đến chênh lệch tỷ giá giữa các năm cũng chưa được liên doanh này thực hiện. Từ đó, cơ quan quản lý không thể xác định kết quả kinh doanh và xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, khách sạn đã không kê khai nộp thuế nhà thầu hơn 6,3 tỉ đồng và kê khai thiếu tiền thuế phải nộp hơn 8,5 tỉ đồng.

Việc ngành thuế chuyển hồ sơ sang cơ quan an ninh để khởi tố Khách sạn Equatorial có thể coi là một lời tuyên chiến đối với hành vi chuyển giá, cho dù ai cũng biết rằng đó là một cuộc chiến không hề đơn giản.

Việc ban hành Thông tư 66 được cộng đồng doanh nghiệp xem là động thái rõ nhất cho thấy quyết tâm của Bộ Tài chính trong việc thanh tra kiểm tra chống chuyển giá trong thời gian tới.

Công ty kiểm toán Deloitte, trong một tài liệu công bố gần đây, đánh giá rằng Thông tư 66 “là dấu hiệu cho thấy sau một thời gian gián đoạn, cơ quan quản lý thuế sẽ có những quan tâm mạnh mẽ hơn, sẽ có những động thái tích cực hơn đối với vấn đề chuyển giá. Điều này cũng có nghĩa là sẽ gia tăng các hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với vấn đề chuyển giá, đặc biệt tập trung vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”.

Tại hội thảo tập huấn về Thông tư 66 vừa được tổ chức tại Hà Nội mới đây, ông Nguyễn Văn Mơ, Phó cục trưởng Cục Thuế Hà Nội, cho biết cơ quan này đang tập trung quyết liệt vào việc chống chuyển giá, xác định giá giao dịch thị trường trong giao dịch liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau từ quý 4/2010.

“Các doanh nghiệp cần tuân thủ chính sách chế độ, đặc biệt là chính sách thuế, khi xác định giá trị giao dịch liên kết phải phản ánh đúng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đúng giá của thị trường. Những đơn vị/doanh nghiệp vi phạm về xác định giá trong giao dịch liên kết sẽ bị xử lý rất nặng”, ông Mơ nói.

Bà Vũ Thị An, nguyên Trưởng ban Thuế đầu tư nước ngoài thuộc Tổng cục Thuế, và hiện là Giám đốc Công ty Tư vấn thuế C&A, nhận xét là trong thời gian tới các công ty tư vấn thuế có thể sẽ “nhiều việc” để làm hơn, trước động thái quyết liệt này của Bộ Tài chính.

(Theo Vneconomy)

Thursday, 28 October 2010

Thắc mắc thực nợ của Vinashin

Từ lúc Vinashin đi vào hoạt động (2006) đến nay, Kiểm toán Nhà nước đã hai lần xây dựng kế hoạch kiểm toán đối với tập đoàn này.

Vinashin vẫn là cái tên dành được sự quan tâm đặc biệt của cả đại biểu Quốc hội và cử tri
“Việc tôi nói số nợ của Vinashin lên tới 120 nghìn tỷ đồng, chứ không chỉ là 86 nghìn tỷ đồng như báo cáo của Chính phủ là dựa vào nguồn tin đáng tin cậy”, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội, ông Lê Quang Bình, khẳng định bên hành lang Quốc hội hôm 27/10 vừa qua.

Con số mới về nợ của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam đã được ông Bình nêu ra khi Quốc hội thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010. Tại đây, ông Bình cho biết sẽ đề nghị Chính phủ giải trình rõ ràng về sự chênh lệch số liệu này và khẳng định công khai trước Quốc hội.

Ngay sau đó, sự “chênh lệch” này đã được báo chí đặt ra với Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, song không nhận được câu trả lời.

“Đến nay, cũng chưa thấy có ai có ý kiến gì về con số tôi đã nêu, hôm vừa rồi tôi đi họp bên Chính phủ cũng chưa thấy có “phản ứng” gì”, ông Bình tiếp tục chia sẻ. “Nhiều đại biểu nói với tôi là đã viết sẵn bài phát biểu về Vinashin để nói ở hội trường, và sẽ yêu cầu trả lời về con số này”.

Đồng thời, ông khẳng định: “Tất nhiên, tôi đã nêu con số nào thì ít nhất cũng phải từ thông tin của một con người, tổ chức cụ thể nào đó đáng tin cậy, không tin cậy thì không bao giờ tôi nói. Tôi sẽ chất vấn nếu Chính phủ không chủ động giải trình”.

Vị chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh của Quốc hội cũng hy vọng sẽ nhận được câu trả lời tin cậy từ Chính phủ. Vì, sau kỳ họp thứ tám còn có buổi làm việc giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nữa.

Trao đổi thêm về quan ngại của nhiều ý kiến xung quanh việc quản lý, giám sát các tập đoàn kinh tế, ông Bình cũng cho rằng “với cơ chế như hiện nay, nếu không có sự thay đổi thì tôi nghĩ là khó mà chấn chỉnh”.

Vậy sẽ thay đổi như thế nào, theo ông Bình, cần quy định cho rõ bộ nào chịu trách nhiệm hay cá nhân nào chịu trách nhiệm về việc gì. Như Tập đoàn Vinashin, nếu liên quan đến lĩnh vực vận tải thì ai chịu trách nhiệm, phải chăng Bộ Giao thông Vận tải phải chịu trách nhiệm.

Rồi giá thuốc cũng thế, Bộ Y tế không chịu trách nhiệm, nói giá thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính. Nếu giữ như cơ chế hiện nay tức là duy trì các tập đoàn kinh tế Nhà nước, do Nhà nước quản lý, Nhà nước đầu tư thì cơ quan Nhà nước phải có người chịu trách nhiệm. Nhưng như bây giờ là của Nhà nước nhưng không có ai chịu trách nhiệm, trong khi tiền là tiền của dân, ông Bình phân tích.

Cũng liên quan đến câu hỏi về trách nhiệm nói chung và của Vinashin nói riêng, trao đổi với VnEconomy, đại biểu Nguyễn Thị Bạch Mai, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh nêu ý kiến của cử tri đề nghị Quốc hội phải làm rõ cả trách nhiệm trực tiếp và gián tiếp.

“Điều khiến cả cử tri và đại biểu đều băn khoăn là vì sao thanh tra, kiểm toán nhiều (hơn 10 cuộc) mà không phát hiện được sai phạm gì. Có phải do năng lực yếu kém hay không mà không phát hiện được? Cho dù nội bộ báo cáo “láo” thì thanh tra, kiểm toán phải có nghiệp vụ để “lần” ra chứ? Vì thế cử tri cũng muốn “lật lại vấn đề này”, bà Mai nhấn mạnh.

Theo đại biểu Mai, mọi việc sai sót đều có quy trách nhiệm người đứng đầu, Luật Phòng chống tham nhũng cũng đã nêu rất rõ điều này nên cũng cần phải làm rõ chứ không thì cử tri còn thắc mắc, đại biểu cũng chưa yên tâm.

Không "nắm trong tay" những "chứng cứ" để có thể khẳng định mạnh mẽ hơn những vấn đề thuộc về trách nhiệm như đại biểu Mai đã nói, song một số đại biểu cũng chia sẻ với nhận định tại báo cáo thẩm tra báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2010 của Ủy ban Tư pháp.

Đó là, Vinashin qua 11 lần thanh tra, kiểm toán, những sai phạm như đầu tư dàn trải tràn lan trên nhiều lĩnh vực không liên quan đến chức năng của tập đoàn, kém hiệu quả, thua lỗ nặng nề; tình hình tài chính đứng trước bờ vực phá sản, sản xuất kinh doanh đình trệ, tình hình nội bộ diễn biến phức tạp; 1,7 vạn công nhân bỏ và chuyển việc, 5.000 công nhân mất việc làm, nợ lương, mà chính phủ và các cơ quan chức năng không biết, không ai chịu trách nhiệm.

"Qua đó, xã hội và cử tri rất bức xúc, cho rằng có sự bao che cho những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật của Vinashin làm thiệt hại lớn đến tiền và tài sản của Nhà nước", báo cáo viết.

Trao đổi với VnEconomy, đại biểu Đỗ Mạnh Hùng, Phó trưởng đoàn chuyên trách đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Nguyên cũng băn khoăn về một số vấn đề mà báo cáo của Chính phủ chưa làm rõ, trong đó có việc mười mấy lần thanh tra kiểm toán mà không phát hiện được sai phạm.

Ông Hùng đặt câu hỏi, báo cáo nhận xét người đứng đầu Vinashin "độc đoán, gia trưởng", vậy tại sao không chấn chỉnh sự độc đoán này, và cho rằng, nếu Chính phủ cung cấp đầy đủ thông tin hơn thì cử tri cũng sẽ bớt băn khoăn.

Nhiều vị đại biểu khác cũng có cùng quan tâm với những câu hỏi tương tự đại biểu Mai và đại biểu Hùng về Vinashin. Nhất là, sự giải thích của chính những người đứng đầu ngành thanh tra và kiểm toán còn có đôi phần khó hiểu.

Trả lời báo chí ngay từ đầu kỳ họp, Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền cho biết “riêng Thanh tra Chính phủ cũng đã đề xuất tới hai, ba lần đưa vào kế hoạch để thanh tra toàn diện Vinashin vì thấy có nhiều điểm không ổn. Nhưng đáng tiếc là để tránh chồng chéo thì cứ có kiểm toán thì thôi thanh tra, cứ “tránh nhau” như thế, nên có nhiều việc đã chậm.

Trả lời chất vấn (bằng văn bản) của Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên Vũ Quang Hải trước khi khai mạc kỳ họp, Tổng kiểm toán Nhà nước Vương Đình Huệ cho biết: cơ quan này từng nhiều lần lên kế hoạch kiểm toán Vinashin, ngay từ khi Vinashin còn chưa nâng cấp lên tập đoàn, nhưng rồi đều bị tạm dừng kế hoạch để tránh trùng lặp với Thanh tra Chính phủ.

Từ lúc Vinashin đi vào hoạt động (2006) đến nay, Kiểm toán Nhà nước đã hai lần xây dựng kế hoạch kiểm toán đối với tập đoàn này. Năm 2008 cũng đã lên kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính của tập đoàn, nhưng do Thanh tra Chính phủ đã đưa Vinashin vào kế hoạch thanh tra năm 2009 - nhưng rồi lại hoãn - nên theo quy chế phối hợp và để tránh trùng lặp, Kiểm toán Nhà nước đã đưa ra ngoài kế hoạch và lùi sang năm 2010.

Tuy nhiên, kế hoạch này lại tiếp tục bị trì hoãn bởi không được phê duyệt. Khi gửi cho Thanh tra Chính phủ, thì ý kiến của cơ quan này là: "Thanh tra Chính phủ thấy có sự trùng lặp về một số lĩnh vực và đối tượng kiểm toán".

Hiện nay, theo Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền, Vinashin đang được thanh tra toàn diện và cơ quan thanh tra cũng đã phát hiện nhiều vấn đề cụ thể hơn so với kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Và, trong khi chờ những "vấn đề cụ thể đó", thì đại biểu vẫn băn khoăn về những con số thực, và cử tri vẫn chờ câu trả lời thỏa đáng hơn về trách nhiệm.

(Theo Vneconomy)

Saturday, 23 October 2010

Doanh nghiệp nhà nước không đủ năng lực đóng vai trò chủ đạo

Xem hình

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định mọi thành phần kinh tế đều được coi trọng, đồng thời thừa nhận rằng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực nhà nước thấp hơn so với khu vực tư nhân, nhưng vẫn tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Câu hỏi đặt ra là liệu kinh tế nhà nước có đủ năng lực để đóng vài trò chủ đạo này hay không?

Góp phần trả lời câu hỏi này, bài viết này sử dụng các nguồn số liệu thống kê chính thức để đánh giá mức độ sử dụng nguồn lực và đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thành phần quan trọng nhất của kinh tế nhà nước, trong mối quan hệ so sánh với khu vực doanh nghiệp dân doanh trong nước (DNDD) và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Kết quả thống kê được tóm tắt trong bảng dưới đây.

Chưa tính đúng, tính đủ

Về phương diện sử dụng nguồn lực, theo số liệu thống kê chính thức, tỷ trọng vốn đầu tư và tín dụng của khu vực DNNN đã giảm một cách đáng kể lần lượt từ 57% và 37% trong giai đoạn 2001-2005 xuống 45% và 31% trong giai đoạn 2006-2009. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do chương trình cổ phần hóa DNNN, nhưng quan trọng hơn là do khu vực dân doanh đã lớn mạnh không ngừng kể từ khi ra đời Luật Doanh nghiệp 1999 và do dòng vốn FDI ồ ạt chảy vào Việt Nam cùng với tiến trình Việt Nam gia nhập WTO.

Tuy nhiên, tỷ trọng đầu tư và tín dụng theo số liệu chính thức chưa thực sự phản ánh đầy đủ thực trạng chiếm dụng nguồn lực của khu vực DNNN.

Về phương diện đầu tư, nhiều khoản đầu tư của Nhà nước cho các DNNN không nằm trong ngân sách, đồng thời nhiều khoản đầu tư của các DNNN, đặc biệt là của các tập đoàn và tổng công ty, được thực hiện qua các công ty con, và do vậy không được phản ánh một cách đầy đủ vào tổng đầu tư của khu vực này.

Bên cạnh đó, nhiều DNNN, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải, hàng không, viễn thông, được sử dụng cơ sở hạ tầng từ nguồn đầu tư trực tiếp của Nhà nước.

Tương tự như vậy, về phương diện tín dụng, DNNN nhận được rất nhiều tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển trước đây và Ngân hàng Phát triển Việt Nam hiện nay nhưng không nằm trong cơ sở dữ liệu của hệ thống ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tín dụng dành cho các công ty con, công ty sân sau (kể cả doanh nghiệp cổ phần hóa) của nhiều tập đoàn và tổng công ty cũng không được thống kê đầy đủ.

Đấy là chưa kể đến một thực tế hiển nhiên là khu vực DNNN được hưởng rất nhiều đặc quyền, đặc lợi so với các khu vực còn lại. Cụ thể là DNNN được Nhà nước cấp đất kinh doanh, hoặc nếu phải thuê thì với mức giá không đáng kể so với giá trị thị trường, sau đó được sử dụng đất thuê để thế chấp vay vốn ngân hàng, trong khi các doanh nghiệp tư nhân không có lựa chọn này. Các DNNN, với sự hậu thuẫn của Nhà nước, cũng được ưu tiên tiếp cận tín dụng (trong nhiều trường hợp thông qua tín dụng chỉ định) và ngoại tệ khan hiếm với giá thấp hơn giá thị trường.

Mức đóng góp ngày càng giảm

Mặc dù được biệt đãi về phương diện tiếp cận nguồn lực, đồng thời trong nhiều trường hợp được hưởng vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, nhưng đóng góp của khu vực DNNN cho nền kinh tế lại rất hạn chế, không những thế lại đang trên đà đi xuống.

Thứ nhất, trong 10 năm trở lại đây tỷ lệ đóng góp của khu vực DNNN cho ngân sách nhà nước trung bình chưa tới 20% và ngày một giảm so với chính mình cũng như so với khu vực tư nhân (bao gồm khu vực DNDD và FDI). Nếu như trong giai đoạn 2001-2005, DNNN đóng góp 19,6% cho ngân sách, cao gần gấp rưỡi so với khu vực tư nhân, thì trong giai đoạn 2006-2009, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 17%, tức là chỉ bằng bốn phần năm so với khu vực tư nhân.

Thứ hai, đóng góp của khu vực DNNN vào GDP cũng đi theo xu hướng tương tự. Báo cáo của Chính phủ thường dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê cho rằng DNNN tạo ra khoảng 35% GDP của Việt Nam, nhưng điều này không chính xác vì 35% là tỷ lệ đóng góp của cả khu vực nhà nước - trong đó DNNN chỉ là một bộ phận.

Sau khi trừ đi GDP tạo ra từ các hoạt động của khu vực nhà nước nằm ngoài DNNN (như quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, hoạt động đoàn thể...) thì trong giai đoạn 2006-2009, khu vực DNNN trung bình chỉ tạo ra khoảng 28% GDP, giảm từ mức 30% của giai đoạn 2001-2005.

Hơn nữa, đóng góp của khu vực DNNN vào tăng trưởng GDP đã giảm từ mức 33% trong giai đoạn 2001-2005 xuống 19% trong giai đoạn 2006-2009, nguyên nhân là do tốc độ tăng GDP của khu vực DNNN giảm từ 7,6% xuống 4,0% - tức là chỉ bằng một nửa so với khu vực tư nhân.

Thứ ba, về phương diện lao động - việc làm, kết quả điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ trọng lao động của khu vực DNNN giảm rất nhanh từ mức 44% trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 24% trong giai đoạn 2006-2008. Không những thế, tỷ lệ tạo ra việc làm mới cũng giảm một cách tương ứng từ -4% xuống -22%, tức là DNNN không những không tạo ra việc làm mới mà còn cắt giảm lao động, do vậy đặt gánh nặng tạo việc làm mới hoàn toàn trên vai của khu vực tư nhân, chủ yếu là của khu vực dân doanh.

Đã đành việc cắt giảm lao động là hệ quả khó tránh khỏi trong quá trình cổ phần hóa DNNN, nhưng nếu DNNN thực sự ngày một lớn mạnh thì chúng cũng phải có khả năng tạo ra việc làm mới, một yêu cầu tối quan trọng đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh và có lực lượng lao động trẻ dồi dào như Việt Nam.

Thứ tư, nếu nhìn vào hoạt động sản xuất công nghiệp, lĩnh vực trung tâm trong chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa của Việt Nam, thì vai trò của khu vực DNNN cũng hết sức khiêm tốn. Nếu như vào năm 1995, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước và tư nhân là 50%-50%, thì đến năm 2009, tỷ lệ này chỉ còn là 20-80%.

Không những thế, tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước (theo giá cố định) đã giảm từ 29% trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 8% trong giai đoạn 2006-2009. Trong khi đó, đóng góp của khu vực dân doanh tăng từ 34% lên 46% trong cùng thời kỳ.

Thứ năm, có bằng chứng cho thấy các DNNN đóng góp một cách khiêm tốn cho kim ngạch xuất khẩu nhưng lại là nơi tạo ra một tỷ lệ lớn kim ngạch nhập khẩu. Vì các nguồn số liệu chính thức hiện nay không tách bạch số liệu xuất - nhập khẩu của khu vực DNNN và DNDD nên kết quả xuất - nhập khẩu của hai khu vực này chỉ có thể được ước tính một cách gần đúng. Cụ thể là sau khi trừ dầu thô, than và khoáng sản thì DNNN chỉ tạo ra khoảng 15-20% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Về phương diện nhập khẩu, số liệu còn hạn chế hơn nữa. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các dự án lớn như Dung Quất, Vinashin, và những hoạt động thâm dụng vốn và công nghệ (chủ yếu có được nhờ nhập khẩu) của DNNN thì tỷ trọng nhập khẩu của DNNN chắc chắn rất cao.

Kết hợp hai thực tế, một là khu vực FDI xuất siêu (nên khu vực trong nước nhập siêu) và hai là kim ngạch xuất khẩu của khu vực DNNN chỉ chiếm dưới 20%, trong khi nhập khẩu rất nhiều, có thể thấy rằng DNNN là một nguyên nhân quan trọng của tình trạng nhập siêu ngày một cao ở Việt Nam.

Điều này cũng có nghĩa là một số vấn đề vĩ mô như thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai và sức ép giảm giá tiền đồng Việt Nam sẽ không thể được giải quyết triệt để nếu không thay đổi chính sách buộc các DNNN trở nên hiệu quả và cạnh tranh hơn.

Bức tranh đã rõ

Những tính toán và phân tích trên đây cũng phù hợp với một số đánh giá trước đây về hiệu quả hoạt động của khu vực DNNN. Theo bài “Đánh giá hiệu quả đầu tư” (2010) của tác giả Bùi Trinh, dù tính theo vốn đầu tư thực hiện hay theo tích lũy tài sản thì hệ số ICOR của khu vực kinh tế nhà nước cũng cao gấp rưỡi hệ số ICOR chung của toàn nền kinh tế.

Theo báo cáo tóm tắt kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì trong năm 2008, 56/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) dưới 15%, tức là thậm chí còn thấp hơn mặt bằng lãi suất trong năm 2008 (là năm có chỉ số CPI trung bình lên tới 20%).

Điều này có nghĩa là nếu áp dụng các phương pháp kế toán đúng đắn thì hầu hết các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sẽ thua lỗ. Đồng thời, cũng có thể lập luận thêm rằng ngay cả khi những tập đoàn và tổng công ty có lãi thì chủ yếu nhờ vào sự bảo hộ của Chính phủ, nhờ vào vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, hay hàng rào thuế quan cao, và/hoặc được Chính phủ trợ cấp bằng vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên rẻ, hay được ban phát các hợp đồng béo bở.

Nhà nước nên từ bỏ quan điểm chọn trước một khu vực nào đó là “xương sống” hay “chủ đạo”, bất chấp kết quả hoạt động của khu vực này, mà cần tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng.

Nói tóm lại, khu vực nhà nước ở Việt Nam hiện chiếm hữu rất nhiều nguồn lực nhưng sử dụng chúng một cách kém hiệu quả, đóng góp rất khiêm tốn cho ngân sách, tăng trưởng GDP, tạo việc làm mới, phát triển công nghiệp, và xuất khẩu.

Trong khi đó, khu vực dân doanh hiệu quả hơn, đang ngày một trưởng thành và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế lại bị chèn lấn, thiếu nguồn lực, và phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh không bình đẳng.

Ở một nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, luôn luôn khát vốn và có áp lực tạo việc làm mới lớn như Việt Nam thì năng lực sử dụng vốn một cách hiệu quả, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu là những tiền đề thiết yếu để giúp đất nước phát triển.

Để đạt được những điều này, trước hết cần từ bỏ quan điểm chọn trước một khu vực nào đó là “xương sống” hay “chủ đạo”, bất chấp kết quả hoạt động của khu vực này. Thay vào đó, Nhà nước cần tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng, giúp cho khu vực dân doanh ngày một trưởng thành tương xứng với tiềm tăng và những đóng góp của khu vực này cho nền kinh tế quốc dân.

(Theo Thesaigontimes.vn)

Thursday, 9 September 2010

Trúng tiền tỷ nhờ tìm được trầm quý, nông dân làm việc thiện

Trong lúc đi rừng tại khu vực đèo Phụng Hoàng, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai, 9 nông dân quê ở huyện Đại Lộc (Quảng Nam) tìm được 13 kg kỳ nam, mang về xuôi bán được gần 32 tỷ đồng.

Mỗi người trong nhóm được chia hơn 3 tỷ đồng, riêng ông Võ Quốc Tuấn ở thôn Nghĩa Tây, xã Đại Nghĩa, do có công phát hiện đầu tiên nên ưu tiên nhận hơn 6 tỷ.

Kể về hành trình đi tìm trầm cùng nhóm thanh niên trong làng, ông Tuấn cho biết, một tuần trước ông đang ở cánh rừng cạnh làng Tăng, xã Lơ Ku, huyện K'Bang, tỉnh Gia Lai, bất ngờ phát hiện trong bụi lồ ô rậm rạp một thân cây dó bầu to lớn đã mục nát. "Tôi gọi cả nhóm tới cùng dùng cuốc và liềm để khai thác. Sau hơn nửa giờ hì hục đào, tìm được một lõi kỳ nam to bằng bắp chân”, người đàn ông này hào hứng tường thuật.

Nhóm tìm trầm hương đã tự nguyện góp hơn 50 triệu đồng từ số tiền bán kỳ nam, cho Quỹ vì người nghèo của xã Đại Nghĩa. Riêng ông Tuấn còn ủng hộ 80 triệu đồng đóng hai chiếc ghe đua tặng cho thôn Nghĩa Tây và Nghĩa Tân, nhằm khơi dậy phong trào đua ghe truyền thống địa phương vào mỗi dịp lễ, Tết. Ông Tuấn cũng góp 20 triệu đồng để bê tông hóa tuyến đường nông thôn.

Ông Thái Ngọc Ôi, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Đại Nghĩa cho biết, một số nông dân may mắn khác cũng đã đề nghị xã cấp đất để ủng hộ 150 triệu đồng làm sân bóng chuyền, bóng đá và biểu diễn văn nghệ.., tạo sân chơi cho thanh niên quê nhà.

Trầm hương thường có trong những gốc cây dó lâu năm. Ảnh: tudo.9.forumer.com

Đầu tháng 8, hai cụ già ở Phú Yên đi núi cũng tình cờ nhặt được kỳ nam, song vì không biết giá trị của nó nên chỉ bán rất rẻ. Những người mua sau đó đã bán lại số kỳ nam này thu hàng tỷ đồng.

Theo các chuyên gia về y học cổ truyền, kỳ hương hay còn gọi là kỳ nam, được tạo thành từ cây dó lâu năm. Dó có ba loại thường gặp: dó lưỡi trâu; dó lang và dó bầu. Trầm hương có xuất xứ từ hai loại dó lưỡi trâu và dó lang. Còn cây dó bầu (có tên khoa học là Aquilaria Agallochea thuộc họ trầm hymelaeaceae) thì tạo thành kỳ nam.

Dó tự mọc trong rừng, phát triển thành cổ thụ, thường mọc ở các vùng núi miền Trung dọc theo các tỉnh: Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Nam... Đông y gọi kỳ nam là "già nam", ngoài ra còn có những tên gọi khác như: già nam hương, nhự nam hương, lục kết, mật kết, sạn hương, hổ ban kim ty kết và kỳ nam hương.

Trầm hương và kỳ nam của Việt Nam rất có giá trị trên thị trường quốc tế. Đó là những hương liệu quý giá trong việc điều chế các loại nước hoa hảo hạng như Santal, Nuit d'Orient..., một số xà phòng tắm và nhất là nhang trầm.

Kỳ nam có công dụng chữa trị chứng đi tiểu không cầm được; giúp cho bền vững tinh khí (giao hợp được lâu); rất hay trong điều trị các bệnh tiêu hóa như bệnh khí thống (đau do hơi dồn tức trong bụng), hay đau bụng tiêu chảy thể tả; còn có tác dụng tiêu tan đờm dãi (dùng trong trị chứng ho). Ngoài ra, kỳ nam còn được dùng làm vòng đeo tay, hạt chuỗi, đồ trang sức có hương thơm lưu giữ hằng mấy chục năm. Nhiều người cho rằng đeo đồ trang sức làm từ kỳ nam vừa có công dụng trị gió, lại tránh được cảm.


(Theo Vnexpress)

Monday, 6 September 2010

10 nghịch lý của kinh tế Việt Nam

picture

Việt Nam tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý

Kinh tế Việt Nam không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, tăng trưởng đã thoát đáy vượt dốc đi lên và đang dần phục hồi.

Tuy nhiên xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý, trong đó có 10 nghịch lý được xét trên các góc độ khác nhau.

Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí còn tụt hậu xa hơn.

Năm 2010 (tạm tính tăng 6,5%), GDP của Việt Nam so với năm 1985 cao gấp gần 5,2 lần (bình quân thời kỳ 1986 - 2010 tăng 6,8%/năm); so với năm 1990 cao gấp trên 2 lần (bình quân thời kỳ 1991- 2010 tăng 7,4%/năm). Đó là những tốc độ tăng khá cao.

GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân năm 2008 của Việt Nam đạt 1.052 USD (năm 2010 ước tính sẽ đạt khoảng 1.138 USD), thấp xa so với các con số tương ứng của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (Singapore 37.597,3 USD, Brunei 35.623 USD, Malaysia 8.209,4 USD, Thái Lan 4.042,8 USD, Indonesia 2.246,5 USD, Philippines 1.847,4 USD).

GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới bằng 42,8%, con số tương ứng của khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 7/11 nước; bằng 26% con số tương ứng của châu Á và đứng thứ 36/50 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh; bằng 11,7% con số tương ứng của thế giới và đứng thứ 138/182 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh.

Nếu họ “đứng yên” thì cũng phải nhiều năm sau Việt Nam mới bằng mức hiện nay của họ. Nhưng đó chỉ là giả thiết, thực tế họ vẫn tiến, thậm chí có nước, có năm còn tiến nhanh hơn.

Từ các con số trên, có thể rút ra hai nhận xét đáng lưu ý. Một, thứ bậc về GDP bình quân đầu người của Việt Nam vẫn nằm ở nửa dưới trong các nước ở khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Hai, do giá trị của 1% tăng lên của GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp như trên, nên tốc độ tăng chỉ tiêu này của Việt Nam phải cao gấp đôi tốc độ tăng của khu vực Đông Nam Á, cao gấp trên 4 lần tốc độ tăng của châu Á và cao gấp 9 lần tốc độ tăng trung bình của thế giới thì mới không bị tụt hậu xa hơn (chênh lệch tuyệt đối giảm).

Hai là, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững.

Tăng trưởng kinh tế sau khi bị giảm trong năm 1979 và năm 1980, thì từ năm 1981 đã tăng trưởng liên tục, tính đến năm 2010 này là 30 năm, vượt kỷ lục cũ của Hàn Quốc (23 năm tính đến năm 1996) và hiện chỉ thấp hơn kỷ lục 32 năm hiện do Trung Quốc đang nắm giữ.

Tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do sự đóng góp của yếu tố tăng vốn (chiếm khoảng 52 - 53%); do sự đóng góp của yếu tố tăng số lượng lao động (chiếm khoảng 19 - 20%); còn yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động trên cơ sở khoa học - công nghệ) mới chiếm 28 - 29%, thấp xa so với con số 35 - 40% của một số nước trong khu vực.

Kinh nghiệm trong lịch sử và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, mục tiêu cuối cùng đạt được không phải chỉ bằng tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà phải bằng độ bền của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Đã đến lúc, nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, thì ngay cả việc tăng trưởng với tốc độ cũ cũng khó mà đạt được.

Ba là, mở cửa hội nhập để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng nhập siêu liên tục với quy mô lớn.

Nhập siêu của Việt Nam có năm điểm đáng lưu ý. Một, nhập siêu gần như liên tục, trong thời gian dài. Trong 25 năm đổi mới, chỉ có một năm xuất siêu nhẹ (41 triệu USD) và cách đây cũng đã khá lâu (năm 1992), còn có tới 24 năm nhập siêu. Hai, mức nhập siêu khá lớn (năm 2008 lên đến trên 18 tỷ USD và 4 năm nay, nếu tính bằng tỷ USD đã ở mức hai chữ số); tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, so với GDP vượt mức an toàn (trên 20%).

Ba, mở cửa, hội nhập là để tìm thị trường tiêu thụ, nhưng gần như càng mở cửa, hội nhập thì càng nhập siêu. Đặc biệt nhập siêu lại bùng lên khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bốn, nhập siêu thường kèm theo là giá giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi, nhưng trong khi sản xuất trong nước thì bị cạnh tranh, giảm thị phần, còn người tiêu dùng vẫn phải mua giá cao. Điểm thứ năm, nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn, mà lại từ các thị trường không phải có kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn - đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc.

Bốn là, chuyển sang kinh tế thị trường đã nhiều năm, nhưng thể chế chuyển chậm.

“Bàn tay hữu hình” còn quá dài, trong khi “bàn tay vô hình” còn quá ngắn. Doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng, nhưng phình to về quy mô, chiếm tỷ trọng lớn về vốn, chiếm tỷ trọng nhỏ về lao động; doanh nghiệp tư nhân ra đời nhiều, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, nhưng quy mô nhỏ, chậm lớn. Cải cách hành chính chậm, thủ tục hành chính còn nặng nề. Chi phí bất hợp lý, thậm chí bất hợp pháp còn nhiều. Cạnh tranh chưa bình đẳng, “ra sân chơi chung, nhưng đã chấm trước người thắng kẻ thua”. Kinh tế thị trường nhưng độc quyền còn lớn.

Năm là, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trên 15 năm, nhưng tính gia công còn nặng. Do gia công nặng, nên vừa làm cho giá trị tăng thêm thấp, vừa phụ thuộc vào nước ngoài, làm tăng nhập siêu, dễ bị ảnh hưởng khi thị trường nước ngoài gặp bất ổn.

Sáu là, “tam nông” rất quan trọng, nhưng chưa được quan tâm tương xứng.

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên; tỷ lệ dân số nông thôn từ trên 90% trước Cách mạng đã giảm xuống nhưng hiện vẫn còn chiếm 70%; tam nông đã đóng góp tích cực trong việc giúp cho đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát trong thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước; giúp ổn định ở trong nước để ứng phó với cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997 - 1998, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008- 2009,... nhưng tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâm - thủy sản trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm và hiện ở mức thấp (năm 2000 chiếm 13,8%, năm 2005 còn 7,5%, năm 2009 còn 6,3%).

Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa giảm. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn lớn cả về thu nhập, chi tiêu, nhà ở, điện nước, vệ sinh, đồ dùng lâu bền... còn lớn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi ở thành thị, số người nghèo ở nông thôn chiếm trên dưới 90% tổng số hộ nghèo của cả nước...

Bảy là, với mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam đã kích cầu đầu tư lớn (có tỷ lệ đầu tư so với GDP đứng hàng đầu thế giới), nhưng lãi suất vay vốn ở Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ. Thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán của dân cư còn thấp do thu nhập của lao động thấp; nhưng khi kích cầu đầu tư và tiêu dùng thì có một phần không nhỏ hàng hóa, vật tư của nước ngoài nhập siêu vào chiếm lĩnh thị phần.

Tám là, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ động viên tài chính cao, nhưng tỷ lệ bội chi ngân sách lớn và tăng.

Tỷ lệ tích lũy so với GDP của Việt Nam đã tăng khá nhanh (từ 27,1% năm 1995 lên 29,6% năm 2000, lên 35,6% năm 2005, lên 43,1% năm 2007, vài năm có giảm xuống nhưng năm 2009 vẫn ở mức 38,1%, thuộc loại cao trên thế giới.

Tỷ lệ tổng thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tăng và thuộc loại cao (nếu năm 2000 mới đạt 20,5% thì năm 2005 đã đạt 27,2%, năm 2008 là 28,1%), nhưng tỷ lệ bội chi so với GDP tăng lên (từ 4,1% năm 2000 lên 5,2% năm 2008, lên 6,9% năm 2009 và năm 2010 có thể giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao trên 6%). Đây là một trong những yếu tố làm bất ổn vĩ mô, yếu tố tiềm ẩn của lạm phát.

Chín là, khoa học - công nghệ là động lực của tăng trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng tác động đối với nền kinh tế còn thấp.

Tỷ trọng hoạt động khoa học- công nghệ trong GDP nhiều năm nay chỉ chiếm 0,62-0,63%, tác động đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế nhỏ. Tình hình này do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do đầu tư chưa đủ độ (năm 2009 đã tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 0,73% tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Có nguyên nhân do cơ chế vận hành hoạt động này chậm được chuyển đổi, khi có cơ chế thì thực hiện còn lúng túng. Có nguyên nhân do hoạt động khoa học- công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có sự kết hợp chặt chẽ. Thị trường khoa học công nghệ chậm hình thành và chậm phát triển.

Mười là, giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nếu khoa học - công nghệ là động lực của phát triển, thì giáo dục - đào tạo là chìa khóa của khoa học - công nghệ. Giáo dục - đào tạo sớm được xác định là quốc sách hàng đầu, với tỷ trọng chi cho giáo dục - đào tạo trong tổng chi ngân sách tăng. Ngành giáo dục - đào tạo liên tục cải cách, nhưng hiệu quả thấp...

(Theo Vneconomy)

Popular Posts