Sunday, 13 November 2011

Nghị định 101/2011/NĐ-CP hướng dẫn Nghị quyết 08 về việc miễn, giảm thuế

Nghị định 101/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2011 hướng dẫn Nghị quyết 08/2011/QH13 của Quốc hội về việc ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 12 năm 2011.

Số hiệu văn bản: 101/2011/NĐ-CP
Loại văn bản: Nghị định
Cơ quan ban hành: Chính phủ
Ngày ban hành: 04-11-2011
Ngày hiệu lực: 20-12-2011
Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
Download dạng Word
Download dạng PDF

CHÍNH PHỦ
----------------
Số: 101/2011/NĐ-CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Hà Nội, ngày 04 tháng 11 năm 2011


NGHỊ ĐỊNH
QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH NGHỊ QUYẾT SỐ 08/2011/QH13 CỦA QUỐC HỘI
VỀ BAN HÀNH BỔ SUNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ THUẾ NHẰM
THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO DOANH NGHIỆP VÀ CÁ NHÂN
------------------------
CHÍNH PHỦ


Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2007;
Căn cứ Nghị quyết số 08/2011/QH13 ngày 06 tháng 8 năm 2011 của Quốc hội;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 08/2011/QH13 ngày 06 tháng 8 năm 2011 của Quốc hội về ban hành một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.

Điều 2. Giảm thuế thu nhập năm 2011 của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động
1. Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2011 của doanh nghiệp vừa và nhỏ, trừ số thuế tính trên thu nhập từ kinh doanh xổ số, kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và thu nhập từ sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và trừ các doanh nghiệp được xếp hạng I, hạng đặc biệt thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp là các công ty tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con mà công ty mẹ không phải là doanh nghiệp nhỏ và vừa và nắm giữ trên 50% vốn chủ sở hữu của công ty con.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại khoản này (không bao gồm đơn vị sự nghiệp) là doanh nghiệp đáp ứng tiêu chí về vốn hoặc lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trường hợp doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập mới từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 thì tiêu chí về vốn được xác định là số vốn điều lệ ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu.
2. Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2011 của doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội.
Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động quy định tại khoản này là doanh nghiệp có tổng số lao động sử dụng thường xuyên bình quân năm 2011 trên 300 người, không kể lao động có hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng. Trường hợp doanh nghiệp tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì số lao động làm căn cứ xác định đối tượng giảm thuế đối với công ty mẹ không bao gồm số lao động của công ty con. Số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm là số thuế tính trên thu nhập của hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, dệt may, da giày,...

Giảm thuế thu nhập: Chưa đủ để cứu DN!

Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay thì việc Chính phủ ban hành Nghị định 101/2011/NĐ-CP được đánh giá là một bước đi kịp thời nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN và cá nhân. Tuy nhiên, nhiều ý kiến vẫn cho rằng điều này vẫn chưa đủ để có thể cứu DN.
Đối với các DNNVV năm 2011 sẽ rất khó có lãi

Ngày 4/11/2011, Chính phủ ban hành Nghị định 101/2011/NĐ-CP bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN và cá nhân. Theo nghị định mới, trong năm 2011 các DNNVV, DN sử dụng nhiều lao động sẽ được giảm 30% thuế TNDN mà DN phải nộp năm 2011.

Cần nhưng chưa đủ

Trao đổi với DĐDN về nghị định mới của chính phủ, ông Lý Đình Quân – TGĐ Cty CP SQ VN bày tỏ quan điểm: Nghị định 101/2011/NĐ-CP mang lại niềm tin của DN đối với nhà nước vì điều này thể hiện Chính phủ có quan tâm đến những khó khăn của các DN trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, đối với DN chúng tôi, nếu như mọi năm được miễn giảm thuế thì còn thấy phấn khởi, nhưng năm nay do làm ăn không hiệu quả nên lấy đâu ra tiền mà nộp thuế. Do đó, có được giảm 30% thuế TNDN cũng như không” - ông Quân bày tỏ.

Đồng tình với quan điểm này, ông Đỗ Anh Tuấn- Chủ tịch HĐQT Cty TNHH Thương mại Tổng hợp Phước Tiến cho rằng Nghị định 101/2011/NĐ-CP chưa đánh giá chưa đúng về thực trạng DN vì vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại của DN hiện nay là vấn đề lãi suất, nguồn vốn dành cho DN chứ không phải các nghĩa vụ liên quan đến thuế. Theo ông Tuấn, do đặc thù của các DNNVV là hạn chế về tiềm lực tài chính, kinh nghiệm thương trường, cũng như ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực trong khi lãi suất ngân hàng quá cao cùng với áp lực lạm phát trong thời gian qua đã làm các DN không kiểm soát được chi phí, mất thị trường và không đủ vốn để duy trì sản xuất. “Kinh doanh không có lợi nhuận, thua lỗ và thậm chí phá sản thì việc giảm 30% thuế thu nhập DN trong năm 2011 chẳng đem lại hiệu quả nhiều. Bởi thua lỗ thì làm gì có thu nhập để nộp thuế” - ông Tuấn nhấn mạnh.

Ông Văn Hữu Thiết - Phó Chủ tịch, kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Đà Nẵng thì giải pháp giãn, giảm thuế nằm trong hệ thống giải pháp rất đầy đủ của Chính phủ nhưng vẫn thiếu tính đột phá. Do đó, để thực sự hỗ trợ DN nhà nước cần giải pháp trọng tâm, trọng điểm, cụ thể hơn. “Cả nước hiện có gần 350.000 DN, trong đó hơn 95% là các DNNVV. Mặc dù sử dụng hơn 50% lao động, nộp ngân sách chiếm 17,64% và đóng góp 40% GDP, nhưng hiện nay hơn 20% DNNVV đang ở trong tình trạng hết sức khó khăn, khoảng 60% DN rơi vào tình trạng sản xuất sút kém, không đủ vốn để duy trì sản xuất và chỉ có 20% DN có cơ hội vượt qua khủng hoảng. Do đó, việc miễn giảm thuế TNDN không có ý nghĩa nhiều”.

DN cần những giải pháp thiết thực hơn

Ông Tuấn cho biết với lãi suất cao như hiện nay, ngay cả những DN đầu tư dài hạn, hoạt động hiệu quả, đóng góp vào ngân sách và tạo được nhiều công ăn việc làm cũng có thể lâm vào khó khăn, mất ổn định. Do đó, chỉ với chính sách hỗ trợ thuế thì chưa đủ, cần phải có thêm các biện pháp nhằm giảm lãi suất cho vay từ phía ngân hàng, nhằm giảm gánh nặng tài chính cho DN mới là giải pháp căn cơ để tháo gỡ khó khăn hiện nay. Ngoài ra, theo ông Tuấn thì việc tiếp tục cắt giảm đầu tư công, thắt chặt chi tiêu công, kiểm soát chặt chẽ hoạt động của DNNN nhằm phân bổ nguồn vốn hợp lý cũng là “liều thuốc” hữu hiệu để cứu DN trong thời điểm khó khăn.

“DN vẫn mong Chính phủ có những giải pháp mang tính ngắn hạn, thực tế để giúp DN có thể vượt qua được những khó khăn trước mắt. Cho DNNVV vay vốn với lãi suất ưu đãi để trả lương cho người lao động vẫn tốt hơn là chính sách giảm thuế thu nhập DN vì hầu hết các DN trong giai đoạn khó khăn hiện nay đều muốn giữ chân người lao động, giữ thị trường, giữ thương hiệu để có thể vượt qua giai đoạn khó khăn” - ông Quân chia sẻ.

Trước mắt, ông Thiết – Hiệp hội DNNVV cho rằng Chính phủ cần hỗ trợ lãi suất vay vốn đối với DNNVV như đã áp dụng năm 2010 trong chính sách kích cầu, kích thích phát triển sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, “Chính phủ nên thiết lập một quỹ hỗ trợ DNNVV thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Nhiệm vụ chủ yếu của quỹ này là hỗ trợ cho DN thông qua lãi suất hoặc bảo lãnh. Không thể để các DN do thiếu vốn mà đóng cửa hàng loạt, sẽ gây hệ luỵ đến cả nền kinh tế”, ông Thiết đề xuất.
(Theo DDDN)

Thursday, 10 November 2011

PwC (Anh) gặp rắc rối sau cuộc kiểm toán Công ty Cattles

Xem hình

Công ty cho vay tín dụng thứ cấp Cattles đã tuyên bố trong phiên tòa rằng cuộc kiểm toán của PwC cho Công ty từ năm 2005 đến năm 2007 đã dẫn đến một “sai phạm trọng yếu” đối với tình hình tài chính của Công ty này.

Hành động pháp lý này có thể dẫn đến “những thiệt hại đáng kể” và ngay sau đó, PwC đã thừa nhận rằng Hãng này đã không đáp ứng được mức tiêu chuẩn cao trong kỳ kiểm toán cho bộ phận chứng khoán của JP Morgan.

Là một trong bốn hãng kiểm toán lớn, Hãng này hiện nay đang phải đối mặt với hành động pháp lý từ phía Cattles sau khi bị cáo buộc sai phạm trọng yếu dẫn đến nhiều cảnh báo về lợi nhuận và khiến Công ty này gần như phá sản.

Năm 2009, Cattles không lường trước được sự sụt giảm cổ phiếu, điều đó đã đẩy Công ty này vướng vào nhiều điều khoản với ngân hàng, và dẫn đến việc cổ phiếu của Công ty này bị treo. Đầu năm nay, các cổ phiếu treo này đã được bán cho các chủ nợ, bao gồm Ngân hàng Hoàng gia Scotland (RBS).

Theo như Thời báo Telegraph, trong một phiên tòa sơ thẩm hợp pháp tại Tòa án tối cao vào tháng 10, thẩm phán Henry Bernard Eder đã cho phép Công ty Cattles có quyền được yêu cầu hãng PwC đưa ra những tài liệu bí mật liên quan đến những cuộc kiểm toán trước đó.

Công ty Cattles cáo buộc rằng hãng PwC đã có sai sót khi phân loại các khoản vay trong dài hạn “các khoản vay này phải được xử lý giảm giá trị”. Ông Eder cho biết tại phiên tòa, nhà cho vay thứ cấp này quả quyết rằng, trong thực tế, các khoản vay “bề ngoài” được dự phòng để thu hồi nợ nhưng lại được cho vào mục nợ xấu.

Một khi những sai sót trọng yếu này trở nên rõ ràng, Công ty Cattles sẽ không thể tiếp tục kinh doanh và giá trị cổ phiếu mất hoàn toàn giá trị. Năm 2008, Công ty này buộc phải báo cáo một khoản lỗ là 745 triệu Bảng và cũng điều chỉnh lại lợi nhuận từ năm trước một khoản lỗ là 98,5 triệu Bảng.

Quay trở lại tháng 7 năm 2009, Ban Kiểm toán và Thống kê Kỷ luật Bảo hiểm (AADB) đã tiến hành điều tra đạo đức nghề nghiệp của hãng PwC liên quan đến Công ty Cattles sau khi những vấn đề trên được phanh phui vào tháng 2 năm đó. Sự việc này kéo theo hàng loạt những sự kiện, theo như một nhận xét độc lập bởi hãng Deloitte và một số nhân viên bị sa thải khỏi hãng này.

Khi khiếu nại chính thức vẫn chưa được nộp, Công ty Cattles được cho rằng sẽ được triệu tập đến một buổi điều trần chính thức vào năm 2012.

(Theo Accountingweb)

Nguồn: kiemtoan.com.vn

Trần Bảo Minh chia tay Vinamilk: Hiện tượng hay sự cố?

Rời vị trí Giám đốc Marketing toàn cầu của PepsiCo, Trần Bảo Minh về nước đầu quân vào công ty sữa hàng đầu Việt Nam và lần lượt dừng chân ở một vài công ty hàng tiêu dùng nội địa khác chỉ trong một thời gian ngắn. Ở bất kỳ công ty nào, ông đều được xem như một hiện tượng khi lần lượt xoay chuyển cục diện kinh doanh. Nhưng khi ra đi, ông cũng để lại không ít tiếng đồn, khiến cái tên Trần Bảo Minh đôi khi được đánh đồng với “sự cố” của doanh nghiệp mà ông đến. Thực tế, Trần Bảo Minh là hiện tượng hay sự cố đối với doanh nghiệp?
“Khi tôi về làm cho một công ty là phải đưa công ty đó lên vị trí số 1,
chứ không phải số 2”, Trần Bảo Minh khẳng định.
Khởi nghiệp bằng công việc bán hàng cho Công ty Intel một thời gian ngắn, Trần Bảo Minh quyết định rời Intel về làm việc tại Công ty Nước giải khát Quốc tế (IBC), một liên doanh giữa Việt Nam và công ty con của PepsiCo. Tại thời điểm đó, Trần Bảo Minh đã là thạc sĩ chuyên ngành marketing, tuy nhiên, sau 2 năm đầu về IBC, tấm bằng cao học này cũng chưa giúp Minh tỏa sáng. Ông nói: “Giấc mơ của tôi từ ngày ngồi ở giảng đường là phải có năng lực thiết lập được một chiến lược marketing dài hạn có tác dụng xoay chuyển được cục diện của thị trường khi bước chân vào doanh nghiệp”.

Hiện tượng

Giấc mơ đó chỉ trở thành hiện thực khi Trần Bảo Minh được giao nhiệm vụ mới, Giám đốc Marketing của Công ty Pepsi IBC vào năm 1999 (lúc đó IBC đã lần lượt mua lại cổ phần của các đối tác Việt Nam trong liên doanh, tiến dần đến việc trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vào năm 2003). Từ đó, hàng loạt ý tưởng marketing thông minh của Pepsi Việt Nam ra đời. Năm 2001, chương trình “Từ World Star Challenger đến ngày hội kỹ thuật bóng đá Pepsi” do Minh cùng đội ngũ marketing của Công ty thực hiện đã giành giải “Chương trình marketing xuất sắc nhất khu vực châu Á” của Tập đoàn. Cũng trong năm đó, ông nhận giải thưởng “Giám đốc Marketing xuất sắc nhất châu Á - Thái Bình Dương” của Tập đoàn.

Năm 2002, Pepsi thành công với hàng loạt sản phẩm mới từ nước tinh khiết Aquafina, sá xị Mirinda, đến các loại nước uống đóng chai hương vị trái cây. Song, thành công lớn nhất của Trần Bảo Minh là đưa sản phẩm nước tăng lực Sting (2002) và nước cam ép Twister (2003) vào thị trường. Sting ra đời từ cuộc nghiên cứu thị trường châu Á cho thấy, người tiêu dùng chuộng nước uống tăng lực có chất nhân sâm. Còn Twister kết hợp nước tinh khiết với đường và bột cam, thay cho nước cam người Việt thích dùng. Năm 2003, doanh thu của Pepsi Việt Nam tăng mạnh, riêng Sting tăng 30% và Aquafina tăng 80%. Đến nay, năm 2011, Sting chiếm 52% thị trường nước uống tăng lực cả nước (theo Neilsen Việt Nam).

Doanh số tăng, danh tiếng của Trần Bảo Minh cũng theo đó lan xa. Một năm sau đó, Trần Bảo Minh được “điều” sang Anh để dự buổi phỏng vấn với một lãnh đạo marketing cao cấp của Tập đoàn Pepsi tại London, Anh quốc. Sau 45 phút đấu trí căng thẳng, Trần Bảo Minh bước ra khỏi phòng phỏng vấn với trọng trách mới: Giám đốc Marketing toàn cầu của Tập đoàn Pepsi.

Năm 2004, Minh là người châu Á đầu tiên giữ vị trí quản lý cao cấp ở Pepsi toàn cầu. Năm đó ông 36 tuổi. Chỉ sau 45 phút, ông đã bước một bước từ một thị trường Việt Nam doanh số 18 triệu két/năm để sang thị trường toàn cầu 3 tỉ két/năm. Ông Phạm Phú Ngọc Trai, lúc đó đương là Tổng Giám đốc Công ty Pepsi Việt Nam, nhận xét: “Minh đã là người Việt Nam đầu tiên đảm nhiệm công việc marketing, vốn là của người nước ngoài tại các công ty toàn cầu ở Việt Nam. Đây là một sự hãnh diện cho giới trẻ Việt Nam”.

Sang Mỹ rồi về Thái Lan làm việc cho Tập đoàn Pepsi, cái tên Trần Bảo Minh ít được biết đến cho đến khi có tin ông về nước đầu quân vào Vinamilk. “Cũng giống như Pepsi, Vinamilk hấp dẫn tôi bởi khả năng bước ra thị trường quốc tế của thương hiệu này”, Minh nói. Tháng 10.2006, Trần Bảo Minh về nước, ngồi vào chiếc ghế Phó Tổng Giám đốc phụ trách kinh doanh, marketing của Vinamilk, lúc đó trụ sở đặt tại số 184-188 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, TP.HCM.

Nhiệm vụ của ông là xây dựng hình ảnh thương hiệu mới cho các sản phẩm của Vinamilk. Tại thời điểm đó, Dutch Lady đang dẫn đầu thị trường sữa nước về sản lượng và thị phần, giá bán cũng cao hơn Vinamilk 10-15%.

Ông thuyết phục Hội đồng Quản trị đặt hàng Viện Dinh dưỡng Quốc gia tiến hành thử nghiệm lâm sàng với 2 nhóm trẻ em, một nhóm uống sữa tươi ngoại các loại và một nhóm uống sữa tươi của Vinamilk. Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, IQ của 2 nhóm trẻ được theo dõi hằng tháng và kết quả các chỉ số đo được của 2 nhóm trẻ là tương đương.

Lần đầu tiên, sữa nội được khẳng định một cách có khoa học là chất lượng không thua sữa ngoại. Thông điệp “sữa nội chất lượng” và “sữa tươi 100%” của Vinamilk đã tạo dấu ấn mạnh mẽ lên nhận thức và hành vi tiêu dùng mới. Doanh số bán 2 sản phẩm này của Vinamilk tăng gấp 3 lần trước đó. Theo ông Nguyễn Thanh Long, từng là Giám đốc Thương mại của TH Milk, hiện là Giám đốc chi nhánh phía Bắc của Asia Foods, đó là những ý tưởng làm thay đổi cục diện thị trường sữa Việt Nam chứ không chỉ là doanh số của một công ty.

Nếu mục tiêu của sữa nước là chiến thắng đối thủ thì đối với sữa chua là chiến thắng chính mình, vì tại thời điểm đó, sữa chua Vinamilk đã chiếm gần 90% thị trường. Ông Minh nói: “Bài toán tiếp thị đặt ra ở đây là làm thế nào để tăng và mở rộng đối tượng người dùng, tự tạo nhu cầu thị trường”. Những đoạn phim quảng cáo 30 giây được phát liên tục trên truyền hình mô tả cảm giác tươi vui, ngon khi ăn một hũ sữa chua nhằm thực hiện sứ mệnh “làm đẹp” sản phẩm. Song song đó, các bài viết trên báo tập trung phân tích sự cần thiết của việc ăn một hũ sữa chua mỗi ngày thế nào, những tác dụng đối với sức khỏe của sữa chua, hướng người tiêu dùng đến chất lượng của sản phẩm.

Trong báo cáo phân tích về Vinamilk, Công ty Chứng khoán HSC có nhận xét: “Sau công cuộc cải tổ thương hiệu một cách toàn diện và các chiến dịch quảng cáo mạnh mẽ, đặc biệt là cho các nhãn hàng sữa tươi, năm 2007, cuộc cách mạng marketing của Vinamilk đã đạt được thành công khi tạo ra hình ảnh tươi mới cho các nhãn hàng chính của mình”.

Từ việc thay đổi toàn bộ cục diện này, Hội đồng Quản trị Vinamilk quyết định đặt ra tham vọng tiến đến doanh thu 1 tỉ USD. Theo báo cáo Đại hồi đồng cổ đông thường niên của Vinamilk, từ mức lợi nhuận trước thuế chỉ khoảng 660 tỉ đồng năm 2006, đến năm 2007, 1 năm sau khi Minh về, con số này đã tăng gần 50%, lên 955 tỉ đồng. Đà tăng này vẫn tiếp tục trong những năm sau đó với 1.370 tỉ đồng năm 2008 và hết năm 2009, thời điểm Trần Bảo Minh rời Vinamilk, đã vượt 2.730 tỉ đồng.

Thế rồi, khi Vinamilk đang thời kỳ hưng thịnh, tháng 7.2009, Minh rời Vinamilk để sang ngồi ghế Tổng Giám đốc TH Milk, một thương hiệu sữa mới được gầy dựng ở phía Bắc, được dự báo sẽ là đối thủ của Vinamilk trong tương lai.

Ngay từ cuối năm 2008, khi ông Minh đang làm Phó Tổng Giám đốc Vinamilk, bà Thái Hương, Chủ tịch Tập đoàn TH, đã đặt vấn đề mời ông về. Ông Minh kể lại, chính câu nói trong buổi gặp đầu tiên của bà Thái Hương đã “đánh gục” được ông. Bà Hương nói: “Tôi muốn làm nên sản phẩm sữa tươi tốt nhất cho trẻ em Việt Nam”. Câu nói này đã đánh trúng mục tiêu của Minh, như ông nói, “khi tôi về làm cho một công ty là phải đưa công ty đó lên vị trí số 1, chứ không phải số 2”. Trước cuộc hẹn với bà Hương, Minh hoàn toàn chưa biết bà Hương đang chuẩn bị tung ra sản phẩm sữa tươi, mà chỉ được giới thiệu là Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á. “Nếu TH Milk mua bột về khuấy, tôi sẽ không về làm dù có trả lương cao gấp 10 lần”, ông Minh nói.

Sau hơn 1 năm, từ một vùng đất cỏ dại mọc phủ đầu người, đến cuối năm 2010 TH Milk đã có trang trại bò nuôi 6.000 con (đến nay là 20.000 con), được coi là “thành phố bò” lớn nhất châu Á. Nhưng Trần Bảo Minh chỉ ngồi ở TH Milk được hơn 1 năm. Cuối năm 2010 người ta lại nghe tin ông ra đi.

Sự cố

Khi nhắc đến Minh, không ít người dành nhiều tình cảm, lòng ngưỡng mộ. Nhưng cái tên Trần Bảo Minh cũng gắn với không ít điều tiếng và hầu hết vẫn được xem là những tin đồn bởi ông chưa bao giờ lên tiếng chính thức về chúng.

Trước khi về TH Milk, tháng 8.2009, cái tên Trần Bảo Minh từng được gắn vào chức danh Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Vinamit. Sau đó, có tin đồn do “cơm không lành canh không ngọt”, Minh chia tay Vinamit và lại kéo theo cả đội ngũ của mình về TH Milk. Với thông tin này, Trần Bảo Minh cho biết, ông chỉ đứng tên trong Hội đồng Quản trị của Vinamit một vài tháng, không trực tiếp điều hành. “Nếu tham gia vào một công ty, tôi sẽ làm sếp chứ không làm phó chủ tịch hội đồng quản trị, một vị trí vốn không có thực quyền”, Minh khẳng định.

Ông Nguyễn Lâm Viên, Chủ tịch Vinamit, qua điện thoại cũng khẳng định: “Anh Minh chỉ tham gia ở Hội đồng Quản trị trong vài tháng, không trực tiếp điều hành”.

Rời Vinamilk, Minh chỉ giải thích ngắn gọn: “Ba năm là đủ cho một cuộc đổi dời, một cuộc làm mới chính mình”. Tuy nhiên, dư luận khá khắt khe khi đặt vấn đề “đạo đức kinh doanh” khi Minh rời một công ty sữa để về làm cho một công ty sữa khác, tạm coi là đối thủ của công ty hiện tại. Cái tên Trần Bảo Minh cũng gây nhiều dư luận trái chiều khi nhiều thông tin cho rằng, mỗi khi rời công ty nào ông đều kéo theo cả đội ngũ quản lý cao cấp. Minh đã giữ im lặng suốt 2 năm sau đó, không một lời giải thích. Khi chúng tôi đặt lại câu hỏi này, Minh trả lời bằng một câu hỏi khác: “Tại sao không ai đặt câu hỏi ngược lại rằng, công ty đó có tin tưởng, trọng dụng nhân sự mà tôi để lại hay không? Những người này đều đã là cấp quản lý, họ có tài và thừa thông minh để lựa chọn con đường sự nghiệp của mình, làm sao tôi có thể kéo họ đi nếu họ nhìn thấy cơ hội tốt hơn khi ở lại”.

Thực tế, không ít nhà quản lý dưới quyền Trần Bảo Minh, sau khi ông ra đi vẫn ở lại và thăng tiến đến những vị trí cao trong công ty, như Giám đốc Tài chính Hoàng Công Trang, Giám đốc Kinh doanh Tiếp thị Nguyễn Thế Dục Nhật ở TH Milk. Trước đó, khi rời Vinamilk về TH Milk, ông chỉ rút Giám đốc Thương mại Phạm Trọng Bảo Châu về làm cùng. Các vị trí quản lý hoạch định tài chính, marketing và kinh doanh của Vinamilk do Minh tuyển dùng và gửi đi đào tạo ở Singapore về đều ở lại làm việc. Tại Vinamilk, theo thông tin chúng tôi có được, có ít nhất 3 nhân sự cao cấp, từng là cấp dưới của ông Minh, nay giữ vị trí quản lý chủ chốt với thu nhập từ tiền thưởng và cổ phiếu lên đến vài tỉ đồng mỗi năm. Minh cũng cho biết, ở Vinamilk hiện có khoảng 10 cộng sự từng làm việc với ông ở Pepsi, TH Milk có vài chục người và Asia Foods khoảng hơn 10 người. “Lực lượng của tôi trải dài trên 3 công ty này và chuyện rút toàn bộ nhân sự chỉ là cách mọi người muốn nói”.

“Khi quyết định đi, tôi tổ chức họp và thông báo công khai, tôi cũng nói rõ tôi cần vài người theo mình để thực hiện cuộc trường chinh mới. Mặt khác, tôi cũng xem họ sẽ được trọng dụng thế nào. Bởi tôi hiểu, nếu tôi ra đi không minh bạch, những người tin tưởng theo tôi sẽ bị ảnh hưởng không ít”, Minh cho biết.

Có một thực tế là khi nói đến Trần Bảo Minh, ít ai bình luận đến năng lực mà mọi nhận xét về ông hầu như chỉ xoay quanh mấy chữ “đạo đức kinh doanh”. Sau những lời đồn về chuyện lôi kéo nhân sự, Trần Bảo Minh cũng “mang tiếng” về lương thưởng, khi có tin cho rằng ông rời Vinamilk sau khi nhận ít nhất là 4-5 triệu USD tiền và cổ phiếu thưởng của năm 2009. Thực hư thế nào? “Tôi rời Vinamilk từ tháng 7.2009, trong khi ai cũng biết tiền và cổ phiếu thưởng của doanh nghiệp chỉ được trả vào cuối năm”, ông nói.

Trong nghề marketing, nhiều người nhận xét Minh có cách tiêu tiền của nhà giàu. Với các chiến dịch marketing lớn, trao cho Minh một cọc tiền, Minh sẽ làm thành công. Tại Vinamilk, năm 2007, Vinamilk chi 975 tỉ đồng cho tiếp thị và bán hàng. Năm 2008, tuy các khoản chi này có giảm nhưng việc chi 2 triệu USD để tiếp thị cho nhãn hàng cà phê Moment (nay nhà máy đã được bán cho Trung Nguyên) của Vinamilk, do Phó Tổng Giám đốc Trần Bảo Minh công bố vào tháng 5.2008, được coi là một hành động “chơi trội” của đại gia. Trần Bảo Minh hiện là Giám đốc Điều hành Công ty Cổ phần Thực phẩm Á Châu (Asia Foods). Với Asia Foods hiện nay, ông cũng cho biết công ty dành 150 tỉ đồng để làm marketing cho sản phẩm mì ăn liền, trong khi mức chi cho marketing những năm trước đó chỉ khoảng 30 tỉ đồng.

Với nhận xét tiêu tiền kiểu nhà giàu, Trần Bảo Minh phản ứng: “Nhận xét như thế thì không hiểu gì về kinh doanh cả”. Minh giải thích, khi xem xét chi phí marketing, phải coi kết quả cuối cùng là doanh thu, lợi nhuận tăng thế nào. Làm marketing ai cũng xài tiền, nhưng hơn nhau ở chỗ xài phải ra tiền, phải tăng doanh thu, lợi nhuận. Trần Bảo Minh thậm chí không chấp nhận khái niệm lỗ tạm thời. Những chiến dịch marketing của ông đã ghi lại, túi bên này ông vừa bỏ ra khoản tiền lớn đầu tư cho marketing ngay lập tức túi bên kia ông đã thu về lợi nhuận.

Tuy nhiên, không phải mọi quyết định marketing của Trần Bảo Minh đều thành công. Quyết định đầu tư 2 triệu USD để tiếp thị cà phê Moment nói trên là một minh chứng. Ông Nguyễn Thế Dục Nhật Giám đốc Kinh doanh Tiếp thị của TH Milk, kể thêm một thất bại của Trần Bảo Minh là sản phẩm Sữa ngủ ngon (Sweetdream milk) ông đưa ra từ thời còn ở Vinamilk. Sau 5-6 tháng, sản phẩm này đã ngưng sản xuất do không phù hợp với thị hiếu và thói quen của người tiêu dùng Việt Nam. “Quan trọng là anh ấy có nhiều ý tưởng mà không phải ai cũng làm được. Và một vài ý tưởng trong số đó thành công đã tạo được dấu ấn rồi”, ông Dục Nhật nói.

Ngoài ra, một điểm yếu của Minh, theo những người cộng sự lâu năm của ông nhận xét, là tính hiếu thắng. Chính cá tính này cũng là nguyên nhân sâu xa khiến Minh rời các công ty lớn sau một thời gian gắn bó. Song, ông Dục Nhật nói thêm: “Đó có lẽ cũng là một tố chất của nhà lãnh đạo. Một nhà lãnh đạo mà không có tính hiếu thắng, khó thành công”.

Minh đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng vượt bậc của Vinamilk, nhưng dường như sự xuất hiện đúng thời điểm và sự nổi trội của ông khiến dư luận đánh đồng thành tựu của Vinamilk là thành tựu của Trần Bảo Minh. Và những lời ưu ái đó của dư luận lại gây bất lợi cho ông hơn là lợi. Hơn ai hết, Trần Bảo Minh hiểu rõ vai trò và đóng góp hơn 30 năm của bà Mai Kiều Liên, người nắm quyền cao nhất ở Vinamilk đối với doanh nghiệp này. Ông lý giải ra đi chỉ vì muốn bắt đầu một cuộc trường chinh mới, khi những mục tiêu ông đặt ra ở Vinamilk đã hoàn thành, mặc cho những đồn đại về điều này vẫn còn tiếp diễn. “Hoàn toàn không có xung đột nào cả. Lĩnh vực nào tôi giỏi nhất, tôi là người cầm lái, bởi tôi chịu trách nhiệm về uy tín, danh dự và quyền lợi công ty. Nếu chỉ vì quyền lợi bản thân, chấp nhận giao nửa bánh lái cho người khác, đó là vô trách nhiệm. Nếu tôi tin mình có khả năng cầm lái giỏi nhất trong lĩnh vực đó, mà vẫn giao bánh lái cho người khác, tôi là người hèn nhát”, Trần Bảo Minh nói như thể đang giải thích cho nguyên nhân rời TH Milk của mình vào cuối năm qua.
Theo NCĐT

Từ 1/5/2012: Lương tối thiểu lên 1.050.000 đồng/tháng

Theo Nghị quyết về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012 vừa được Quốc hội thông qua sáng nay (10/11), kể từ ngày 1/5/2012, sẽ thực hiện mức lương tối thiểu 1.050.000 đồng/tháng, phụ cấp công vụ 25% cho cán bộ, công chức; lương hưu và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng với tốc độ tăng lương tối thiểu.

Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012 đã được Quốc hội thông qua với tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước (tính cả thu chuyển nguồn năm 2011) là 762.900 tỷ đồng; tổng số chi cân đối ngân sách Nhà nước là 903.100 tỷ đồng; mức bội chi ngân sách là 140.200 tỷ đồng, tương đương 4,8% GDP, phấn đấu tăng thu để giảm bội chi xuống dưới mức này.

Lĩnh lương hưu (ảnh minh họa)

Quốc hội cũng giao Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cơ cấu lại chi ngân sách Nhà nước theo hướng ưu tiên cho con người, bảo đảm an sinh xã hội; điều chỉnh cơ cấu chi đầu tư phát triển nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, khuyến khích, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước; phối hợp đồng bộ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; điều hành chặt chẽ thu, chi ngân sách; bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách cho các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa - thông tin, bảo vệ môi trường, y tế theo đúng nghị quyết của Quốc hội; giữ vững an ninh tài chính quốc gia.

Nghị quyết Quốc hội chấp thuận cho Chính phủ đầu tư trở lại không quá 30% số vượt thu so với dự toán thu hàng năm nhưng dự toán thu phải cao hơn số thực hiện năm trước đối với số thu từ thuế xuất nhập khẩu hàng hóa thông quan tại cửa khẩu quốc tế đường bộ trên địa bàn cho ngân sách các tỉnh có cửa khẩu quốc tế đường bộ. Đồng thời, phát hành 45.000 tỷ đồng vốn trái phiếu trong năm 2012 đầu tư cho lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục quan trọng đã được Quốc hội cho phép; rà soát danh mục, xây dựng phương án phân bổ cụ thể đối với từng dự án, công trình để UBTV Quốc hội quyết định trước ngày 31/12/2011.

Quốc hội cũng yêu cầu Chính phủ tăng cường quản lý các khoản chi ngân sách nhà nước, nhất là chi đầu tư xây dựng cơ bản, vốn trái phiếu Chính phủ, chương trình mục tiêu quốc gia; chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng; quản lý chặt chẽ các khoản chi thường xuyên theo đúng dự toán được phê duyệt. Năm 2012, chỉ cho phép chuyển nguồn để thực hiện chế độ tiền lương mới, chuyển nguồn của các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính, chi cho các đề tài nghiên cứu khoa học; giảm chi chuyển nguồn trong đầu tư xây dựng cơ bản.

(Theo Hanoimoi)

Tuesday, 8 November 2011

Sự khác biệt phương pháp luận đối với Báo cáo tài chính hợp nhất và kinh nghiệm của các quốc gia

Sự khác biệt phương pháp luận đối với

Báo cáo tài chính hợp nhất và kinh nghiệm của các quốc gia

So với lịch sử ra đời của bút toán kép - nền tảng của kế toán hiện đại, thì Báo cáo tài chính hợp nhất (BCTCHN) ra đời muộn hơn, vì BCTCHN gắn với sự hình thành của các tập đoàn kinh tế (TĐKT). BCTCHN đầu tiên được lập vào năm 1982 tại tập đoàn Steel Corporation – Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, sau đó được luật hóa vào năm 1933. Việc luật hóa BCTCHN tại Anh và Đức lần lượt vào các năm 1948 và 1966. Hợp nhất BCTC là vấn đề khá phức tạp nên chuẩn mực BCTCHN của mỗi một quốc gia đều có những điểm khác biệt. Bài viết sẽ tổng kết một số khác biệt cơ bản và một số kinh nghiệm của các quốc gia (Mỹ, Úc, Trung Quốc và Nhật Bản) về Chuẩn mực BCTCHN.

Đoàn Thị Dung - Công ty CP Tập đoàn Hoàng Hà

Những điểm khác biệt

BCTCHN giữa các quốc gia có nhiều điểm tương đồng như: mục đích, đơn vị lập, kỳ hạn lập. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt về một số khía cạnh giữa các quốc gia và giữa các quốc gia với chuẩn mực (CM) quốc tế về kế toán. Những điểm khác biệt nổi bật có thể liệt kê:

Một là, Hệ thống BCTCHN – Hệ thống BCTCHN có thể bao gồm: BCTCHN, Báo cáo kết quả HĐKD hợp nhất, Báo cáo LCTT hợp nhất và báo cáo lợi nhuận chưa phân phối hợp nhất kèm theo thuyết minh BCTC bổ sung hoặc chỉ bao gồm Bảng CĐTK hợp nhất, Báo cáo KQHĐKD hợp nhất, Báo cáo LCTT hợp nhất và thuyết minh BCTCHN.

Hai là, áp dụng tính trọng yếu để loại trừ công ty con ra khỏi phạm vi hợp nhất. Theo chuẩn mực kế toán (CMKT) Nhật Bản, một công ty con không trọng yếu (mức độ tài sản, doanh thu, lợi nhuận thuần và lợi nhuận chưa phân phối chiếm tỷ trọng nhỏ) có thể được loại trừ ra khỏi phạm vi hợp nhất. Tổng mức các chỉ tiêu của công ty con loại trừ ra khỏi phạm vi hợp nhất khoảng từ 3% đến 5% trên tổng số chỉ tiêu tương ứng của các công ty con thuộc phạm vi hợp nhất và công ty mẹ theo quan điểm hợp nhất. Tuy nhiên tiêu chuẩn này cũng không được quy định trong CMKT Quốc tế cũng như CMKT Hoa Kỳ.

Ba là, Phương pháp xử lý lợi thế thương mại. Khi hợp nhất BCTC, Nhật Bản, Trung Quốc chọn chính sách phân bổ lợi thế thương mại dần vào chi phí trong vòng 20 năm, trong khi Mỹ và Úc lại áp dụng chính sách đánh giá tổn thấy giảm. CM BCTC quốc tế (IFRS 03) – Hợp nhất kinh doanh có quyền lựa chọn hoặc phân bổ lợi thế thương mại dần vào chi phí trong vòng 10 năm hoặc đánh giá tổn thất giảm.

Bốn là, Phương pháp xác định và trình bày lợi ích cổ đông thiểu số. Lợi ích cổ đông thiểu số có thể xác định tại thời điểm quyền kiểm soát giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập theo nhiều cách khác nhau:

Cách 1: Lợi ích cổ đông thiểu số được xác định căn cứ vào tài sản ròng của công ty con theo giá vốn thực tế và tỷ lệ lợi ích kinh tế của cổ đông thiểu số trong công ty con. Các xác định này được quy định trong CMKT doanh nghiệp của Nhật Bản.

Cách 2: Lợi ích cổ đông thiểu số được xác định căn cứ vào tài sản ròng của công ty con theo giá hợp lý và tỷ lệ lợi ích kinh tế của cổ đông thiểu số trong công ty con. Cách xác định này được quy định trong IAS, GAAP, CMKT Nhật Bản, CMKT Úc.

Cách 3: Lợi ích cổ đông thiểu số được xác định căn cứ vào tài sản ròng của công ty con theo giá hợp lý và tỷ lệ lợi ích kinh tế của cổ đông thiểu số trong công ty con, có phân bổ cả lợi thế thương mại. CMKT quốc tế và CMKT Úc áp dụng cách xác định này.

Phương pháp trình bày lợi ích cổ đông thiểu số cũng rất khác biệt giữa quốc gia. Lợi ích cổ đông thiểu số có thể được trình bày một chỉ tiêu riêng trong mục Vốn chủ sở hữu (VCSH) của BCĐKTHN (CMKT Hoa Kỳ, Úc) hoặc được trình bày thành một khoản tách biệt, nằm giữa phần nợ phải trả và VCSH (CMKT Nhật Bản và IAS).

Bài học kinh nghiệm trên thế giới

Qua nghiên cứu, tìm hiểu quá trình hình thành, sự thay đổi khung pháp lý liên quan đến BCTCHN của một số nước, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất: Cần phải có thời gian khá dài để các TĐKT tiếp cận, hiểu các quy định của pháp luật về BCTCHN. Thực tế cho thấy, từ khi xuất hiện loại BCTC này đến khi chính thức luật hóa, Hoa Kỳ phải mất đến gần 41 năm, Nhật Bản cũng phải mất 16 năm, từ năm 1961 với BCTCHN đầu tiên của tập đoàn Sony đến năm 1977 mới luật hóa chính thức.

Thứ hai: Tính nhất quán giữa các văn bản pháp lý liên quan, tránh tình trạng không rõ ràng, mâu thuẫn giữa các quy định. Hơn nữa cần phải có các tài liệu bổ sung của các tổ chức nghề nghiệp, các học giả nghiên cứu nhằm đảm bảo cho việc thực thi các quy định pháp lý một cách nhất quán. Ví dụ minh họa như Nhật Bản, ngoài CMKT về BCTCHN được soạn thảo, đưa ra những nội dung căn bản có liên quan thì Hiệp hội kiểm toán Nhật Bản còn ban hành các tài liệu liên quan, hướng dẫn một cách khá chi tiết việc áp dụng CM trong thực tế. Ngoài ra, đông đảo các chuyên gia hành nghề, các học giả bổ sung thêm tài liệu, tạo điều kiện đưa CM dễ dàng đi vào cuộc sống thực của các TĐKT. Một ví dụ khác, là Hoa Kỳ, ngoài CM BCTCHN được FASB soạn thảo thì cơ quan này cũng ban hành kèm theo tài liệu giải thích CM, sau đó là các tổ chức nghề nghiệp kế toán bổ sung các tài liệu liên quan, phục vụ cho các tập đoàn áo dụng một các dề dàng CMKT đã ban hành.

Thứ ba: Tính phù hợp của khung pháp lý trong điều kiện kinh doanh của từng nước theo từng thời kỳ và phù hợp với xu hướng hội nhập kế toán quốc tế. CM BCTCHN ở các quốc gia luôn được bổ sung, sửa đổi theo xu hướng hòa hợp CMKT quốc tế. Bời vì, TĐKT thường có quy mô lớn, thu hút vốn cũng như đầu tư vốn liên quan đến các quốc gia. Chi phí tổ chức hệ thống BCTCHN thường lớn. Tuy nhiên, trong quá trình thay đổi, mỗi quốc gia có môi trường kinh doanh khác biệt nên vẫn có một số khác biệt về BCTCHN giữa các quốc gia này.

Thú tư: Xu hướng chung của BCTCHN là lý thuyết thực thể kế toán được áp dụng. Lý do chủ yếu cho xu hướng này là:

+ BCTCHN được lập theo quan điểm hợp nhất này bao gồm toàn bộ tài sản và nợ phải trả của tập đoàn, điều này phù hợp với tiêu chuẩn công ty con là quyền kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con.

+ Lợi ích cổ đông thiểu số không thỏa đáng là khoản nợ phải trả, quyền pháp lý về tài sản của cổ đông thiểu số trong tài sản thuần của công ty con cũng giống như quyền pháp lý của công ty mẹ.

(Theo Tạp chí Kế toán và Kiểm toán.)

Nguon: VACPA

Cận cảnh "lỗ hổng" kế toán trong phát hành trái phiếu chuẩn đổi

Cận cảnh "lỗ hổng"

kế toán trong phát hành trái phiếu chuẩn đổi

Sau khi ĐTCK số ra ngày 26/10/2011 phát hành, có đăng bài "Trái phiếu chuyển đổi: "Lỗ hổng" kế toán và sai lệch trên BCTC" của Th.s Hà Thị Tường Vy, Phó trưởng ban Quản lý hành nghề kế toán, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, ĐTCK tiếp tục nhận được bài viết của tác giả Quang Phương, trao đổi rõ hơn về vấn đề này.

Quang Phương

N

gày nay, trái phiếu chuyển đổi (TPCĐ) đã trở thành công cụ tài chính khá quen thuộc trên TTCK Việt Nam. Tuy nhiên, hẳn rất ít nhà đầu tư (NĐT) còn nhớ trong lĩnh vực ngân hàng, công cụ này lần đầu tiên được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) sử dụng qua đợt phát hành TPCĐ gây chấn động giới đầu tư vào tháng 12/2005. Mặc dù vậy, rất nhiều ý kiến trong giới tài chính không thừa nhận sự kiện trên của Vietcombank là đợt phát hành TPCĐ đúng nghĩa. Đơn giản bởi 1.365 tỷ đồng TP Vietcombank thu được tại thời điểm này chưa xác định tỷ lệ chuyển đổi sang cổ phiếu (CP) và không xác định được thời gian chuyển đổi (do Vietcombank lúc này chưa IPO). Bởi vậy, giới ngân hàng vẫn coi đợt phát hành TPCĐ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) vào ngày 1/11/2006 là đợt phát hành TPCĐ chính thức và đầu tiên, khi TPCĐ của SCB có đủ các yếu tố như: mệnh giá TP, lãi suất, kỳ hạn, tỷ lệ chuyển đổi sang CP phổ thông.

Như vậy, "thâm niên" sử dụng công cụ TPCĐ của các tổ chức tài chính lớn tại Việt Nam mới khoảng 5 - 6 năm. Vì đây là một công cụ tài chính rất mới đối với Việt Nam nên trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (chủ yếu được ban hành từ năm 2001 - 2005, trên cơ sở tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế, nhưng phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế Việt Nam) chưa có chuẩn mực kế toán tương đương. Do vậy, các DN khi phát hành TPCĐ chưa có đủ căn cứ pháp lý về kế toán để ghi nhận công cụ tài chính phức hợp (bao gồm cả công cụ nợ và công cụ vốn) này, từ đó, xảy ra tình trạng ghi nhận toàn bộ khoản thu được từ đợt phát hành vào khoản mục "Nợ phải trả" như bà Hà Thị Tường Vy đã phản ánh.

Để "bù đắp" vào những khoảng trống này, ngày 6/11/2009, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 210/2009/TT-BTC, hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế (cụ thể là IAS 32 và IFRS 07) về trình bày BCTC và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính, có hiệu lực từ kỳ kế toán năm 2011. Tại Thông tư này (Điều 9), có hướng dẫn về trình bày BCTC với công cụ tài chính phức hợp:

"1 - Tổ chức phát hành công cụ tài chính phi phái sinh phải xem xét các điều khoản trong công cụ tài chính để xác định liệu công cụ đó có bao gồm cả thành phần nợ phải trả và thành phần vốn chủ sở hữu hay không. Việc nhận biết các thành phần của công cụ tài chính phức hợp được căn cứ vào nghĩa vụ phải trả (nợ phải trả tài chính) của đơn vị tạo ra từ công cụ tài chính và quyền của người nắm giữ công cụ để chuyển đổi thành công cụ vốn chủ sở hữu. Ví dụ, TPCĐ có thể được chuyển đổi thành CP phổ thông là công cụ tài chính phức hợp, gồm hai bộ phận: Nợ phải trả tài chính (thỏa thuận mang tính bắt buộc phải chi trả tiền mặt hoặc tài sản tài chính) và công cụ vốn chủ sở hữu (quyền chuyển đổi thành CP trong một khoảng thời gian nhất định).

2 - Phần được phân loại là nợ phải trả tài chính trong công cụ tài chính phức hợp được trình bày riêng biệt với phần được phân loại là tài sản tài chính hoặc vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán.

3 - Giá trị ghi sổ ban đầu của công cụ tài chính phức hợp được phân bổ cho thành phần nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Phần vốn chủ sở hữu được xác định là giá trị còn lại của công cụ tài chính sau khi trừ đi giá trị hợp lý của phần nợ phải trả. Giá trị của công cụ phái sinh (như là hợp đồng quyền chọn bán) đi kèm công cụ tài chính phức hợp không thuộc phần vốn chủ sở hữu (như là quyền chọn chuyển đổi vốn chủ sở hữu) được trình bày trong phần nợ phải trả. Tổng giá trị ghi sổ cho các phần nợ phải trả và vốn chủ sở hữu khi ghi nhận ban đầu luôn bằng với giá trị hợp lý của công cụ tài chính.".

Tuy nhiên, theo ông Đào Thanh Tùng, Giám đốc Dịch vụ tài chính ngân hàng của Công ty TNHH Ernst & Young, Thông tư 210/2009/TT - BTC mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn trình bày công cụ tài chính phức hợp (theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 32 - Công cụ tài chính: Trình bày) và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính (theo IFRS số 07 - Công cụ tài chính: Thuyết minh) mà chưa có những hướng dẫn hạch toán kế toán cụ thể đối với nghiệp vụ này (theo chuẩn mực kế toán IAS 39 - Công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định giá trị), nên các DN vẫn đang thiếu căn cứ để hạch toán. Vì vậy, khi Thông tư 210/2009/TT-BTC đã có hiệu lực, Tập đoàn Đức Long Gia Lai sau khi phát hành thành công 213,4 tỷ đồng TPCĐ (kỳ hạn 2 năm, lãi suất 13%/năm, mệnh giá 100.000 đồng/TP, tỷ lệ chuyển đổi 1:10) vào tháng 4/2011, trong báo cáo tài chính bán niên năm 2011 có soát xét của tập đoàn này, khoản thu được 213,4 tỷ đồng từ phát hành TPCĐ vẫn được ghi nhận hoàn toàn vào khoản mục "Nợ phải trả dài hạn". Trong khi, nếu tuân thủ đúng quy định tại chuẩn mực quốc tế có liên quan đến nghiệp vụ này, thì trong 213,4 tỷ đồng TPCĐ thu được, Tập đoàn Đức Long Gia Lai chỉ phải hạch toán khoản "Nợ phải trả" là 167,459 tỷ đồng (trong trường hợp lãi suất thị trường với tín dụng 12 tháng tại thời điểm tháng 4/2011 là 20%), vốn chủ sở hữu sẽ được ghi nhận thêm 45,941 tỷ đồng, EPS 6 tháng đầu năm 2011 của cổ phiếu DLG sẽ tăng thêm tương ứng 1.304 đồng.

Trong bối cảnh các DN ngày càng sử dụng nhiều công cụ huy động vốn bằng phát hành TPCĐ, để tăng cường tính minh bạch thông tin tài chính trên BCTC của DN phát hành TPCĐ, thiết nghĩ, Bộ Tài chính cần sớm hoàn thiện hướng dẫn hạch toán kế toán đối với TPCĐ, cụ thể là ban hành văn bản hướng dẫn chuẩn mực kế toán IAS 39 nhằm góp phần giúp TTCK phát triển bền vững và lành mạnh hơn.



(Theo ĐTCK)

Nguon: VACPA

Popular Posts