Showing posts with label lythuyetketoan. Show all posts
Showing posts with label lythuyetketoan. Show all posts

Wednesday, 13 June 2012

Nhận diện và xử lý sai sót kế toán

Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ kế toán, kế toán doanh nghiệp có thể phạm phải những sai sót nhất định. Các sai sót này ảnh hưởng đến tính trung thực, hợp lý của thông tin kế toán; Đồng thời có thể ảnh hưởng tới nghĩa vụ pháp lý của DN đối với Ngân sách Nhà nước (NSNN).
TS. Lưu Đức Tuyên - Học viện Tài chính

Nhận diện các sai sót của kế toán
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và sai sót xác định sai sót có thể phát sinh từ việc ghi nhận, xác định giá trị, trình bày và thuyết minh các khoản mục trên Báo cáo tài chính; trong đó:
- Sai sót phát sinh từ việc ghi nhận các khoản mục bao gồm sai sót trong việc ghi nhận các khoản mục tài sản, nợ phải trả, thu nhập, chi phí khi chưa thỏa mãn các điều kiện mà kế toán chưa ghi nhận để trình bày trên BCTC trong kỳ.
- Sai sót trong việc xác định giá trị các khoản mục bao gồm các sai sót do tính toán, xác định giá gốc, phân bổ giá gốc các khoản mục tài sản, nợ phải trả, xác định thu nhập, chi phí...
- Sai sót trong phân loại, trình bày và thuyết minh về các khoản mục bao gồm sai sót do sử dụng sai tài khoản, ghi sai quan hệ tài khoản dẫn đến trình bày trên BCTC không đúng khoản mục và các sai sót do thuyết minh không đầy đủ theo quy định.
Đặc điểm các sai sót trong kế toán
Để nắm bắt được ảnh hưởng của các sai sót và áp dụng các phương pháp xử lý sai sót phù hợp, cần phải hiểu rõ những đặc điểm của các sai sót trong áp dụng chính sách, sai sót trong tính toán, diễn giải
Hai, Sai sót kế toán thường có ảnh hưởng mang tính hệ thống. Điều này xuất phát từ mối quan hệ của các đối tượng kế toán và tính logic của chu trình kế toán. Do vậy, sai sót kế toán thường không mang tính đơn lẻ. Kế toán DN phải nhận diện và xử lý các sai sót một cách có hệ thống.
Ba, sai sót kế toán có thể dẫn đến sai sót trong kê khai, quyết toán nghĩa vụ thuế của DN đối với NSNN. Do vậy, việc xử lý sai sót cần được tiếp cận từ góc độ chuẩn mực kế toán và từ góc độ các quy định của chính sách thuế Nhà nước.
Thực trạng xử lý sai sót kế toán của các DN hiện nay
Với việc các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh ngày càng đa dạng, các quy định về kế toán ngày càng phức tạp, việc các DN gặp phải những sai sót trong kế toán là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, trong việc xử lý các sai sót kế toán tại các DN hiện nay vẫn tồn tại một số vấn đề cần khắc phục:
Một là, Nhiều DN chưa phân loại sai sót một cách phù hợp để lựa chọn áp dụng phương pháp xử lý thích hợp. Các sai sót kế toán thường được xử lý theo cùng một phương pháp là điều chỉnh trực tiếp vào sổ kế toán kì phát hiện ra sai sót.
Hai là, việc công bố và thuyết minh về sai sót trong kế toán còn rất hạn chế dẫn đến làm giảm tính minh bạch và khả năng so sánh của thông tin kế toán. Đa số các DN không thuyết minh về các sai sót trên các BCTC.
Ba là, nhiều kế toán và DN còn nhầm lẫn giữa các sai sót kế toán với các sai sót trong sử dụng thông tin kế toán chấp hành chính sách thuế. Chính vì vậy, các DN còn nhầm lẫn trong việc xử lý sai sót liên quan đến sử dụng thông tin kế toán cho mục đích kê khai, quyết toán thuế với NSNN.
Xuất phát từ tình trạng trên, chúng tôi cho rằng, việc phân loại và xử lý các sai sót cần phải được thực hiện một cách triệt để để trên cơ sở các quy định của luật và chuẩn mực kế toán hiện hành.
Yêu cầu của việc xử lý sai sót kế toán là phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và nhất quán, đảm bảo người sử dụng thông tin kế toán hiểu đúng bản chất và ảnh hưởng của sai sót đến số liệu trên BCTC của DN. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29, để xử lý sai sót, kế toán cần xem xét mức độ ảnh hưởng của sai sót và phân biệt các loại sai sót (bảng 1).
Bảng 1
Quy trình áp dụng thủ tục hồi tố có thể khái quát như sau:
- Xác định ảnh hưởng của sai sót đến các yếu tố trên BCTC của các năm bị ảnh hưởng, bao gồm ảnh hưởng của sai sót đến số liệu từng năm và ảnh hưởng có tính lũy kế đến các chỉ tiêu của BCTC.
- Điều chỉnh ảnh hưởng lũy kế đến đầu năm hiện tại của sai sót đối với các yếu tố vào số dư đầu năm hiện tại của các tài khoản kế toán bị ảnh hưởng (Điều chỉnh tăng hoặc giảm số dư bị ảnh hưởng).
- Điều chỉnh số liệu được sử dụng để lập các cột thông tin so sánh của báo cáo năm hiện tại.
- Thuyết minh bản chất của sai sót đã được phát hiện. Đồng thời công bố điều chỉnh số liệu so sánh của các kỳ báo có bị ảnh hưởng bởi sai sót (Số liệu điều chỉnh được công bố dưới dạng một phụ lục của thuyết minh).
Xử lý sai sót theo pháp luật thuế hiện hành.
Thông thường, các sai sót trong quá trình ghi sổ và lập BCTC của kế toán có thể dẫn đến sai sót về nghĩa vụ thuế của DN. Với các sai sót này, về góc độ quản lý thuế, DN phải xác định ảnh hưởng lũy kế của các sai sót này đến nghĩa vụ thuế phải nộp và phải kê khai bổ sung vào các tờ khai thuế một cách kịp thời. Nếu là sai sót trong kỳ của kế toán, phát hiện trước khi tờ khai quyết toán thuế được nộp, DN phải thực hiện điều chỉnh vào tờ khai trước khi nộp cho cơ quan Thuế quản lý.
Nếu là sai sót các kỳ trước, được phát hiện kỳ này, DN phải xác định ảnh hưởng lũy kế của sai sót đến nghĩa vụ thuế và thực hiện kê khai bổ sung, đồng thời tự xác định các khoản phạt vi phạm hành chính, lãi chậm nộp thuế (nếu có) và thực hiện nộp thuế bổ sung, tiền phạt kịp thời theo quy định hiện hành.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế - tài chính theo hướng ngày càng đa dạng, hệ thống chuẩn mực kế toán cũng ngày càng phức tạp hơn. Các sai sót phát sinh trong công tác kế toán là điều khó tránh khỏi đối với các DN. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế ở Việt Nam, nguồn nhân lực về kế toán ở các DN còn nhiều hạn chế. Do vậy, việc hiểu và thống nhất áp dụng quy trình và phương pháp điều chỉnh các sai sót theo các chuẩn mực kế toán sẽ đảm bảo việc khắc phục các sai sót được công khai, minh bạch, giảm thiểu ảnh hưởng của sai sót đối với người sử dụng thông tin cũng như đảm bảo DN chấp hành tốt nghĩa vụ thuế đối với Ngân sách Nhà nước.
(Theo TCKT&KT)

Wednesday, 16 February 2011

Chi phí khấu hao TSCĐ: Sự khác biệt giữa quy định của thuế và kế toán

Chi phí khấu hao TSCĐ:

Sự khác biệt giữa quy định của thuế và kế toán

Th.s Nguyễn Thị Diệu Thu

M

ặc dù chi phí khấu hao TSCĐ là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên chi phí của DN, nhưng sự khác biệt giữa kế toán và thuế đang khiến cho các DN lung túng trong vấn đề ghi nhận chi phí khấu hao TSCĐ.

Chi phí khấu hao TSCĐ không sử dụng cho hoạt động SXKD hàng hóa, dịch vụ.

Theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, mọi TSCĐ hiện có của DN có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh (gồm cả tài sản chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý) đều phải trích khấu hao theo quy định hiện hành. Khấu hao TSCĐ dùng trong sản xuất, kinh doanh trong kỳ; khấu hao TSCĐ chưa dùng, không cần dùng, chờ thanh lý hạch toán vào chi phí khác.

Theo quy định của thuế, tại Khoản 2, Điều 9, Phần C, Thông tư số 203/2009TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ, "2. Các khoản chi phí khấu hao TSCĐ quy định tại Điểm 2.2, Mục IV, Phần C Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì không được tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp."

Tại điểm 2.2, Mục IV, Phần C- Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn các khoản chi khấu hao TSCĐ không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:

"2.2. Chi khấu hao TSCĐ thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Chi khấu hao đối với TSCĐ không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

Riêng TSCĐ phục vụ cho người lao động làm việc tại DN như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, xe đưa đón người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề, nhà ở cho người lao động do DN đầu tư xây dựng được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế."

Chi phí KH TSCĐ chưa đứng tên sở hữu của DN.

Theo quy định của thuế, Phần C, Mục IV Thông tư 130, điểm b): Chi phí khấu hao đối với TSCĐ không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của DN (trừ TSCĐ thuê mua tài chính) thì không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, chi phí khấu hao đối với TSCĐ không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của DN trong một số trường hợp cụ thể vẫn được ghi nhận vào chi phí của DN.

Ví dụ 1: DN X mua căn hộ để làm văn phòng, nhưng vì lý do nào đó chưa chuyển được tên trong sổ đỏ theo tên DN, nghĩa là DN chưa chứng minh được văn phòng làm việc đã mua thuộc quyền sở hữu của mình. Theo quy định của thuế, chi phí khấu hao văn phòng làm việc đó sẽ không được tính vào chi phí hợp lý của DN. Nhưng trên thực tế, rõ ràng, văn phòng làm việc là thuộc quyền sở hữu của DN, nên theo quy định của kế toán chi phí khấu hao, văn phòng làm việc vẫn được ghi nhận vào chi phí của DN.

Chi phí khấu hao TSCĐ là ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống ứng với nguyên giá trên 1.6 tỷ và TSCĐ là du thuyền, máy bay.

Theo quy định của thuế, Phần C, Mục IV, Thông tư 130, Điểm e, phần trích khấu hao tương ứng với phần nguyên giá vượt trên 1.6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chờ người từ 9 chỗ ngồi trở xuống mới đăng ký sử dụng và hạch toán trích khấu hao TSCĐ từ ngày 1/1/2009 (trừ ô tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn); phần trích khấu hao đối với TSCĐ là tàu bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lịch.

Ô tô chở khách từ 9 chỗ ngồi trở xuống chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn là các ô tô được đăng ký kinh doanh có đăng ký một trong các ngành nghề: vận tải hành khách, du lịch, kinh doanh khách sạn.

Tàu bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lịch là tàu bay dân dụng, du thuyền của các DN đăng ký và hạch toán trích khấu hao TSCĐ nhưng trong Giấy chứng nhận ĐKKD của DN không đăng ký ngành nghề vận tải hàng hóa, vận tải hành khách, du lịch.

Theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, chí phí khấu hao TSCĐ là ô tô vẫn được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ để xác định chi phí kế toán, dù tài sản ấy có trị giá là 2-3 tỷ hay hơn nữa vẫn tính khấu hao cho đối tượng và bộ phận sử dụng tài sản đó.

Đồng thời, tàu bay, du thuyền nếu là tài sản hiện có của DN đều phải trích khấu hao và chi phí khấu hao được ghi nhận bình thường.

Ví dụ 2: Tháng 3/2009, Công ty A mua một chiếc xe 5 chỗ ngồi, trị giá 2,3 tỷ đồng. Thời hạn sử dụng khấu hao TSCĐ do Bộ Tài chính quy định đối với thiết bị phương tiện vận tải đường bộ là 10 năm. Theo đó, mức trích khấu hao trung bình hàng năm là 230 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, theo quy định của Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thì nguyên giá làm cơ sở tính trích khấu hao TSCĐ được trừ chỉ là 1.6 tỷ đồng. Như vậy, DN chỉ được trừ chi phí KHTSCĐ là 160 triệu đồng/năm thay vì 230 triệu đồng/năm. Khoản chi phí chênh lệch 70 triệu đồng phải hạch toán vào thu nhập sau thuế TNDN.

Ví dụ 3: DN B trong năm 2009 có mua 01 chiếc xe ô tô 7 chỗ ngồi giá trị xe là 1,5 tỷ đồng, thuế GTGT là 75 triệu đồng, lệ phí trước bạ và lệ phí đăng ký xe là 100 triệu đồng. Do DN B mua chiếc xe ô tô này bằng tiền mặt mà không thực hiện thanh toán qua ngân hàng nên không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào mà thuế GTGT đầu vào được tính vào nguyên giá TSCĐ. Như vậy, tổng nguyên giá TSCĐ của chiếc xe ô tô lúc này sẽ là 1,675 tỷ đồng (1,5 + 0,075 + 0,1). Vậy, DN B chỉ được trích khấu hao TSCĐ vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế theo nguyên giá của xe với mức khống chế là 1,6 tỷ đồng.

Trên đây là một số điểm khác nhau trong vấn đề ghi nhận chi phí khấu hao TSCĐ giữa kế toán và thuế. Đây cũng là một trong những vấn đề vướng mắc của các DN hiện nay. Nên chăng, phần chi phí khấu hao TSCĐ được kế toán ghi nhận nhưng không được thuế coi là chi phí hợp lý thì trừ thẳng vào phần lợi nhuận sau thuế thu nhập DN. Như vậy, sẽ giúp cho kế toán vẫn xác định đúng chi phí theo quy định của kế toán, còn lợi nhuận chịu thuế thì vẫn được xác định đúng theo quy định của thuế.

Hy vọng, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế sẽ xem xét vấn đề này để có những quy định phù hợp giúp cho các DN nói chung và người làm công tác kế toán nói riêng có được sự thuận lợi trong việc hạch toán nói riêng có được sự thuận lợi trong việc hạch toán chi phí, xác định lợi nhuận chịu thuế. Đồng thời, để trách việc kế toán lách luật thuế, trốn thuế đưa thêm các chi phí vào DN để bù đắp những chi phí của kế toán mà không được thuế ghi nhận. Mặt khác, sự thống nhất giữa kế toán và thuế sẽ giúp cho những người quản lý thuế được thuận lợi hơn trong vấn đề thanh tra, quyết toán thuế./.

(Theo TC Kế toán và Kiểm toán)

Nguồn: www.vacpa.org.vn

Tuesday, 4 January 2011

Kế toán nghiệp vụ sử dụng sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ

KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ SỬ DỤNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA CHO TIÊU DÙNG NỘI BỘ

TS. Hà Thị Ngọc Hà

Phó Vụ trưởng Vụ CĐKT và kiểm toán

Bộ Tài chính

TS. Hà Thị Ngọc Hà

Phó Vụ trưởng Vụ CĐKT và kiểm toán

Bộ Tài chính

Theo qui định hiện hành của pháp luật thuế

giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thì khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ (gọi tắt là hàng tiêu dùng nội bộ) thì doanh nghiệp phải tính, kê khai và nộp cả thuế GTGT và thuế TNDN mặc dù nghiệp vụ này không phát sinh lợi nhuận theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp. Nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa cho tiêu dùng nội bộ sẽ phát sinh một khoản chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế TNDN và lợi nhuận kế toán do sự khác biệt về quan điểm ghi nhận giữa pháp luật về thuế TNDN và chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp. Trên thực tế kế toán thuế GTGT và thuế TNDN nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ chưa thực hiện đúng ở khá nhiều doanh nghiệp do chưa cập nhật kịp thời các qui định về thuế và kế toán. Tác giả xin được trình bày các qui định hiện hành và phân tích rõ để giúp các doanh nghiệp và những người quan tâm hiểu đúng để triển khai tốt các vấn đề trên, cụ thể như sau:

1. Về thuế GTGT đối với hàng tiêu dùng nội bộ và hàng luân chuyển nội bộ

Theo Thông tư Số 129 /2008/TT- BTC ngày 26/12/ 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/ 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT (sau đây gọi tắt là Thông tư số 129) thì: Đối với sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ thì doanh nghiệp phải tính, nộp thuế GTGT và giá tính thuế GTGT của sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ là giá tính thuế GTGT của sản phẩm, hàng hóa cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các nghiệp vụ này. Ngược lại, đối với sản phẩm, hàng hóa luân chuyển nội bộ (gọi tắt là hàng luân chuyển nội bộ) thì doanh nghiệp không phải tính, kê khai, nộp thuế GTGT.

Thông tư số 129 qui định để phân biệt rõ sự khác nhau giữa hàng tiêu dùng nội bộ và hàng luân chuyển nội bộ, cụ thể như sau: (1) Hàng tiêu dùng nội bộ là sản phẩm, hàng hóa do doanh nghiệp xuất sử dụng cho tiêu dùng của doanh nghiệp, không bao gồm sản phẩm, hàng hóa sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; (2) hàng luân chuyển nội bộ bao gồm sản phẩm, hàng hoá luân chuyển nội bộ như xuất sản phẩm, hàng hoá để chuyển kho nội bộ; xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong doanh nghiệp.

Ví dụ 1: Doanh nghiệp A sản xuất quạt điện, dùng 5 sản phẩm quạt lắp vào cho bộ phận bán hàng, chi phí sản xuất (giá thành thực tế) của 1 chiếc quạt là 0,4 triệu đồng/1chiếc, giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này là 0,5 triệu đồng/1chiếc. Thuế GTGT đầu ra là 10% phải nộp tính trên số quạt xuất tiêu dùng nội bộ là:

0,5 triệu đồng/1chiếc x 5 chiếc x 10% = 2,5 triệu đồng.

Với ví dụ trên:

- Nếu doanh nghiệp A nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ khi xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp A phải lập Hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. Tuy nhiên do doanh nghiệp A xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD là hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT nên số thuế GTGT đầu ra phải nộp tính trên số quạt xuất tiêu dùng nội bộ lại được khấu trừ.

- Nếu doanh nghiệp A nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ khi xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh nghiệp A phải lập Hoá đơn GTGT, trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, trường hợp này doanh nghiệp A phải tính nộp thuế GTGT và số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm sử dụng nội bộ tính vào chi phí SXKD (vì doanh nghiệp A xuất kho quạt điện để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT).

Ví dụ 2: Doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc B có phân xưởng sợi và phân xưởng may. Doanh nghiệp B xuất sợi thành phẩm từ phân xưởng sợi cho phân xưởng may để tiếp tục quá trình sản xuất thì doanh nghiệp B không phải tính và nộp thuế GTGT đối với sợi xuất cho phân xưởng may.

Ví dụ 3: Doanh nghiệp C vừa có hoạt động sản xuất thức ăn gia súc vừa có hoạt động trực tiếp chăn nuôi gia súc. Thức ăn gia súc sản xuất ra một phần sử dụng để bán ra chịu thuế GTGT và một phần tiếp tục sử dụng cho hoạt động chăn nuôi gia súc thì doanh nghiệp C không phải tính và nộp thuế GTGT đối với số thức ăn gia súc phục vụ hoạt động chăn nuôi không chịu thuế GTGT. Số thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất thức ăn gia súc được khấu trừ được phân bổ theo tỷ lệ doanh thu bán thức ăn gia súc trên tổng số doanh thu bán thức ăn gia súc và doanh thu bán gia súc.

2. Về thuế TNDN đối với hàng tiêu dùng nội bộ

Theo Thông tư Số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ CP ngày 11/12/ 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNDN­­­­­­ thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm tiêu dùng nội bộ.

Với Ví dụ 1 nêu trên, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế khi xác định thuế TNDN phải nộp được tính theo giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này tại thời điểm tiêu dùng nội bộ là 0,5 triệu đồng/chiếc.

3. Về phương pháp kế toán đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ

Thứ nhất, theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán khi doanh nghiệp xuất kho sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì đều không phát sinh lãi, lỗ. Khi xuất kho sản phẩm, hàng hóa phục vụ hoạt động SXKD thì giá trị sản phẩm, hàng hóa được tính vào chi phí SXKD theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn sản phẩm, hàng hoá. Đối với TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế, theo chuẩn mực kế toán số 03 – Tài sản cố định hữu hình (đoạn 18) thì nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế là giá thành thực tế của TSCĐ tự xây dựng, hoặc tự chế cộng (+) chi phí lắp đặt, chạy thử. Trường hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó cộng (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Trong các trường hợp trên, mọi khoản lãi nội bộ không được tính vào nguyên giá của các tài sản đó.

Thứ hai, về phương pháp kế toán đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ (theo qui định của Thông tư 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán doanh nghiệp), cụ thể như sau:

(1). Trường hợp xuất kho sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, doanh nghiệp phải lập Hoá đơn GTGT làm chứng từ hạch toán. Trường hợp này doanh nghiệp phải tính, nộp thuế GTGT:

- Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán

Có các TK 155, 156.

- Đồng thời ghi doanh thu bán hàng nội bộ:

Nợ các TK 621, 627, 641, 642,... (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Nợ các TK 154, 642,... (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Nếu sản phẩm, hàng hóa xuất sử dụng cho hoạt động SXKD)

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nếu sản phẩm sản xuất xong được chuyển thành TSCĐ sử dụng cho SXKD)

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)

- Đồng thời phản ánh số thuế GTGT đầu ra cho sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ được khấu trừ, ghi:

Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ

Có TK 333 (33311)(Thuế GTGT)

Theo ví dụ 1, khi xuất kho quạt để tiêu dùng nội bộ, kế toán doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi:

Nợ TK 632: 2 triệu đồng

Có TK 155: 2 triệu đồng (5 chiếc x 0,4 triệu đồng/1 chiếc)

Đồng thời ghi doanh thu bán hàng nội bộ:

Nợ TK 641: 2 triệu đồng

Có TK 512: 2 triệu đồng

Đồng thời phản ánh số thuế GTGT đầu ra cho sản phẩm tiêu dùng nội bộ được khấu trừ, ghi:

Nợ TK 133: 0,25 triệu đồng (5 chiếc quạt x 0,5 triệu đồng/1chiếc)

Có TK 333 (33311): 0,25 triệu đồng.

Chú ý:

- Kế toán phải ghi đồng thời 2 bút toán phản ánh giá vốn hàng bán và doanh thu bán hàng nội bộ, trong đó doanh thu bán hàng nội bộ ghi Có TK 512 theo chi phí sản xuất sản phẩm là 2 triệu đồng nên không phát sinh lãi, lỗ theo qui định của chuẩn mực, chế độ kế toán trong nghiệp vụ này.

- Khi tính, kê khai và xác định thuế GTGT và thuế TNDN phải nộp, doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu để tính thu nhập chịu thuế TNDN được tính theo giá bán (chưa có thuế GTGT) của loại quạt này trên thị trường tại thời điểm tiêu dùng nội bộ là 2,5 triệu đồng/1 chiếc, giá vốn hàng tiêu dùng nội bộ là 2 triệu đồng và thu nhập chịu thuế TNDN là 0,5 triệu đồng.

(2). Trường hợp xuất kho sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho nghiệp vụ SXKD hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, trường hợp này doanh nghiệp phải tính nộp thuế GTGT và số thuế GTGT phải nộp của sản phẩm, hàng hoá sử dụng nội bộ tính vào chi phí SXKD:

- Khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ, ghi:

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán

Có các TK 155, 156.

- Đồng thời ghi nhận doanh thu bán hàng nội bộ, ghi:

Nợ các TK 621, 627, 641, 642,...(Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá cộng (+) với thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN); hoặc

Nợ TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nếu sản phẩm sản xuất xong được chuyển thành TSCĐ sử dụng cho SXKD) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm cộng (+) với thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN)

Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (33311) (Thuế GTGT của hàng tiêu dùng nội bộ phải nộp NSNN)

Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo q/đ số 15 ghi), Có TK 511 - Doanh thu bán hàng (Chi tiết doanh thu bán hàng nội bộ) (Doanh nghiệp áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa ban hành theo q/đ số 48 ghi) (Theo chi phí sản xuất sản phẩm hoặc giá vốn hàng hoá)

Tuy nhiên các qui định về thuế GTGT và thuế TNDN đối với nghiệp vụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ như đã nêu trên còn có những điểm chưa hợp lý đó là: (1) Nguồn thu ngân sách tăng không đáng kể vì NSNN chỉ thu được khi xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp. Còn trường hợp phát sinh phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay là xuất kho sản phẩm, hàng hoá để tiêu dùng nội bộ phục vụ cho hoạt động SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, thì số thuế GTGT đầu ra của sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng nội bộ lại được khấu trừ toàn bộ; (2) Làm tăng khối lượng công việc do phải kế toán và kê khai, tính và nộp thuế GTGT và thuế TNDN, đồng thời trên thực tế khó phân biệt hàng tiêu dùng nội bộ thì phải tính, nộp thuế GTGT và thuế TNDN với hàng luân chuyển nội bộ thì không phải tính, nộp thuế GTGT và thuế TNDN; (3) Không phản ánh đúng bản chất của thuế TNDN, vì hoạt động này không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp nên thuế TNDN phải nộp khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ sẽ làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Các điểm bất hợp lý trên Nhà nước cần sớm nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các qui định trên cho phù hợp theo hướng như đã qui định trước đây đó là khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa để tiêu dùng nội bộ doanh nghiệp không phải kê khai, tính và nộp thuế GTGT và thuế TNDN. Từ đó giảm bớt sự khác biệt về quan điểm ghi nhận giữa pháp luật về thuế TNDN và chuẩn mực, chế độ kế toán doanh nghiệp./.

(Theo VACPA)

Tuesday, 9 November 2010

So sánh IFRS (IAS) và VAS (tiếp 6)

So Sánh IFRS (IAS) và VAS (tiếp 6)


Nội dung

IFRSs

VASs

IAS 16 và VAS 3 - Tài sản cố định hữu hình

Ghi nhận tài sản cố định hữu hình

Không quy định mức giá trị tối thiểu để ghi nhận Tài sản cố định.

Chuẩn mực đưa ra bốn tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình, trong đó có tiêu chuẩn giá trị đối với từng hạng mục tài sản cố định hữu hình. Theo quy định hiện hành, mức giá trị tối thiểu để ghi nhận tài sản cố định là 10 triệu VNĐ.

Xác định giá trị ban đầu

Các tài sản đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCĐ được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá.

Nguyên giá TSCĐ hữu hình có thể bao gồm các chi phí ước tính cho việc tháo dỡ, di chuyển các tài sản và khôi phục mặt bằng.

Không đề cập đến vấn đề này.

Chi phí lãi vay phát sinh từ việc thanh toán trả chậm sau thời hạn thanh toán thông thường để có được tài sản có thể được tính vào hoặc không được tính vào nguyên giá của tài sản.

Chi phí lãi vay được tính vào nguyên giá tài sản theo quy định của chuẩn mực về chi phí lãi vay.

Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu

Đơn vị có thể lựa chọn sử dụng phương pháp giá gốc hoặc phương pháp đánh giá lại và áp dụng chính sách kế toán này cho một nhóm tài sản.

Chỉ cho phép sử dụng phương pháp giá gốc.

Giá đánh giá lại phải là giá trị hợp lý tại ngày đánh giá lại trừ đi khấu hao lũy kế và các khoản lỗ do giá trị tài sản bị tổn thất.

Tài sản chỉ được đánh giá lại trong một số trường hợp đặc biệt.

Xử lý các chênh lệch đánh giá lại

Khi việc đánh giá lại làm tăng giá trị tài sản, thì số chênh lệch này cần được ghi tăng khoản mục thặng dư đánh giá lại (phần nguồn vốn), trừ trường hợp chính tài sản này trước đó đã được đánh giá giảm mà số chênh lệch giảm đó đã được ghi vào chi phí thì số đánh giá tăng lần này cần được ghi nhận là thu nhập.

Khi đánh giá lại làm giảm giá trị tài sản thì số chênh lệch vượt quá số có thể ghi giảm vào khoản mục thặng dư đánh giá lại (là số hiện đang ghi nhận là thặng dư đánh giá lại của cùng tài sản) cần được ghi nhận là chi phí.

Không đề cập đến vấn đề này.

Sự giảm giá trị tài sản

Khi giá trị có thể thu hồi được giảm xuống thấp hơn giá trị còn lại, thì giá trị còn lại cần được điều chỉnh giảm xuống mức giá trị có thể thu hồi được.

Phần điều chỉnh giảm vượt quá số hiện đang ghi trên khoản mục thặng dư đánh giá lại của chính tài sản đó, cần được ghi nhận là chi phí.

Khi tình huống dẫn đến việc ghi giảm giá trị tài sản không còn hiện hữu và chắc chắn sẽ xuất hiện các điều kiện mới, cần ghi nhận một khoản dự phòng tăng giá trị tài sản. Tuy nhiên, khoản dự phòng ghi tăng này cần phải giảm trừ số khấu hao đáng lẽ đã được trích nếu trước đó không ghi giảm giá trị tài sản.

Việc ghi nhận các khoản giảm giá trị tài sản được tuân thủ theo IAS 36 - Giảm giá trị tài sản.

Không đề cập đến vấn đề này.

Chênh lệch đánh giá lại tài sản thực hiện

Khi chênh lệch đánh giá lại tài sản thực hiện, khoản chênh lệch này được kết chuyển trực tiếp vào lợi nhuận chưa phân phối. Chênh lệch đánh giá lại tài sản có thể được thực hiện toàn bộ khi có nghiệp vụ ngừng hoạt động/thanh lý một tài sản hoặc được thực hiện một phần trong quá trình sử dụng tài sản (chênh lệch giữa khấu hao trên giá trị còn lại của tài sản và khấu hao trên nguyên giá ban đầu).

Không đề cập trong các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi tại Việt Nam.

Trình bày báo cáo tài chính

Chuẩn mực đưa ra các yêu cầu chi tiết về việc trình bày phương pháp đánh giá lại.

Không đề cập đến việc trình bày báo cáo tài chính đối với phương pháp đánh giá lại.

(Theo Deloitte)

Monday, 4 October 2010

INVENTORY ACCOUNTING

INVENTORY ACCOUNTING


Ads by Google
Accounting Courses + MBA - Get MBA or MSc Fully Sponsored with ACCA/CIMA Course, Apply Now! - www.LSBF.org.uk/ACCA
Get Chlor-Alkali Prices - From THE most trusted source of C-A data in global markets--Harriman. - www.Harriman.co.uk
Vocollect Voice Solutions - Make your Warehouse Voice-centric Visit website for customer videos - www.vocollect.com


Ads by Google
FCPA Forensic Accounting
BDO Consulting helps organizations
mitigate FCPA risk.
www.bdoconsulting.com

Heating oil savings
Discount oil with prompt delivery
Save 20% or more per delivery
Buyriteoils.com

Supply Chain Leadership
Starts with MIT CTL
Partner with the best!
ctl.mit.edu/partnering_with_ctl

Automatic Scheduling
Maximo and other EAM Software
Match Work to Available Labor
www.synterprise.com

A company's inventory is all of its merchandise intended for sale to its customers in the normal course of business. Inventories are considered current assets in that they usually are sold within a year or within a company's operating cycle. Furthermore, inventories make up the most valuable current asset for most retailers. Inventory accounting is the process of determining and keeping track of the inventory costs. Inventory costs refer to all the costs a company incurs to obtain merchandise, including the actual merchandise costs as well as transportation costs. Proper inventory accounting enables companies to represent their net income accurately. To do so, accountants must use the appropriate methods for measuring inventory, because inaccurate inventory amounts or values can make a company seem more profitable than it really is and can misrepresent a company in its financial statements.

A starting point for inventory accounting is determining the cost of merchandise that has been sold within a given accounting period, which is referred to as the "cost of goods sold." The cost of goods sold is the net acquisition cost of merchandise obtained and sold to customers during an operating period and is calculated by adding the value of the beginning inventory, the cost of new inventory items, and transportation costs, and then by subtracting the ending inventory amount (see Table 1).

Table 1
Table 1
Beginning Inventory
$20,000
Add:

Net Cost of Purchases $62,000
Add:

Transportation 1,000


63,000


$83,000
Less:

Ending Inventory
18,000
Cost of Goods Sold
$65,000

When measuring inventories, accountants consider two variables—quantity and price—and refer to inventories by their dollar value (quantity multiplied by price). While the principle of taking inventory is simple—counting all items available for sale, pricing them, and calculating their value—the practice of it can be complicated and time consuming. The complications arise because even medium-sized companies often have numerous items in a host of sizes, types, and qualities, which they purchased at different unit prices and which they store at different sites. In addition, measuring inventory may involve including items that have not been delivered yet, which companies nonetheless technically own. Such items are called "goods in transit."

INVENTORY ACCOUNTING METHODS

SPECIFIC IDENTIFICATION METHOD.

Inventory pricing also becomes complicated when unit prices for inventory items fluctuate during an accounting period. Nevertheless the basic idea of inventory pricing is uncomplicated: a retailer should determine the value of its inventory by figuring out what it cost to acquire that inventory. When an inventory item is sold, the inventory account should be reduced (credited) and cost of goods sold should be increased (debited) for the amount paid for each inventory item. This method works if a company is operating under the Specific Identification Method. That is, a company knows the cost of every individual item that is sold. This method works well when the amount of inventory a company has is limited, the value of its inventory items is high, and each inventory item is relatively unique. Companies that use this method include car dealerships, jewelers, and art galleries.

Problems arise when a company has a large inventory and each specific inventory item is relatively indistinguishable from other items. Some retailers, for example, sell only one line of products, such as blue jeans. Such a retailer may have an inventory that includes various styles and sizes, but the inventory on the whole is similar. Suppose this retailer buys the inventory from a wholesaler or manufacturer and pays $3,000 for 300 pairs of jeans. Hence, the cost per pair is $10. If the cost never changes, then inventory costing is simple. Every pair of jeans costs the exact same amount. Because of inflation as well as discounts and sales, however, prices tend to fluctuate. For instance, this retailer might buy 100 pairs of jeans on Monday for $1,000 ($10 per pair), and 200 pairs of jeans on Friday for $2,150 ($10.75 per pair). Under the Specific Identification Method, the retailer would have to mark or code every pair of jeans, to determine which purchase a particular pair of jeans came from. This method is far too cumbersome for companies with large and even medium-sized inventories, although it is the most precise way of determining inventory prices. As a result, other inventory valuation methods have been developed.

WEIGHTED AVERAGE METHOD.

Under the Weighted Average Method, a company would determine the weighted average cost of the inventory. In the example above, the weighted average cost would be $3,150 / 300 pairs which equals $10.50 per pair of jeans. Therefore, every pair of jeans would have the inventory price of $10.50, regardless of whether they were actually bought in the $10 purchase or the $10.75 purchase. This weighted average would remain unchanged until the next purchase occurs, which would result in a new weighted average cost to be calculated. This inventory accounting method is used primarily by companies that maintain a large supply of undifferentiated inventory items such as fuels and grains.

FIFO METHOD.

Another method used by companies is called the FIFO Method (first-in, first-out). Under FIFO, it is assumed that the oldest inventory—i.e., the inventory first purchased—is always sold first. Therefore, the inventory that remains is from the most recent purchases. So for the given example, the first 100 jeans that are sold will reduce inventory and increase cost of goods sold at a rate of $10 per pair. The next 200 sold will have an inventory price of $10.75 per pair. It is irrelevant whether customers actually buy the older pairs of jean first. Under FIFO, a company always assumes that it sells its oldest inventory first and that ending inventories include more recently purchased merchandise. Companies selling perishable goods such as food and drugs tend to use this method, because cash flow closely resembles goods flow with this method.

LIFO METHOD.

The final method that a company can use is the LIFO Method (last-in, first-out). Under LIFO, it is assumed that the most recent purchase is always sold first. Therefore, the inventory that remains is always the oldest inventory. So for the given example, the first 200 jeans that are sold will reduce inventory and increase cost of goods sold at a rate of $10.75 per pair. Again, It does not matter if customers actually buy the newer pair of jeans first. Under LIFO, a company always assumes that it sells its newest inventory first. Nevertheless, this method represents the true flow of goods for very few companies.

COMPARISON OF THE METHODS

These different methods will affect cash flow, the actual or assumed association of inventory unit costs with goods sold or in stock—not goods flow, the actual movement of goods. Therefore, gross profits will vary among the different methods. The example of 250 pairs of jeans sold at $15 each in Table 2 demonstrates this phenomenon. Suppose that 80 pairs of jeans remain unsold during this period, making up the ending inventory, and apply the inventory prices supplied above for each method: the first 100 pairs of jeans were bought for $10 and the next 200 for $10.75—or $3,150.

Table 2 Differences in Gross Profit on Sales for Each Pricing Method
Table 2
Differences in Gross Profit on Sales
for Each Pricing Method

Specific Identification Avg. FIFO LIFO
Sales250/$15 $3,750 $3,750 $3,750 $3,750
Beginning Inventory 500 500 500 500 500 500
Purchases 3,150 3,150 3,150 3,150 3,150 3,150
Goods for Sale* 3,650 3,650 3,650 3,650 3,650
Ending Inv. 837.50 840 837.50 840 860 820
Cost of Goods 2,812.50 2,810 2,812.50 2,810 2,790 2,830
Gross Profit $ 937.50 $ 940 $ 960 $ 920
* Goods available for sale include the beginning inventory aswell as additional purchases within the accounting period.

The differences in value of the ending inventory stem from the different ways each method calculates the ending inventory—by determining whether newer or older jeans were left, determining the weighted average for the two purchases, assuming the remaining 80 pairs are newer pairs, or assuming the remaining pairs are older pairs, respectively. Consequently, the differences in gross profit shown in Table 2 reflect the assumptions made about cash flow using the various inventory pricing methods, not the actual goods flow.

Of these four inventory methods, the most popular methods used are FIFO and LIFO. Even though LIFO does not reflect the actual flow of goods in most cases, approximately 50 percent of major companies use this method. The FIFO Method may come the closest to matching the actual physical flow of inventory. Since FIFO assumes that the oldest inventory is always sold first, the valuation of inventory still on hand is at the most recent price. Assuming inflation, this will mean that cost of goods sold will be at its lowest possible amount. Therefore, a major advantage of FIFO is that it has the effect of maximizing net income within an inflationary environment. The downside of that effect is that income taxes will be the greatest.

The LIFO Method is preferred by many companies because it has the effect of reducing a company's taxes, thus increasing cash flow. Nevertheless, these attributes of LIFO are present only in an inflationary environment. Under LIFO, a company always sells its newest inventory items first. Given inflation, these items will also be its most expensive items. So cost of goods sold will always be at its greatest amount; therefore, net income before taxes will be at its lowest amount, and taxes will be minimized, which is the major benefit of LIFO.

Another advantage of LIFO is that it can have an income smoothing effect. Again, assuming inflation and a company that is doing well, one would expect inventory levels to expand. Therefore, a company is purchasing inventory, but under LIFO, the majority of the cost of these purchases will be on. the income statement as part of cost of goods sold. Thus, the most recent and most expensive purchases will increase cost of goods sold, thus lowering net income before taxes as well as lowering taxes and net income. Net income may still be high, but not as high as it would if FIFO had been used.

On the other hand, if a company is doing poorly, it will have a tendency to reduce inventories. To do so, the company will have to effectively sell more inventory than it acquires. Since a company using LIFO assumes it sells its most recent purchases first, the inventory that remains is older and less expensive (given inflation). So when a company shrinks its inventory, it sells older, less expensive inventory. Therefore, the cost of goods sold is lower, net income before taxes is higher, and net income is higher than it otherwise would have been.

A disadvantage of LIFO is the effect it has on the balance sheet. If a company always sells its most recent inventory first, then the balance sheet will contain inventory valued at the oldest inventory prices. For instance, if a company were to switch from FIFO to LIFO in 1955, then unless the inventory was zeroed out at some point in time, there may be units of inventory valued at 1955 prices, even though the physical inventory is comprised of the most recent units. As a result, the inventory account can be dramatically undervalued if a company has adopted LIFO, and if during that time, the cost of inventory has increased.

The LIFO Method is justified based upon the matching principle, as the most recent cost of inventory is matched against the current revenue generated from the sale of that inventory. FIFO does not, however, distort the valuation of inventory on the balance sheet like LIFO can potentially do.

Companies generally disclose their inventory accounting methods in their financial statements, usually as a footnote or a parenthetical note in the relevant sections. Therefore, when examining financial statements, it is imperative that the inventory notes be read carefully, to determine the method of inventory valuation chosen by a company. It is most likely that either FIFO or LIFO would have been chosen. Assuming inflation, FIFO will result in higher net income during growth periods and a higher and more realistic inventory balance. In periods of growth, LIFO will result in lower net income and lower income tax payments, thus enhancing a company's cash flow. During periods of contraction, LIFO will result in higher income levels. LIFO also has the potential to greatly undervalue inventory over time.

PERPETUAL INVENTORY PRICING

The previous discussion and examples applied to periodic inventory accounting where a company records the purchases it makes, makes no record of the cost of goods sold at the time of sale, and periodically updates its inventory account. Companies that make numerous sales of products with relatively small unit costs usually employ the periodic accounting method. Such companies include grocery stores, department stores, and drug stores. Companies that make fewer sales of products with higher unit costs, however, use a perpetual inventory system. The perpetual inventory system is updated continuously, not periodically. This systems requires that companies keep track of merchandise purchases at the time of acquisition and the cost of goods sold at the time of sale. Hence, companies using this system have an account for merchandise acquisitions and for the cost of goods sold.

The same four pricing methods apply to this system. With specific identification, the actual cost of the goods sold makes up the cost of goods sold and the value of the remaining inventory equals the specific cost of each unsold item. The average method is called the moving average in the perpetual system. The average is determined each time a new inventory item is purchased. The cost of goods sold for each sale is calculated by multiplying the moving average at the time by the number of items sold.

When using the FIFO method with this system, a company determines the cost of goods sold each time a sale is made by multiplying the cost of the oldest goods on hand by the number of items sold. Finally, when using the LIFO method, a company computes the cost of goods sold each time a sale is made by multiplying the cost of the most recent purchases by the number of goods sold.

The use of the perpetual inventory accounting system requires a company to maintain a detailed perpetual record of inventory transactions, either manually or by computer. This record must include information on the inflow and outflow of inventory items as well as the quantities and prices of items at any given time. While these records are updated continuously, companies generally check their accuracy at least once a year by physically counting available merchandise.

[ William H. Coyle ,

updated by Karl Heil ]

FURTHER READING:

Harper, Robert M., and Denise M. Patterson. "An Alternative Approach for Computing Dollar-Value LIFO." National Public Accountant, December 1998, 20.

Hoffman, Raymond A., and Henry Gunders. Inventories: Control, Costing, and Effect upon Income and Tares. New York: Ronald Press, 1970.

Meigs, Robert F., et al, eds. Accounting: The Basis for Business Decisions. 11 th ed. Homewood, IL: Richard Irwin, 1998.

Walgenbach, Paul H., et al. Principles of Accounting. 5th ed. San Diego: Harcourt Brace Jovanovich, 1990.


Ads by Google
Non-Profit Accounting - Accounting software specializing in all non-profit organizations - www.qwpage.com/
PlcCenter - Cash for Automation Equip, PLCs etc Big or small lots - We'll buy it. - PlcCenter.com


Read more: Inventory Accounting http://www.referenceforbusiness.com/encyclopedia/Int-Jun/Inventory-Accounting.html#ixzz11SKswtHP

Popular Posts