Showing posts with label Chuẩn mực kế toán. Show all posts
Showing posts with label Chuẩn mực kế toán. Show all posts

Thursday, 6 June 2013

HƯỚNG TỚI TIỆM CẬN CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ TOÁN

Ông Đặng Văn Thanh
Đó là ý kiến của ông Đặng Văn Thanh - Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam trong cuộc trao đổi với phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam bên lề Hội thảo "Tổng kết thực tiễn thi hành và đánh giá Luật Kế toán 2003" mới diễn ra tại Hà Nội.
Diệu Thiện

PV: Xin ông cho biết sự cần thiết và yêu cầu của việc rà soát, sửa đổi Luật Kế toán 2003?
Ông Đặng Văn Thanh: Năm 2003, Quốc hội Việt Nam đã thông qua và công bố Luật Kế toán, thay thế cho Pháp lệnh Kế toán thống kê ban hành năm 1988. Sau khi có hiệu lực, Luật đã đi vào cuộc sống và góp phần tích cực điều chỉnh cũng như chế tài các hành vi liên quan đến tổ chức thông tin tài chính nói chung, thông tin về hoạt động của doanh nghiệp (DN) nói riêng. Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện, Luật Kế toán xuất hiện nhiều bất cập, cần sớm sửa đổi, bổ sung.
Trước hết, các quy định về nội dung kế toán nhiều điểm không còn phù hợp trong nền kinh tế thị trường, hội nhập sâu, rộng với kinh tế thế giới. Thứ hai, quy định về tổ chức bộ máy kế toán, con người làm kế toán, cần có quy định mới thích hợp hơn, đặc biệt khi chúng ta thừa nhận kế toán không chỉ thuần túy là công cụ quản lý kinh tế mà còn là nghề nghiệp, là lĩnh vực dịch vụ mà Nhà nước đã chấp nhận và cho phép các tổ chức kinh tế, DN được thuê người làm kế toán, thậm chí là thuê kế toán trưởng, giám đốc. Thứ ba, vấn đề liên quan đến tổ chức nghề nghiệp kế toán, Luật cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của Hội Kế toán và Kiểm toán trong việc quản lý hành nghề, đạo đức nghề nghiệp, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng kế toán, kiểm toán viên. Cuối cùng, cần phải quy định chế tài cho nghề nghiệp kế toán phù hợp, thích ứng, hội nhập hơn với thông lệ quốc tế. Chúng ta phải thực hiện các cam kết quốc tế, trong đó có các quy định về nghề nghiệp kế toán, dịch vụ kế toán, kiểm toán, thừa nhận về chứng chỉ hành nghề giữa các thành viên trong khu vực…
PV: Những bất cập của Luật Kế toán 2003 gây khó khăn như thế nào đối với hoạt động của DN, thưa ông?
Ông Đặng Văn Thanh: Thứ nhất, hiện nay có rất nhiều vấn đề mới nảy sinh mà Luật Kế toán 2003 chưa có quy định điều chỉnh, hoặc quy định chưa đầy đủ. Có thể lấy ví dụ, như: Dịch vụ kế toán, tổ chức bộ máy kế toán; có rất nhiều DN tổ chức công tác kế toán trong điều kiện không có bộ máy kế toán… Thứ hai, sau 10 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam có rất nhiều biến đổi, ngày càng đi sâu vào kinh tế thị trường và đang trong lộ trình thực hiện những cam kết với thế giới. Vì vậy, những điều khoản quy định về bộ máy kế toán cần sửa đổi bổ sung như về chứng từ, sổ kế toán, tài khoản kế toán… Ngoài ra, trong chừng mực nào đó, sự can thiệp của Nhà nước, cũng như chế tài của Nhà nước sẽ ở mức độ nào, đối với những đối tượng nào cũng cần phải làm rõ. Cuối cùng, những điều khoản liên quan đến bộ máy kế toán, con người kế toán phải tính toán sao cho hợp lý hơn. Luật cũng cần quy định chặt chẽ hơn, có tính ràng buộc hơn về trách nhiệm pháp lý của người tổ chức và cung cấp thông tin để đảm bảo rằng thông tin từ kế toán đủ tin cậy để người sử dụng thông tin có cơ sở đưa ra quyết định hợp lý, đúng đắn.
PV: Để Luật Kế toán tiệm cận hơn với những chuẩn mực quốc tế, theo ông dự thảo luật mới cần phải có những đột phá nào?
Ông Đặng Văn  Thanh: Việt Nam đã gia nhập WTO, có nghĩa chúng ta đã chấp nhận các điều khoản, cam kết và quyết tâm thực hiện. Luật Kế toán 2003 đã bước đầu đưa vào các chế tài, điều khoản phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, Luật chưa bao quát, chưa sâu, chưa toàn diện, chưa hình dung hết các việc phải thực hiện theo cam kết quốc tế. Vì vậy, dự thảo luật mới cần được xem xét và điều chỉnh các nội dung: Minh bạch thông tin, chấp nhận và thừa nhận các chuẩn mực kế toán quốc tế, thừa nhận các chứng chỉ hành nghề kế toán của các nước trong khu vực… Đặc biệt, phải dần dần từng bước thống nhất chương trình đào tạo kế toán, kiểm toán viên theo chuẩn quốc tế để có thể hành nghề tốt không chỉ trong nước mà còn tiến tới trong khu vực và thế giới. Ngoài ra, Hội Kế toán có trách nhiệm quản lý, kiểm soát đạo đức hành nghề, thường xuyên thông tin cho Hiệp hội Kế toán các nước trong khu vực và trên thế giới. Mục tiêu cuối cùng, phải xây dựng một hệ thống đầy đủ, trung thực, công khai và minh bạch, tiệm cận gần nhất với thông lệ và chuẩn mực quốc tế, được quốc tế thừa nhận.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
(Theo Thời báo Tài chính)

Saturday, 23 June 2012

Thực trạng và định hướng sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán Việt Nam

Tháng 9/2010, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố dự thảo và đến đầu tháng 5/2011, phát hành IFRS 13 (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13) - Đo lường giá trị hợp lý (GTHL - Fair Value Measurement) - có hiệu lực từ 01/01/2013. Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB) cũng đã cập nhật chủ đề số 820 (báo cáo số 157 đo lường GTHL - ban hành năm 2006 trước đây của FASB) về GTHL, hoàn thành một dự án lớn cải thiện IFRS (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) và US GAAP (các nguyên tắc kế toán được thừa nhận của Mỹ) để mang lại sự hội tụ giữa chúng. Trong khi đó, ở Việt Nam, giá gốc được quy định là một nguyên tắc kế toán cơ bản, vai trò và việc sử dụng GTHL trong định giá còn khá mờ nhạt. Bài viết này trình bày khái quát về GTHL và xu hướng sử dụng GTHL trong định giá trong kế toán trên thế giới hiện nay, sơ lược về thực trạng sử dụng GTHL ở Việt Nam, từ đó đề xuất nguyên tắc và định hướng việc sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam.
Ths. Lê Hoàng Phúc
Trường CĐ Kinh tế - Tài Chính Vĩnh Long
Khái quát về GTHL và xu hướng sử dụng GTHL để định giá trong kế toán trên thế giới
GTHL (Fair Value) lần đầu tiên được IASB đề cập trong IAS 16 (MTKT quốc tế 16) - Tài sản, nhà cửa và thiết bị - như sau: GTHL là giá trị tài sản có thể đem trao đổi giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá.
Tháng 5/2009, IASB công bố Dự thảo CM về đo lường GTHL, theo đó, GTHL được hiểu là giá trị sẽ nhận được khi bán một tài sản hay giá trị thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường. GTHL trong dự thảo này tương tự như định nghĩa GTHL được đưa ra trong báo cáo số 157 Đo lường GTHL của Hội đồng kế toán tài chính Mỹ (FASB) ban hành năm 2006. Tháng 9/2010, IASB công bố dự thảo IFRS 13 về GTHL và tháng 5/2011, IASB phát hành IFRS 13 - Đo lường GTHL (Fair Value Measurement) - có hiệu lực từ 01/01/2013 [5].
Theo IFRS 13, GTHL được IASB xác định là giá trị sẽ nhận được khii bán một tài sản hay giá trị thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường [5]. IFRS 13 cũng đưa ra 3 cấp độ xác định GTHL, bao gồm:
- Cấp độ 1: Các dữ liệu tham chiếu là giá niêm yết của các tài sản hay nợ phải trả đồng nhất trong các thị trường hoạt động (active market) mà tổ chức có thể thu thập tại ngày đo lường:
- Cấp độ 2: Các dữ liệu tham chiếu có thể thu thập cho tài sản hay nợ phải trả, trực tiếp (giá thị trường), khác giá niêm yết cấp độ 1;
- Cấp độ 3: dữ liệu tham chiếu không sẵn có tại ngày đo lường, Dn phát triển các dữ liệu tham chiếu bằng cách sử dụng các thông tin tốt nhất đã có, mà có thể bao gồm dữ liệu riêng của DN.
Như vậy, IFRS 13 đã phát triển tính nhất quán và giảm thiểu độ phức tạp bằng cách cung cấp, lần đầu tiên, một định nghĩa chính thức về GTHL, thống nhất phương pháp đo lường GTHL và yêu cầu công bố thông tin để sử dụng trong hệ thống CM Báo cáo tài chính quốc tế [7].
Thực ra, cho đến nay, vẫn còn không ít những tranh luận xunh quanh việc sử dụng GTHL (vấn đề được tranh luận nhiều nhất là tính đáng tin cậy và phương pháp xác định GTHL). Song, những ưu điểm của GTHL và lợi ích của sự dụng GTHL là không thể phủ nhận. Điều này thể hiện qua một số khía cạnh sau: (i) GTHL phản ánh được những thay đổi của thị trường; (ii) những giả định dùng để ước tính GTHL có thể được xác định và kiểm chứng, ngày càng mang tính khách quan hơn với sự phát triển của hệ thống thông tin và sự phát triển của các thị trường chuyên ngành, nó cũng được yêu cầu công bố, vì vậy khả năng lạm dụng GTHL được hạn chế đáng kể; (iii) các mô hình định giá cho những trường hợp không có giá thị trường hiện đang phát triển và từng bước hoàn thiện.
Về xu hướng sử dụng GTHL, các hướng dẫn được quy định trong IFRS 13 và những cập nhật tại chủ đề số 820 (báo cáo số 157 trước đây của FASB) vào tháng 5/2011 đã hoàn thành một dự án lớn cải thiện IFRS và US GAAP để mang lại sự hội tụ giữa chúng. Lislie F Seidman, Chủ tịch của FASB, cho biết: Cập nhật này đại diện cho một bước tiến tích cực hướng tới mục tiêu chia sẻ trên toàn thế giới hội tụ các CMKT. Việc thống nhất ý nghĩa của GTHL sẽ cải thiện tính nhất quán của thông tin tài chính trên toàn thế giới. Chúng tôi cũng đáp ứng yêu cầu tăng cường công bố về các giả định được sử dụng trong các phương pháp đo lường GTHL [7].
Như vậy, những ưu điểm nổi bật của GTHL đã được bộc lộ về lý thuyết lẫn thực tiễn. Cùng với những nỗ lực của IASB và FASB và một số quốc gia trong việc thúc đẩy việc tạo lập cơ sở và ứng dụng GTHL, có thể khẳng định, việc sử dụng GTHL để định giá trong kế toán đang trở thành một xu hướng tất yếu hiện nay.
Sơ lược thực trạng sử dụng GTHL trong HTKT Việt Nam.
Ở Việt Nam, giá gốc được quy định là một nguyên tắc cơ bản của kế toán Việt Nam. Vai trò của GTHL còn khá mờ nhạt.
Thực ra, ở Việt Nam, GTHL đã được đề cập đến từ hơn 10 năm nay, và đầu tiên được định nghĩa trong CMKT số 14 - Doanh thu và thu nhập khác: GTHL là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao đổi ngang giá. Trong kế toán Việt Nam, GTHL được sử dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận ban đầu và báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh.
Về phương pháp xác định GTHL, ngoại trừ đoạn 24 của CMKT số 4 - Tài sản cố định vô hình - có đề cập đến phương pháp xác định GTHL của tài sản cố định vô hình, và thông tư 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác định GTHL trong xác định giá phí hợp nhất kinh doanh, đến nay chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định GTHL trong kế toán. Thực ra, ngày 13/03/2006, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư 17/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 101/2005/NĐ-CP về thẩm định giá, trong đó có quy định khá cụ thể các phương pháp định giá cụ thể các phương pháp định giá. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp này như thế nào trong kế toán vẫn còn bỏ ngỏ.
Sức ép của yêu cầu hội nhập và cả sức ép của yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam chỉ ra rằng, trong một tương lai không xa, GTHL và việc sử dụng GTHL ở Việt Nam tuy đã có những bước khởi đầu nhất định song vẫn mang tính chấp vá, chưa có một định hướng rõ ràng về việc sử dụng GTHL. Điều này thể hiện qua các điểm chủ yếu sau:
- Chưa xác định một cách rõ ràng và nhất quán về tính tất yếu của việc sử dụng GTHL là cơ sở định giá chủ yếu trong kế toán;
- Định nghĩa GTHL chưa rõ ràng, chưa đầy đủ;
- Các quy định về GTHL và sử dụng GTHL trong kế toán nằm rải rác trong các CM, mang tính chấp vá, thiếu tính hệ thống;
- Chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định GTHL trong kế toán;
- GTHL sử dụng chủ yếu cho ghi nhận ban đầu, chưa sử dụng để trình bày các khoản mục sau ghi nhận ban đầu, do đó chưa đạt được mục đích ghi nhận và trình bày các khoản mục theo những thay đổi của thị trường.
Cũng cần lưu ý thêm rằng, bên cạnh sự chưa hoàn chỉnh một hệ thống thị trường hoạt động (active market) ở Việt Nam, cũng như sự thiếu vắng các quy định và hướng dẫn về GTHL và sử dụng GTHL, thì vấn đề đang là một rào cản đáng để ngăn cản sự phát triển và sử dụng GTHL chính là vấn đề về nhận thức, đó là niềm tin vào tính đáng tin cậy của GTHL.
Định hướng sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam
Về nguyên tắc: Sử dụng GTHL phải phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt Nam; việc tiến tới sử dụng GTHL như là một cơ sở định giá chủ yếu trong kế toán cần phải có lộ trình hợp lý.
Việc sử dụng GTHL phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế nhằm: đáp ứng yêu cầu hội nhập, các tiêu chuẩn đánh giá của quốc tế; đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống kế toán, theo đó, hệ thống CMKT Việt Nam hiện nay xây dựng dựa trên CMKT quốc tế, và việc định giá cũng không thể khác được.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ, nhiều dữ liệu tham chiếu chưa có, nếu áp dụng ngay tòn bộ theo chuẩn mực quốc tế sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy của thông tin được định giá theo GTHL. Do vậy, việc định giá theo GTHL cần tính toán phù hợp với đặc điểm kinh tế của từng giai đoạn. Theo đó, việc xác định một lộ trình hợp lý là cần thiết. Lộ trình này có thể bao gồm 2 giai đoạn chính, liên quan đến các giải pháp ngắn hạn và dài hạn.
Về giải pháp
- Trong ngắn hạn:
Thứ nhất, thực hiện các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, đào tạo, tăng cường các hội thảo nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận về việc phát triển và sử dụng GTHL trong định giá, từ cơ quan chức năng, người làm công tác kế toán, cho đến các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC.
Thứ hai, điều chỉnh Luật kế toán, chuẩn mực chung (VAS 1); ban hành hướng dẫn áp dụng GTHL, chuẩn hóa định nghĩa GTHL, giải thích các cấp độ, phương pháp xác định GTHL, quy định sự cân đối giữa các đặc tính chất lượng và các tiêu chuẩn đánh giá.
Trên cơ sở Luật kế toán và VAS 1, Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn áp dụng GTHL, chuẩn hóa định nghĩa GTHL, giải thích các cấp độ, phương pháp xác định GTHL, quy định sự cân đối giữa các đặc tính chất lượng và các tiêu chuẩn đánh giá khi có hạn chế thông tin giữa tính thích hợp và đáng tin cậy, cũng như nội dung và phạm vi các thông tin cần công bố trong thuyết minh BCTC. Những hướng dẫn và giải thích này sẽ là cơ sở quan trọng để từng bước tạo lập hành lang pháp lý cho việc áp dụng GTHL trong kế toán, trước khi có một chuẩn mực chính thức về đo lường GTHL trong kế toán Việt Nam.
Thứ ba, bổ sung, cập nhật, nội dung các CMKT hiện hành có liên quan đến GTHL.
Trong quá trình rà soát và điều chrinh các CMKT đã ban hành, cần bổ sung các quy định về định giá theo hướng tiếp cận các CMKT quốc tế. Các quy định bổ sung cần hướng đến việc tạo lập sự thống nhất, theo đó, cần quy định trong chuẩn mực các yêu cầu trình bày thông tin về GTHL.
Trước mắt, GTHL nhất thiết phải được sử dụng trong ghi nhận ban đầu đối với: bất động sản đầu tư, công cụ tài chính, hợp nhất kinh doanh, liên kết, đầu ư vào công ty con, bởi lẽ, nếu phản ánh theo giá gốc sẽ không phản ánh được những thay đổi của thị trường, không phản ánh được lãi - lỗ chưa thực hiện vào đúng kỳ mà nó phát sinh
- Trong dài hạn
Thứ nhất, Ban hành chuẩn mực - Đo lường GTHL
Trong vòng 5 năm tới, Việt Nam cần nghiên cứu ban hành chuẩn mực đo lường GTHL. Chuẩn mực này được xây dựng theo hướng tiếp cận và phù hợp với IFRS 13.
Thứ hai, hoàn chỉnh hệ thống chuẩn mực kế toán áo dụng GTHL làm cơ sở đo lường chủ yếu.
Bên cạnh việc bổ sung, cập nhật các CMKT đã ban hành phù hợp với CMKT quốc tế, trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần tiếp tục ban hành các CM còn thiếu. Nội dung của các CM được xây dựng theo hướng cập nhật CMKT quốc tế, đặc biệt là phù hợp với điều kiện áp dụng GTHL trong định giá và IFRS 13. Kết quả là, hệ thống CMKT Việt Nam không chỉ hòa hợp với CMKT quốc tế mà còn là hệ thống CMKT áp dụng GTHL làm cơ sở định giá chủ yếu, phù hợp với thông lệ và xu hướng quốc tế.
Thứ ba, từng bước hoàn chỉnh một hệ thống thị trường hoạt động; đồng bộ và minh bạch hóa hành lang pháp lý về kinh doanh. Thị trường hàng hóa và thị trường tài chính Việt Nam phải được xây dựng ngày càng hoạt động để đáp ứng nhu cầu tìm kiếm các dữ liệu tham chiếu trong đo lường GTHL.
GTHL đang dần khẳng định những ưu thế của mình trong định giá, việc sử dụng GTHL được IASB, FASB ủng hộ và đang chuẩn bị những cơ sở quan trong cho việc áp dụng rộng rãi tại các quốc gia. Quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế và kế toán tạo ra sức ép đáng kể về việc nghiên cứu và sử dụng GTHL trong HTKT Việt Nam. Tuy nhiên, việc tiến tới sử dụng GTHL như là một cơ sở định giá chủ yếu trong kế toán cần phải có lộ trình hợp lý. Với những giải pháp thích hợp được thực hiện đồng bộ, hiệu quả trong từng giai đoạn cụ thể, hy vọng trong một tương lai không xa, GTHL sẽ trở thành cơ sở định giá chủ yếu trong HTKT Việt Nam, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập quốc tế về kinh tế và kế toán.
(Theo TCKT)

Friday, 1 June 2012

Thực trạng và định hướng sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống kế toán Việt Nam

Tháng 9/2010, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) công bố dự thảo và đến đầu tháng 5/2011, phát hành IFRS 13 (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 13) - Đo lường giá trị hợp lý (GTHL - Fair Value Measurement) - có hiệu lực từ 01/01/2013. Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB) cũng đã cập nhật chủ đề số 820 (báo cáo số 157 đo lường GTHL - ban hành năm 2006 trước đây của FASB) về GTHL, hoàn thành một dự án lớn cải thiện IFRS (Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế) và US GAAP (các nguyên tắc kế toán được thừa nhận của Mỹ) để mang lại sự hội tụ giữa chúng. Trong khi đó, ở Việt Nam, giá gốc được quy định là một nguyên tắc kế toán cơ bản, vai trò và việc sử dụng GTHL trong định giá còn khá mờ nhạt. Bài viết này trình bày khái quát về GTHL và xu hướng sử dụng GTHL trong định giá trong kế toán trên thế giới hiện nay, sơ lược về thực trạng sử dụng GTHL ở Việt Nam, từ đó đề xuất nguyên tắc và định hướng việc sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam.

Ths. Lê Hoàng Phúc

Trường CĐ Kinh tế - Tài Chính Vĩnh Long

Khái quát về GTHL và xu hướng sử dụng GTHL để định giá trong kế toán trên thế giới

GTHL (Fair Value) lần đầu tiên được IASB đề cập trong IAS 16 (MTKT quốc tế 16) - Tài sản, nhà cửa và thiết bị - như sau: GTHL là giá trị tài sản có thể đem trao đổi giữa các bên có hiểu biết, có thiện chí trong một giao dịch trao đổi ngang giá.

Tháng 5/2009, IASB công bố Dự thảo CM về đo lường GTHL, theo đó, GTHL được hiểu là giá trị sẽ nhận được khi bán một tài sản hay giá trị thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường. GTHL trong dự thảo này tương tự như định nghĩa GTHL được đưa ra trong báo cáo số 157 Đo lường GTHL của Hội đồng kế toán tài chính Mỹ (FASB) ban hành năm 2006. Tháng 9/2010, IASB công bố dự thảo IFRS 13 về GTHL và tháng 5/2011, IASB phát hành IFRS 13 - Đo lường GTHL (Fair Value Measurement) - có hiệu lực từ 01/01/2013 [5].

Theo IFRS 13, GTHL được IASB xác định là giá trị sẽ nhận được khii bán một tài sản hay giá trị thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường [5]. IFRS 13 cũng đưa ra 3 cấp độ xác định GTHL, bao gồm:

- Cấp độ 1: Các dữ liệu tham chiếu là giá niêm yết của các tài sản hay nợ phải trả đồng nhất trong các thị trường hoạt động (active market) mà tổ chức có thể thu thập tại ngày đo lường:

- Cấp độ 2: Các dữ liệu tham chiếu có thể thu thập cho tài sản hay nợ phải trả, trực tiếp (giá thị trường), khác giá niêm yết cấp độ 1;

- Cấp độ 3: dữ liệu tham chiếu không sẵn có tại ngày đo lường, Dn phát triển các dữ liệu tham chiếu bằng cách sử dụng các thông tin tốt nhất đã có, mà có thể bao gồm dữ liệu riêng của DN.

Như vậy, IFRS 13 đã phát triển tính nhất quán và giảm thiểu độ phức tạp bằng cách cung cấp, lần đầu tiên, một định nghĩa chính thức về GTHL, thống nhất phương pháp đo lường GTHL và yêu cầu công bố thông tin để sử dụng trong hệ thống CM Báo cáo tài chính quốc tế [7].

Thực ra, cho đến nay, vẫn còn không ít những tranh luận xunh quanh việc sử dụng GTHL (vấn đề được tranh luận nhiều nhất là tính đáng tin cậy và phương pháp xác định GTHL). Song, những ưu điểm của GTHL và lợi ích của sự dụng GTHL là không thể phủ nhận. Điều này thể hiện qua một số khía cạnh sau: (i) GTHL phản ánh được những thay đổi của thị trường; (ii) những giả định dùng để ước tính GTHL có thể được xác định và kiểm chứng, ngày càng mang tính khách quan hơn với sự phát triển của hệ thống thông tin và sự phát triển của các thị trường chuyên ngành, nó cũng được yêu cầu công bố, vì vậy khả năng lạm dụng GTHL được hạn chế đáng kể; (iii) các mô hình định giá cho những trường hợp không có giá thị trường hiện đang phát triển và từng bước hoàn thiện.

Về xu hướng sử dụng GTHL, các hướng dẫn được quy định trong IFRS 13 và những cập nhật tại chủ đề số 820 (báo cáo số 157 trước đây của FASB) vào tháng 5/2011 đã hoàn thành một dự án lớn cải thiện IFRS và US GAAP để mang lại sự hội tụ giữa chúng. Lislie F Seidman, Chủ tịch của FASB, cho biết: Cập nhật này đại diện cho một bước tiến tích cực hướng tới mục tiêu chia sẻ trên toàn thế giới hội tụ các CMKT. Việc thống nhất ý nghĩa của GTHL sẽ cải thiện tính nhất quán của thông tin tài chính trên toàn thế giới. Chúng tôi cũng đáp ứng yêu cầu tăng cường công bố về các giả định được sử dụng trong các phương pháp đo lường GTHL [7].

Như vậy, những ưu điểm nổi bật của GTHL đã được bộc lộ về lý thuyết lẫn thực tiễn. Cùng với những nỗ lực của IASB và FASB và một số quốc gia trong việc thúc đẩy việc tạo lập cơ sở và ứng dụng GTHL, có thể khẳng định, việc sử dụng GTHL để định giá trong kế toán đang trở thành một xu hướng tất yếu hiện nay.

Sơ lược thực trạng sử dụng GTHL trong HTKT Việt Nam.

Ở Việt Nam, giá gốc được quy định là một nguyên tắc cơ bản của kế toán Việt Nam. Vai trò của GTHL còn khá mờ nhạt.

Thực ra, ở Việt Nam, GTHL đã được đề cập đến từ hơn 10 năm nay, và đầu tiên được định nghĩa trong CMKT số 14 - Doanh thu và thu nhập khác: GTHL là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao đổi ngang giá. Trong kế toán Việt Nam, GTHL được sử dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận ban đầu và báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh.

Về phương pháp xác định GTHL, ngoại trừ đoạn 24 của CMKT số 4 - Tài sản cố định vô hình - có đề cập đến phương pháp xác định GTHL của tài sản cố định vô hình, và thông tư 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác định GTHL trong xác định giá phí hợp nhất kinh doanh, đến nay chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định GTHL trong kế toán. Thực ra, ngày 13/03/2006, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư 17/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 101/2005/NĐ-CP về thẩm định giá, trong đó có quy định khá cụ thể các phương pháp định giá cụ thể các phương pháp định giá. Tuy nhiên, việc áp dụng các phương pháp này như thế nào trong kế toán vẫn còn bỏ ngỏ.

Sức ép của yêu cầu hội nhập và cả sức ép của yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam chỉ ra rằng, trong một tương lai không xa, GTHL và việc sử dụng GTHL ở Việt Nam tuy đã có những bước khởi đầu nhất định song vẫn mang tính chấp vá, chưa có một định hướng rõ ràng về việc sử dụng GTHL. Điều này thể hiện qua các điểm chủ yếu sau:

- Chưa xác định một cách rõ ràng và nhất quán về tính tất yếu của việc sử dụng GTHL là cơ sở định giá chủ yếu trong kế toán;

- Định nghĩa GTHL chưa rõ ràng, chưa đầy đủ;

- Các quy định về GTHL và sử dụng GTHL trong kế toán nằm rải rác trong các CM, mang tính chấp vá, thiếu tính hệ thống;

- Chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định GTHL trong kế toán;

- GTHL sử dụng chủ yếu cho ghi nhận ban đầu, chưa sử dụng để trình bày các khoản mục sau ghi nhận ban đầu, do đó chưa đạt được mục đích ghi nhận và trình bày các khoản mục theo những thay đổi của thị trường.

Cũng cần lưu ý thêm rằng, bên cạnh sự chưa hoàn chỉnh một hệ thống thị trường hoạt động (active market) ở Việt Nam, cũng như sự thiếu vắng các quy định và hướng dẫn về GTHL và sử dụng GTHL, thì vấn đề đang là một rào cản đáng để ngăn cản sự phát triển và sử dụng GTHL chính là vấn đề về nhận thức, đó là niềm tin vào tính đáng tin cậy của GTHL.

Định hướng sử dụng GTHL trong hệ thống kế toán Việt Nam

Về nguyên tắc: Sử dụng GTHL phải phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện của Việt Nam; việc tiến tới sử dụng GTHL như là một cơ sở định giá chủ yếu trong kế toán cần phải có lộ trình hợp lý.

Việc sử dụng GTHL phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế nhằm: đáp ứng yêu cầu hội nhập, các tiêu chuẩn đánh giá của quốc tế; đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống kế toán, theo đó, hệ thống CMKT Việt Nam hiện nay xây dựng dựa trên CMKT quốc tế, và việc định giá cũng không thể khác được.

Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ, nhiều dữ liệu tham chiếu chưa có, nếu áp dụng ngay tòn bộ theo chuẩn mực quốc tế sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy của thông tin được định giá theo GTHL. Do vậy, việc định giá theo GTHL cần tính toán phù hợp với đặc điểm kinh tế của từng giai đoạn. Theo đó, việc xác định một lộ trình hợp lý là cần thiết. Lộ trình này có thể bao gồm 2 giai đoạn chính, liên quan đến các giải pháp ngắn hạn và dài hạn.

Về giải pháp

- Trong ngắn hạn:

Thứ nhất, thực hiện các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, đào tạo, tăng cường các hội thảo nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận về việc phát triển và sử dụng GTHL trong định giá, từ cơ quan chức năng, người làm công tác kế toán, cho đến các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC.

Thứ hai, điều chỉnh Luật kế toán, chuẩn mực chung (VAS 1); ban hành hướng dẫn áp dụng GTHL, chuẩn hóa định nghĩa GTHL, giải thích các cấp độ, phương pháp xác định GTHL, quy định sự cân đối giữa các đặc tính chất lượng và các tiêu chuẩn đánh giá.

Trên cơ sở Luật kế toán và VAS 1, Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn áp dụng GTHL, chuẩn hóa định nghĩa GTHL, giải thích các cấp độ, phương pháp xác định GTHL, quy định sự cân đối giữa các đặc tính chất lượng và các tiêu chuẩn đánh giá khi có hạn chế thông tin giữa tính thích hợp và đáng tin cậy, cũng như nội dung và phạm vi các thông tin cần công bố trong thuyết minh BCTC. Những hướng dẫn và giải thích này sẽ là cơ sở quan trọng để từng bước tạo lập hành lang pháp lý cho việc áp dụng GTHL trong kế toán, trước khi có một chuẩn mực chính thức về đo lường GTHL trong kế toán Việt Nam.

Thứ ba, bổ sung, cập nhật, nội dung các CMKT hiện hành có liên quan đến GTHL.

Trong quá trình rà soát và điều chrinh các CMKT đã ban hành, cần bổ sung các quy định về định giá theo hướng tiếp cận các CMKT quốc tế. Các quy định bổ sung cần hướng đến việc tạo lập sự thống nhất, theo đó, cần quy định trong chuẩn mực các yêu cầu trình bày thông tin về GTHL.

Trước mắt, GTHL nhất thiết phải được sử dụng trong ghi nhận ban đầu đối với: bất động sản đầu tư, công cụ tài chính, hợp nhất kinh doanh, liên kết, đầu ư vào công ty con, bởi lẽ, nếu phản ánh theo giá gốc sẽ không phản ánh được những thay đổi của thị trường, không phản ánh được lãi - lỗ chưa thực hiện vào đúng kỳ mà nó phát sinh

- Trong dài hạn

Thứ nhất, Ban hành chuẩn mực - Đo lường GTHL

Trong vòng 5 năm tới, Việt Nam cần nghiên cứu ban hành chuẩn mực đo lường GTHL. Chuẩn mực này được xây dựng theo hướng tiếp cận và phù hợp với IFRS 13.

Thứ hai, hoàn chỉnh hệ thống chuẩn mực kế toán áo dụng GTHL làm cơ sở đo lường chủ yếu.

Bên cạnh việc bổ sung, cập nhật các CMKT đã ban hành phù hợp với CMKT quốc tế, trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần tiếp tục ban hành các CM còn thiếu. Nội dung của các CM được xây dựng theo hướng cập nhật CMKT quốc tế, đặc biệt là phù hợp với điều kiện áp dụng GTHL trong định giá và IFRS 13. Kết quả là, hệ thống CMKT Việt Nam không chỉ hòa hợp với CMKT quốc tế mà còn là hệ thống CMKT áp dụng GTHL làm cơ sở định giá chủ yếu, phù hợp với thông lệ và xu hướng quốc tế.

Thứ ba, từng bước hoàn chỉnh một hệ thống thị trường hoạt động; đồng bộ và minh bạch hóa hành lang pháp lý về kinh doanh. Thị trường hàng hóa và thị trường tài chính Việt Nam phải được xây dựng ngày càng hoạt động để đáp ứng nhu cầu tìm kiếm các dữ liệu tham chiếu trong đo lường GTHL.

GTHL đang dần khẳng định những ưu thế của mình trong định giá, việc sử dụng GTHL được IASB, FASB ủng hộ và đang chuẩn bị những cơ sở quan trong cho việc áp dụng rộng rãi tại các quốc gia. Quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế và kế toán tạo ra sức ép đáng kể về việc nghiên cứu và sử dụng GTHL trong HTKT Việt Nam. Tuy nhiên, việc tiến tới sử dụng GTHL như là một cơ sở định giá chủ yếu trong kế toán cần phải có lộ trình hợp lý. Với những giải pháp thích hợp được thực hiện đồng bộ, hiệu quả trong từng giai đoạn cụ thể, hy vọng trong một tương lai không xa, GTHL sẽ trở thành cơ sở định giá chủ yếu trong HTKT Việt Nam, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập quốc tế về kinh tế và kế toán.

(Theo TCKT)


Friday, 17 December 2010

Chuẩn mực kế toán quốc tế

Trang đầu » Chuẩn mực kế toán quốc tế

IAS 1- Presentation of Financial Statement

28.07.2008 20:50
2008...
Đã tải: 818 Bình luận: 1Xếp hạng:: 5.0/1

Cẩm nang IFRS

13.06.2008 16:20
Cẩm nang này do Delloit phát hành năm 2008....
Đã tải: 1318 Bình luận: 6Xếp hạng:: 4.3/3

IFRSs in pocket

01.03.2008 01:53
IFRSs in pocket 2007 prepared by Deloitte. Sổ tay Chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế 2007 do Deloitte...
Đã tải: 1347 Bình luận: 5Xếp hạng:: 4.9/9



IAS 32 - Financial Instrument, Presentation

25.08.2008 07:13
...
Đã tải: 1596 Bình luận: 4Xếp hạng:: 4.3/6

IAS 31 - Interest in Joint Venture

25.08.2008 07:11
...
Đã tải: 920 Bình luận: 0Xếp hạng:: 5.0/1

IAS 28 - Investment in Associates

03.08.2008 08:51
2008...
Đã tải: 962 Bình luận: 2Xếp hạng:: 4.7/3

IAS 27 - Consolidated and Separate F/S

03.08.2008 08:49
2008...
Đã tải: 892 Bình luận: 0Xếp hạng:: 5.0/3

IAS 24 - Related Parties Disclosure

03.08.2008 08:48
2008...
Đã tải: 786 Bình luận: 1Xếp hạng:: 0.0/0

IAS 23 - Borrowing Cost

03.08.2008 08:47
2008...
Đã tải: 844 Bình luận: 2Xếp hạng:: 0.0/0

IAS 21- Effects of Changes in Foreign Exchange Rates

03.08.2008 08:45
2008...
Đã tải: 869 Bình luận: 1Xếp hạng:: 2.0/1

IAS 19 - Employee benefit

29.07.2008 21:40
2008...
Đã tải: 861 Bình luận: -4Xếp hạng:: 5.0/1

IAS 18 - Revenue

29.07.2008 21:37
2008...
Đã tải: 1019 Bình luận: 2Xếp hạng:: 4.5/2

IAS 12- Income Taxes

28.07.2008 23:15
2008...
Đã tải: 1002 Bình luận: 0Xếp hạng:: 0.0/0

IAS 11 - Construction Contracts

28.07.2008 23:14
2008...
Đã tải: 698 Bình luận: 0Xếp hạng:: 5.0/1

IAS 10 - Event after Reporting Period

28.07.2008 23:13
2008...
Đã tải: 745 Bình luận: 0Xếp hạng:: 5.0/1

IAS 8 - Accounting policies, Changes in Accounting Estimate and Error

28.07.2008 23:12
2008...
Đã tải: 743 Bình luận: 2Xếp hạng:: 5.0/1

IAS 7 - Statement of Cashflow

28.07.2008 23:10
2008...
Đã tải: 1075 Bình luận: 0Xếp hạng:: 5.0/2

IAS 2 - Inventories

28.07.2008 20:54
2008...
Đã tải: 940 Bình luận: 2Xếp hạng:: 5.0/2


[ Quay lại | Trang chính ]




So sánh IFRS (IAS) và VAS (tiếp 8)

So Sánh IFRS (IAS) và VAS (tiếp 8)


Nội dung

IFRSs

VASs

IAS 20 - Kế toán các khoản trợ cấp của Chính phủ và trình bày các khoản hỗ trợ của Chính phủ

Mục đích

Mục đích của chuẩn mực này là đưa ra các hướng dẫn để hạch toán và trình bày các khoản trợ cấp và các hình thức tài trợ khác của Chính phủ.

Không có CMKTVN tương đương quy định vấn đề này.

Tài trợ của Chính phủ

Trợ cấp của Chính phủ, bao gồm các khoản trợ cấp phi tiền tệ theo giá trị hợp lý, chỉ được ghi nhận khi đảm bảo chắc chắn rằng:

a) Doanh nghiệp sẽ tuân thủ các điều kiện đi kè; và

b) Chắc chắn sẽ nhận được khoản trợ cấp này.

Các khoản trợ cấp này không được hạch toán trực tiếp vào vốn chủ sở hữu, mà được ghi nhận vào lãi, lỗ của từng kỳ phù hợp với các chi phí liên quan.

IAS 20 quy định các khoản vay Chính phủ có lãi suất thấp hơn mức lãi suất thị trường phải được ghi nhận là các khoản trợ cấp của Chính phủ.

Không có CMKTVN tương đương quy định vấn đề này.

Trình bày khoản trợ cấp

+ Doanh nghiệp có thể trình bày khoản trợ cấp của chính phủ hình thành tài sản, bao gồm cả các khoản trợ cấp phi tiền tệ theo giá trị hợp lý, trên bảng cân đối kế toán là thu nhập hoãn lại hoặc giảm trừ giá trị tài trợ vào giá trị còn lại của tài sản;

+ Doanh nghiệp có thể trình bày khoản tài trợ thu nhập là một khoản mục ghi có riêng biệt trên báo cáo kết quả kinh doanh hoặc ở mục "Thu nhập khác", hay giảm trừ khoản tài trợ vào chi phí liên quan;

+ Việc trả lại một khoản tài trợ của chính phủ được hạch toán như một sự thay đổi ước tính kế toán và áp dụng các phương pháp kế toán khác nhau đối vwois khoản trợ cấp liên quan tới tài sản hoặc thu nhập; và

+ Các khoản vay từ Chính phủ có lãi suất dưới mức lãi suất thị trường được kế toán là khoản tài trợ của Chính phủ và được tính dựa trên chênh lệch giữa giá trị ghi sổ ban đầu và khoản tiền thu được.

Không có CMKTVN tương đương quy định vấn đề này.

IAS 21 và VAS 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái

Đơn vị tiền tệ kế toán

Khi một doanh nghiệp báo cáo lập báo cáo tài chính, chuẩn mực yêu cầu các doanh nghiệp độc lập trong nội bộ doanh nghiệp báo cáo (là doanh nghiệp hoạt động độc lập hay một doanh nghiệp có hoạt động tại nước ngoài, ví dụ như công ty mẹ, hoặc một doanh nghiệp có hoạt động ở nước ngoài, ví dụ như công ty con hoặc chi nhánh) phải xác định đồng tiền hạch toán, đồng thời, xác định kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính theo đồng tiền hạch toán đó.

Chuẩn mực đưa ra các yếu tố mà một doanh nghiệp cần phải xem xét khi xác định đồng tiền hạch toán trong việc lập báo cáo tài chính.

Các doanh nghiệp phải sử dụng Đồng Việt Nam làm đơn vị tiền tệ kế toán. Tuy nhiên, doanh nghiệp được phép sử dụng đồng tiền khác làm đồng tiền báo cáo nếu phần lớn các khoản thu và chi bằng đồng tiền đó.

Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái

Chuẩn mực đưa ra phương pháp kế toán chuẩn đối với các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoại phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng (các khoản chênh lệch này có thể ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong năm tài chính hiện tại hoặc được trình bày riêng rẽ trên bảng cân đối kế toán).

Đối với doanh nghiệp mới thành lập. Trong giai đoạn đầu tư xây dựng để hình thành TSCĐ, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi thanh toán các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ để thực hiện đầu tư xây dựng và chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại ngày kết thúc niên độ kế toán được trình bày lũy kế, riêng biệt trên bảng cân đối kế toán. Khi tài sản cố định hoàn thành đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng thì chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong giai đoạn đầu tư xây dựng được phân bổ dần vào thu nhập hoặc chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian tối đa là 5 năm.

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, chênh lệch tỷ giá phát sinh hi thanh toán các khoản mục tiền tệ hoặc trong việc đánh giá lại các khoản mục tiền tệ của doanh nghiệp theo các tỷ giá hối đoái khác với các tỷ giá hối đoái áp dụng để ghi nhận ban đầu hoặc đã được báo cáo trong báo cáo tài chính trước, cần được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong kỳ phát sinh.

Khi lãi hoặc lỗ liên quan đến một khoản mục ghi tiền tệ được ghi nhận thẳng vào vốn chủ sở hữu, toàn bộ chênh lệch tương ứng với khoản lỗ/lãi đó sẽ được ghi thẳng vào vốn chủ sở hữu.

Không đề cập đến vấn đề này.

Kế toán các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro cho các khoản mục có gốc ngoại tệ được hạch toán theo IAS 39, Công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định giá trị.

Đối với doanh nghiệp sử dụng công cụ tài chính để lập dự phòng rủi ro hối đoái thì các khoản vay, công nợ phải trả có gốc ngoại tệ được hạch toán theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh. Doanh nghiệp không được đánh giá lại các khoản vay, nợ phải trả có gốc ngoại tệ đã sử dụng công cụ tài chính để dự phòng rủi ro hối đoái.

Thay đổi đồng tiền báo cáo

Khi doanh nghiệp chuyển đổi đồng tiền báo cáo, doanh nghiệp đó phải áp dụng các thủ tục chuyển đổi đối với đồng tiền hạch toán mới kể từ ngày chuyển đổi đồng tiền báo cáo.

Không đề cập đến vấn đề này.

Cơ sở kinh doanh ở nước ngoài báo cáo bằng đồng tiền của nền kinh tế lạm phát cao

Báo cáo tài chính của cơ sở kinh doanh ở nước ngoài phải được trình bày lại theo IAS 29 Báo cáo tài chính trong nền kinh tế siêu lạm phát trước khi chuyển đổi sang đồng tiền hạch toán của doanh nghiệp.

Không đề cập đến vấn đề này.

IAS 23 và VAS 16 - Chi phí đi vay

Định nghĩa 'chi phí đi vay'

Chi phí đi vay bao gồm:

- Chi phí lãi vay tính theo phương pháp lãi suất thực tế;

- Chi phí tài chính của tài sản thuê tài chính; và

- Chênh lệch tỉ giá phát sinh từ các khoản vay bằng ngoại tệ nếu được điều chỉnh vào chi phí lãi tiền vay.

Tương tự như IAS ngoại trừ việc không quy định chênh lệch tỷ giá phát sinh từ các khoản vay bằng ngoại tệ là chi phí đi vay.

Ghi nhận chi phí đi vay

Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư, xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được tính vào giá trị của tài sản đó (được vốn hóa) khi có đủ các điều kiện quy định trong chuẩn mực.

Các chi phí đi vay được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ phát sinh

Chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản và giá trị có thể thu hồi được

Vốn giá chi phí lãi vay có thể dẫn tới việc giá trị ghi sổ của tài sản cao hơn giá trị có thể thu hồi được hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được của tài sản; trong trường hợp đó, doanh nghiệp phải ghi giảm hoặc xóa sổ giá trị còn lại của tài sản theo yêu cầu của các chuẩn mực khác.

Không đề cập đến vấn đề này.

IAS 24 và VAS 26 - Thông tin về các bên liên quan

Các trường hợp không phải trình bày giao dịch với các bên liên quan

Không đề cập đến vấn đề này. Chuẩn mực yêu cầu trình bày giao dịch và số dư với các bên liên quan trong báo cáo riêng của công ty mẹ, nhà đầu tư được lập theo IAS 27 Báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính riêng.

- Trong báo cáo hợp nhất đối với các giao dịch nộ bộ của tập đoàn;

- Trong báo cáo tài chính của công ty mẹ, khi báo cáo này được lập và công bố cùng với báo cáo tài chính hợp nhất; và

- Trong báo cáo tài chính của công ty con do công ty mẹ sở hữu toàn bộ nếu công ty mẹ được thành lập tại Việt Nam và công bố báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam.

IAS 26 - Kế toán và báo cáo Quỹ hưu trí

Mục đích

Xác định các quy tắc tính toán và trình bày báo cáo tài chính cho các quỹ hưu trí.

Không đề cập đến vấn đề này.

Tóm tắt chuẩn mực

- Đặt ra các yêu cầu báo cáo cho quỹ hưu trí với mức đóng góp được xác định trước và quỹ hưu trí với mức phúc lợi được xác định trước, bao gồm báo cáo về tài sản hưu trí ròng và trình bày giá trị hiện tại ước tính của các khoản phúc lợi đã được công bố (phân tách thành loại được đảm bảo);

- Quy định rõ yêu cầu của việc xác định giá trị của các khoản phúc lợi được xác định trước và việc sử dụng giá trị hợp lý đối với các khoản đầu tư của quỹ.

Không đề cập đến vấn đề này.

(Theo Deloitte)

Monday, 29 November 2010

M&A bị trở ngại vì chuẩn mực kế toán Việt Nam

Bộ Tài chính đã ban hành lộ trình thực hiện các cam kết với Tổ chức Liên đoàn Kế toán quốc tế về việc áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam.

Theo đó, một số các nguyên tắc của IFRS đã được đưa vào chuẩn mực kế toán Việt Nam nhưng dự kiến phải đến năm 2020 IFRS mới có thể được hoàn thiện.


Theo nhận định của Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) trong cuốn Sách Trắng 2011 vừa được công bố, các vấn đề chung theo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm khó khăn trong việc định giá lại tài sản cố định do không có một hệ thống định giá chính thức; thiếu sự tuân thủ các quy định kế toán về mức khấu hao.


Các vấn đề trên gây khó khăn cho việc đánh giá tình hình tài chính thực sự của doanh nghiệp dự kiến mua. Việc lưu trữ sổ sách còn bất cập và thực hành kế toán chưa hoàn chỉnh tại Việt Nam vì thế tiếp tục gây trở ngại cho các giao dịch mua bán sáp nhập (M&A).


EuroCham kiến nghị Bộ Tài chính xem xét và đẩy nhanh tiến trình đưa các nguyên tắc IFRS vào trong chuẩn mực kế toán Việt Nam.

Theo InfoTV
Nguyễn Tuân

Popular Posts