Showing posts with label Chuẩn mực kiểm toán. Show all posts
Showing posts with label Chuẩn mực kiểm toán. Show all posts

Friday, 3 May 2013

Chuẩn mực kiểm toán mới: Góp phần nâng cao trách nhiệm các bên liên quan

Ông Bùi Văn Mai
Vừa qua Bộ Tài chính đã chính thức ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam để thay thế hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành, bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2014. Đây là bước tiến quan trọng trong lộ trình nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán Việt Nam. Để tìm hiểu thêm vấn đề này, phóng viên Báo Kiểm toán đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Văn Mai - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA).
LONG HOÀNG
* Ông có thể cho biết những điểm đáng chú ý của 37 chuẩn mực kiểm toán vừa mới được ban hành?
- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở để kiểm tra, kiểm soát nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC). Tuy nhiên, qua hơn 10 năm triển khai thì hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành từ 1999 đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường. Năm 2009, Ủy ban chuẩn mực quốc tế đã ban hành lại hệ thống chuẩn mực kiểm toán, do đó Bộ Tài chính cũng nhận thấy Việt Nam phải ban hành lại hệ thống chuẩn mực này. Năm 2010 Bộ Tài chính đã giao việc nghiên cứu soạn thảo cho VACPA thực hiện. Thông tư 214/2012/TT-BTC (ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán) cũng là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên được ban hành do một Hội nghề nghiệp đề nghị. So với hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ, hệ thống chuẩn mực vừa ban hành có nhiều điểm đổi mới. 
Trước hết, hệ thống chuẩn mực này được ban hành sau khi Luật Kiểm toán độc lập đã được ban hành năm 2011. Như vậy đã có một văn bản có giá trị pháp lý cao thể hiện các quy định của Nhà nước về kiểm toán độc lập. Yêu cầu đặt ra là soạn thảo chuẩn mực kiểm toán phải đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, phù hợp với luật hiện hành. Trong hệ thống chuẩn mực, cách tiếp cận đã thay đổi mang tính chất áp dụng các kỹ thuật tiên tiến hơn trước. Trước đây khi tổ chức một cuộc kiểm toán thường dựa vào phương pháp chọn mẫu, là phương pháp phù hợp với điều kiện lúc đó, còn hiện nay nền kinh tế thị trường phát triển đa dạng, các doanh nghiệp (DN), tổng công ty đều phát triển theo hình thức đa ngành, đa nghề, phạm vi rộng, có quan hệ quốc tế nên chuẩn mực mới yêu cầu phải dùng phương pháp tiếp cận, đánh giá và xác định rủi ro. Tức là đánh giá toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của một DN từ khâu ban hành nội quy, quy chế, quy trình xuất nhập, mua bán hàng hóa, tổ chức bộ máy,… xem khâu nào yếu, nhiều khả năng xảy ra rủi ro thì tập trung để kiểm toán. Cách tiếp cận mới này sẽ nâng cao kỹ năng xét đoán chuyên môn, kỹ năng đánh giá và nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên (KTV).
Báo cáo kiểm toán là sản phẩm của KTV. Báo cáo kiểm toán theo chuẩn mực mới cũng đòi hỏi trách nhiệm cao hơn của DN là đơn vị phải lập và trình bày một cách trung thực, hợp lý tình hình tài sản, vốn trên BCTC. Như vậy chuẩn mực mới giúp nâng cao trách nhiệm của tất cả các bên liên quan: KTV, công ty kiểm toán và DN khách hàng.
Ý kiến kiểm toán cũng có những thay đổi lớn. Cụ thể, quy định trước đây chia ý kiến kiểm toán làm 4 loại, gồm: chấp nhận toàn phần, ngoại trừ, không chấp nhận và từ chối cho ý kiến. Để hướng đến mục tiêu các BCTC khi đã đưa ra xã hội phải phản ánh trung thực và hợp lý, người làm BCTC phải gắn trách nhiệm của mình vào sản phẩm, chuẩn mực mới quy định chỉ có 2 loại ý kiến là chấp nhận toàn phần và không chấp nhận toàn phần.
Dự kiến sắp tới VACPA sẽ tiếp tục trình Bộ Tài chính ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán còn lại và 1 chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp.
* Gần đây chất lượng dịch vụ kiểm toán đang bị xã hội đặt dấu hỏi khi để xảy nhiều vụ việc sai phạm. Theo ông việc áp dụng các chuẩn mực kiểm toán mới sẽ có tác dụng thế nào trong vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán? Trong các trường hợp sai phạm cần có hình thức xử lý như thế nào cho phù hợp?
- Những năm gần đây sai phạm về kiểm toán xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do khủng hoảng kinh tế nên các DN đều gặp khó khăn, có tâm lý làm đẹp BCTC. Nguyên nhân thứ hai là do hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành của ta đã lạc hậu, chưa thể hiện rõ được trách nhiệm của KTV và DN khách hàng. Tôi tin rằng sau khi những chuẩn mực mới được áp dụng triệt để thì chắc chắn chất lượng kiểm toán sẽ được nâng cao.
Về xử lý sai phạm, tôi cho rằng hệ thống pháp luật hiện còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót. Quy định xử lý về mặt tài chính hiện nay so với trước đã là khá cao, như sai phạm về lập BCTC từ phạt 20 triệu đồng dự kiến tăng lên trên 120 triệu đồng. Việc xử lý cần nhiều biện pháp kết hợp không chỉ dừng lại ở xử lý hành chính, nhưng theo tôi phải xử lý nhanh và kịp thời, thủ tục, quy trình xử phạt cần phải gắn trực tiếp với người tham gia kiểm tra, kiểm soát thì mới có hiệu quả hiệu lực. Đối với các công ty kiểm toán, hình thức xử phạt cao nhất chính là đình chỉ hành nghề và công khai trên thông tin đại chúng.
* Ngoài một số văn bản đã ban hành, ông có thể cho biết VACPA sẽ tiếp tục triển khai những biện pháp cụ thể gì để hướng dẫn thực hiện 37 chuẩn mực mới cũng như đưa Luật Kiểm toán độc lập vào cuộc sống, thực hiện các mục tiêu của Chiến lược Kế toán, Kiểm toán đến 2020?
- Hiện nay chúng tôi đang ưu tiên triển khai phổ biến các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Kiểm toán độc lập và Thông tư ban hành chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Cụ thể, VACPA đã và đang thực hiện kế hoạch đào tạo cập nhật kiến thức có liên quan cho hội viên, đã triển khai từ tháng 4/2013. Việc cập nhật kiến thức năm nay sẽ mở rộng cho cả các DN, thông qua Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tập huấn cho các DN niêm yết. Bên cạnh đó VACPA cũng đã chủ trương viết các tài liệu hướng dẫn tóm tắt các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam; hệ thống hóa toàn bộ văn bản trên trang điện tử cho KTV và DN thuận tiện tra cứu; viết một số tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ, chuyên môn sâu như vấn đề chọn mẫu, xác định trọng yếu, gửi thư xác nhận giảng dạy thực hành kiểm toán theo chương trình kiểm toán mẫu và theo chuẩn mực mới,... hợp tác với giảng viên các trường Đại học để đưa các chuẩn mực kiểm toán này vào giảng dạy. Đây là những biện pháp rất hiệu quả mà quốc tế đang áp dụng.
* Xin cảm ơn ông./.

(Theo VACPA)

Sunday, 31 March 2013

Thông tư 214 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán cho năm tài chính 2014

Bộ tài chính ban hành Thông tư 214/2012 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán mới. Bắt đầu từ năm tài chính 2014 sẽ chính thức áp dụng thêm 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam có số hiệu và tên gọi mới.
Thông tư 214 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán cho năm tài chính 2014
Thông tư 214 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán cho năm tài chính 2014
Quy định trên được ban hành tại Thông tư số 214/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính theo đề nghị của Chủ tịch Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán.
Thông tư ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam áp dụng đối với doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, kiểm toán viên hành nghề và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập.
37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam có số hiệu và tên gọi như sau: Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1- Kiểm soát chất lượng doanh nghiệp thực hiện kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo và các dịch vụ liên quan khác (VSQC1). Chuẩn mực số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Chuẩn mực số 210- Hợp đồng kiểm toán. Chuẩn mực số 220- Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực số 230- Tài liệu, hồ sơ kiểm toán...
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2014. Đối với các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính và các công việc kiểm toán khác được thực hiện trước ngày Thông tư có hiệu lực mà đến thời điểm đó trở đi mới phát hành báo cáo kiểm toán thì phải áp dụng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành theo Thông tư này.
Các chuẩn mực kiểm toán số 1000 “Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành”, Chuẩn mực kiểm toán số 930 “Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính” ban hành theo Quyết định số 03/2005/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chuẩn mực kiểm toán số 910 “Công tác soát xét báo cáo tài chính”, Chuẩn mực kiểm toán số 920 “Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước” ban hành theo Quyết định số 195/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi có chuẩn mực mới thay thế.
DOWNLOAD THÔNG TƯ

Theo Báo Hải quan

Monday, 25 March 2013

XÂY DỰNG, BAN HÀNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM: CẦN PHẢI NHANH, NHẠY HƠN

Ông Bùi Văn Mai
Theo sự ủy quyền của Bộ Tài chính, từ năm 2009 đến 2012, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã tổ chức nghiên cứu, soạn thảo để trình Bộ Tài chính ban hành lại 37 Chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) Việt Nam. Dự thảo các CMKiT ban hành lại (trong đó có CMKiT số 700: Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính, có nhiều điểm thay đổi, khác biệt với mẫu báo cáo kiểm toán (BCKT) hiện hành) được xây dựng trên cơ sở các CMKiT quốc tế có hiệu lực từ 15/12/2009 đã được VACPA trình Bộ Tài chính trong năm 2012, và dự kiến ban hành trong thời gian tới, áp dụng cho các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) có năm tài chính kết thúc vào 31/12/2013. Trong khi CMKiT Việt Nam (sửa đổi) còn chưa được ban hành thì mới đây Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) đã xây dựng Dự án sửa đổi CMKiT quốc tế số 700. Ông Bùi Văn Mai - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký VACPA đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Kiêm toán về vấn đề này.
ĐỖ LONG (thực hiện)
Ông có thể vui lòng cho biết những thông tin đáng chú ý về dự án nói trên của IFAC?
Ngày 21/6/2012, Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB) của IFAC đã công bố Thư mời tham gia ý kiến về việc sửa đổi mẫu BCKT của KTV độc lập. Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành việc lấy ý kiến, IAASB sẽ xây dựng và công bố dự thảo CMKiT sửa đổi vào tháng 6/2013, tiếp tục hoàn thiện và chính thức ban hành CMKiT sửa đổi vào tháng 6/2014. Trong Thư mời tham gia ý kiến, câu hỏi lớn nhất mà IAASB đặt ra là “Liệu những dự kiến thay đổi đối với BCKT có đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng về tính minh bạch của BCTC và cuộc kiểm toán, cũng như cung cấp những giá trị mà người sử dụng đang tìm kiếm hay không?”.
BCKT vẫn được coi là sản phẩm cao nhất của kiểm toán viên - là phương tiện trao đổi thông tin chính thức chủ yếu giữa kiểm toán viên với người sử dụng BCTC và BCKT. Để đảm bảo tính dễ hiểu, BCKT phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng theo đúng mẫu quy định, nhất quán cả về tiêu đề và thứ tự các mục, nội dung. Các thông tin trong BCKT phải bao gồm: đối tượng của cuộc kiểm toán, thành phần của BCTC được kiểm toán, tóm tắt công việc của KTV, tên CMKiT áp dụng (quốc tế hoặc Việt Nam), trách nhiệm của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán và của KTV, cơ sở và ý kiến của KTV về BCTC được kiểm toán theo CMKiT Quốc tế hiện hành… Ngoài ra, KTV còn phải báo cáo theo các yêu cầu khác của pháp luật. Mẫu BCKT này đã chứng tỏ nhiều ưu điểm và được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia, qua nhiều thập kỷ. Do mẫu BCKT hiện hành của Việt Nam còn chưa đầy đủ các yêu cầu đó nên dự thảo CMKiT số 700 đang trình Bộ Tài chính đã tiếp thu mẫu BCKT hiện hành của quốc tế.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và thay đổi không ngừng của xã hội, sự biến động lớn của nền kinh tế, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các giao dịch kinh tế phức tạp, dưới nhiều hình thức nên các yêu cầu về lập và trình bày BCTC cũng ngày càng được đặt ra nhiều hơn, chi tiết hơn và chặt chẽ hơn. Đồng thời, người sử dụng BCTC và BCKT cũng mong muốn biết được thông tin cụ thể và đầy đủ hơn về cuộc kiểm toán, muốn KTV diễn giải và đưa ra ý kiến về nhiều khía cạnh trong thông tin tài chính của đơn vị, thay vì chỉ giới hạn là xác nhận sự “trung thực và hợp lý” của BCTC được kiểm toán. Do đó, IAASB cho rằng cần thiết phải tiếp tục thay đổi mẫu BCKT của KTV độc lập. Chất lượng của một cuộc kiểm toán chỉ được khẳng định và kiểm chứng bằng một sản phẩm đầu ra duy nhất là BCKT với đầy đủ thông tin cần thiết đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. BCKT phải thể hiện được những công việc mà KTV đã làm và làm nổi bật những vấn đề chính mà KTV đã phát hiện và kết luận qua cuộc kiểm toán đó.
Vậy các nội dung định hướng thay đổi trong CMKiT quốc tế này là gì, thưa ông? 
5 nội dung thay đổi quan trọng trong mẫu BCKT mà IAASB tin rằng các thay đổi này là cần thiết và có thể áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, bao gồm: Một là, Bổ sung thêm đoạn với tiêu đề “Bình luận/Nhận xét của KTV” vào BCKT để nhấn mạnh các vấn đề mà theo xét đoán của KTV là quan trọng nhất để giúp người sử dụng hiểu rõ về BCTC được kiểm toán, hoặc về cuộc kiểm toán. Đó phải là yêu cầu bắt buộc đối với các BCKT đơn vị có liên quan đến lợi ích công chúng, và có thể vận dụng để áp dụng trong BCKT cho các đơn vị khác. Hai là, KTV phải đưa ra “Kết luận về giả định hoạt động liên tục” mà Ban Giám đốc đơn vị sử dụng để lập BCTC, đồng thời, KTV phải nêu rõ liệu KTV có (hoặc không) nhận thấyđối với bất kỳ yếu tố không chắc chắn trọng yếu nào liên quan đến giả định hoạt động liên tục. Ba là, KTV phải trình bày về “Bất kỳ điểm không nhất quán trọng yếu nào” giữa BCTC được kiểm toán và các thông tin khác mà KTV nhận thấy khi đọc các thông tin khác, đồng thời, xác định rõ thông tin khác mà KTV đã đọc. Bốn là, đoạn “Ý kiến kiểm toán” và các thông tin đặc biệt của đơn vị được kiểm toán phải được trình bày ở vị trí nổi bật trong BCKT (thậm chí có thể ở ngay phần mở đầu của BCKT). Năm là, đưa vào BCKT “Các thông tin khác” về việc thực hiện cuộc kiểm toán và làm rõ trách nhiệm của KTV, Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán.
Với vai trò là đơn vị được giao nghiên cứu, soạn thảo CMKiT Việt Nam, trước tình hình trên, VACPA đã và đang xúc tiến những hoạt động gì để tham gia ý kiến theo đề nghị của IFAC, đồng thời để bổ sung, hoàn thiện dự thảo CMKiT Việt Nam (cụ thể là CMKiT số 700) trước khi Bộ Tài chính thông qua và ban hành? 
Việc sửa đổi CMKiT quốc tế 700 thực sự là cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay đối với nhiều nước trên thế giới, vì thế chắc chắn IAASB sẽ hoàn thành công việc này theo đúng kế hoạch đã định. Điều này cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho Việt Nam, khi mà CMKiT Việt Nam số 700 dự kiến được ban hành lại đầu năm 2013 đã thể hiện “độ trễ” so với CMKiT quốc tế số 700 sửa đổi (sẽ được ban hành lại 2014). Tuy nhiên do CMKiT Việt Nam là văn bản pháp luật do Bộ Tài chính ban hành phải theo một quy trình gồm nhiều bước (dự thảo CMKiT 700 cũng đã trải qua tất cả các bước trước khi ban hành) nên không thể sửa đổi lại; mặt khác CMKiT 700 mới của IFAC dự kiến tháng 6/2014 mới ban hành nên không thể sử dụng để làm cơ sở sửa lại dự thảo CMKiT 700 của Việt Nam ngay được. Các yêu cầu (5 điểm) dự kiến bổ sung CMKiT 700 của quốc tế cũng có cao so với điều kiện của Việt Nam nên cũng chưa thể áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán BCTC. Chúng tôi dự kiến khoảng cuối năm 2014 khi IAASB đã công bố chính thức CMKiT 700 mới, VACPA sẽ trình Bộ Tài chính tài liệu hướng dẫn một số điểm cần áp dụng cho các cuộc kiểm toán BCTC công ty có lợi ích công chúng như công ty niêm yết, đại chúng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, ngân hàng và các tổ chức tài chính…Tuy nhiên qua sự kiện này, chúng tôi nhận thấy việc cập nhật và ban hành CMKiT nói riêng và chuẩn mực kế toán của Việt Nam nói chung cần phải có giải pháp nhanh, nhạy hơn hiện nay.
Xin trân trọng cảm ơn ông!./.
(Theo VACPA)

Monday, 18 March 2013

Kinh nghiệm lần đầu tiên áp dụng Chuẩn mực lập Báo cáo tài chính quốc tế (IFRSs)


BBT: Nhân dịp Bộ Tài chính tổ chức đào tạo về IFRS (đợt 2 từ ngày 11 đến ngày 13/03/2013 - xem tin ở mục Đào tạo) - BBT đăng bài này để bạn đọc tham khảo.
Áp dụng chuẩn mực Lập Báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế (International Financial Reporting Standards - IFRS) là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng thống nhất  các nguyên tắc kế toán trong công tác lập BCTC.
TS. Trần Mạnh Dũng (CPA) – Đại học KTQD
Ths. Đào Mạnh Huy - Đại học Lao động Xã hội
Th.s. Nguyễn Thị Thanh Diệp – Đại học KTQD

IFRS được biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập BCTC. Phương thức lập BCTC được mô tả là tập trung vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tin liên quan đến thị trường vốn. Cơ quan nhà nước có thể sử dụng BCTC như công cụ điều hành các hoạt động kinh tế. Tuy nhiện, BCTC được lập chủ yếu phục vụ cho mục đích của nhà đầu tư chứ không phải cho Chính phủ.
Năm 2005 đánh dấu việc ban hành đầy đủ IFRS cho thị trường vốn trên thế giới. Căn cứ vào IFRS, các quốc gia trên thế giới đã ban hành Chuẩn mực lập BCTC phù hợp với từng quốc gia và nhiều quốc gia đã chính thức áp dụng từ 1/1/2005 như Úc, Hồng Kông, các nước Châu Âu …
Chủ đề về áp dụng IFRS tại các nước trên thế giới có tầm quan trọng đặc biệt khi mà các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán lập BCTC hợp nhất theo IFRS từ năm 2005, năm đầu tiên áp dụng IFRS. Việc áp dụng IFRS của các nước trên thế giới được coi như một cuộc cách mạng trong công tác kế toán và lập BCTC. Tuy nhiên trong năm đầu tiên áp dụng IFRS, nhiều tồn tại, vướng mắc đã bộc lộ trong quá trình áp dụng Hệ thống chuẩn mực này.
Từ thực tiễn trên, nhiều nghiên cứu khác nhau về tính khả thi trong việc áp dụng IFRS trong năm đầu tiên áp dụng. Một số kinh nghiệm được đưa ra liên quan đến việc áp dụng IFRS của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Châu Âu, Úc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông, New Zealand bao gồm:
1. Tính phức tạp của chuẩn mực
Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán đánh giá quá thấp tính phức tạp, sự ảnh hưởng và chi phí khi áp dụng IFRS. Mặc dù, hầu hết các công ty đã bắt đầu quá trình chuyển đổi trước đó, nhưng trên thực tế khi lập BCTC theo IFRS đã mất nhiều thời gian hơn dự định ban đầu. Có tình trạng đó là khi áp dụng IFRS hàng loạt vấn đề đặt ra và cần phải có sự xét đoán mang tính chủ quan để quyết định đến trị số của các chỉ tiêu trên BCTC.
Trên thực tế, có nhiều vấn đề được coi là rất khó khăn trong việc áp dụng như chuẩn mực kế toán về các công cụ tài chính bao gồm cả các nghiệp vụ phái sinh và kế toán phòng ngừa rủi ro; kế toán theo phương pháp mua, bao gồm cả sự nhận dạng và đo lường tài sản vô hình tách biệt, kiểm tra giảm giá trị của tài sản … Khi kiểm toán viên nhận được BCTC dự thảo mà doanh nghiệp cho là tuân thủ IFRS thì có tới hàng trăm sai sót với mức độ khác nhau cần phải được sửa chữa trước khi phát hành BCTC chính thức để phục vụ cho hoạt động kiểm toán của các công ty kiểm toán.
2. Sự trợ giúp của kiểm toán viên
Để có được BCTC tuân thủ theo IFRS thì cần nhiều đến sự trợ giúp của các kiểm toán viên. Sở dĩ yêu cầu này được đặt ra là do các điều khoản trong IFRS rất phức tạp, trong khi đó các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, thiếu sự tinh thông đối với IFRS. Vì lý do này, sự trợ giúp của kiểm toán viên là rất quan trọng. Việc trợ giúp này liên quan đến các hợp đồng tư vấn về công tác kế toán và lập BCTC cho các doanh nghiệp. Tương tự như vậy là sự tư vấn và các bút toán điều chỉnh được kiểm toán viên đưa ra trong quá trình kiểm toán. Qua đó, nếu BCTC được điều chỉnh theo ý kiến của kiểm toán viên sẽ phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền và tất nhiên BCTC tuân thủ theo IFRS.
3. Tính có thể so sánh
Việc áp dụng IFRS dẫn đến tăng khả năng so sánh của các chỉ tiêu trên BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, thực tế rất đa dạng và vẫn còn tồn tại trên BCTC hợp nhất năm 2005, do có quá nhiều giả thiết mang tính chủ quan tồn tại trong các chuẩn mực của IFRS. Vì vậy BCTC được lập với nhiều giả định khác nhau tùy theo từng công ty, việc đánh giá xem tính hợp lý của các giả định cũng như tính tuân thủ theo IFRS là công việc không hoàn toàn đơn giản.
Tính có thể so sánh của các thông tin trên BCTC gặp trở ngại lớn do thiếu sự thống nhất về một số nội dung trong biểu mẫu BCTC. Ví dụ, một số công ty phân loại tài sản theo ngắn hạn và dài hạn trong khi một số khác lại không phân loại như vậy; Một số công ty sắp xếp tiền và các khoản tương đương tiền ở đầu bảng cân đối kế toán trong khi một số công ty khác lại sắp xếp tiền và các khoản tương đương tiền ở cuối bảng cân đối kế toán. Trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng vậy, sự sắp xếp trình bày không giống nhau sẽ làm khó khăn hơn trong việc so sánh các thông tin.
4. Phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng
Sự khác biệt quan trọng giữa các công ty mà không thể nhận thấy được từ BCTC sẽ nảy sinh như là kết quả của phương pháp giá trị hợp lý và giá trị sử dụng. Một trong những sự chuyển biến sâu sắc nhất trong kế toán khi áp dụng IFRS là sự chuyển hướng nhiều hơn đến kế toán giá trị hợp lý bao gồm phương pháp giảm giá trị của tài sản, lợi thế thương mại và tài sản cố định vô hình. Điều này liên quan đến ước tính chủ quan luồng tiền trong tương lai. Nhiều ước tính được thực hiện dựa trên các giả định không rõ ràng, đôi khi không hợp lý sẽ dẫn đến nhiều kết quả khác nhau và thậm chí có sự chênh lệch lớn giữa các kết quả đó.
5. Tính rõ ràng và ổn định
IFRS được cho là quá phức tạp, thậm chí phức tạp đối với cả kiểm toán viên và các chuyên gia về tài chính kế toán. Đối với hầu hết những người sử dụng BCTC, không đơn giản và dễ dàng để hiểu được thấu đáo các thông tin kế toán và chính sách kế toán trên BCTC.
IFRS cũng được cho là không rõ ràng và không ổn định. Điều này làm giảm sự tin tưởng của các nhà đầu tư vào thị trường vốn. Sự minh họa rõ nét nhất là trong giải thích của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế về IAS 27 “BCTC hợp nhất và riêng biệt” rằng yêu cầu hợp nhất khi có sự kiểm soát tồn tại. Tuy nhiên, không một công ty kiểm toán nào trong 4 công ty kiểm toán lớn (Big 4) đạt được kết luận đó. Dường như các tuyên bố đáng ngạc nhiên cũng tăng thêm tính không ổn định của IFRS. Hay như chuẩn mực các công cụ tài chính chưa thực sự rõ ràng và đôi khi còn khó hiểu vì sự đa dạng của công cụ tài chính tồn tại và đặc tính thay đổi của thị trường tài chính.
6. Giảm giá trị của lợi thế thương mại
Chuẩn mực yêu cầu ước tính giá trị có thể thu hồi của các đơn vị tạo tiền mà lợi thế thương mại phân bổ cho các đơn vị tạo tiền đó. Cũng theo quy định của Chuẩn mực, giá trị có thể thu hồi thường được xác định theo phương pháp giá trị sử dụng và nó được tính toán như là giá trị hiện tại của luồng tiền trong tương lai. Điều này hoàn toàn mang tính chủ quan, cho nên với các giả định khác nhau thì sẽ có nhiều kết quả khác nhau. Hoàn toàn không đơn giản để xác định kết quả nào tốt nhất vì thực chất không có thị trường cho lợi thế thương mại. Đối với các kiểm toán viên cũng vậy, không đơn giản để xác định sự liên quan giữa tính hợp lý của các giả định đến mô hình chiết khấu luồng tiền như tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ tăng trưởng, giá trị luồng tiền trong tương lai, thời kỳ dự đoán và giá trị còn lại. Chính vì vậy đánh giá tính hợp lý của các giả định là việc làm rất phức tạp.
7. Trình bày các thông tin trên Báo cáo tài chính
Việc trình bày các thông tin theo IFRS dựa trên nguyên tắc trọng yếu. Vấn đề khó khăn đối với việc trình bày là áp dụng khái niệm trọng yếu. Về lý thuyết, trọng yếu là khái niệm chỉ quy mô (mặt lượng) và tính hệ trọng (mặt chất) của các thông tin. Tuy nhiên, các trình bày không mang tính trọng yếu tràn ngập thông tin tài chính trên BCTC làm giảm chất lượng của BCTC. Nhưng khi xét mức trọng yếu đối với việc trình bày thì chủ yếu xét theo định tính chứ không mang tính định lượng. Do vậy càng rất khó xác định nếu không có hướng đi cụ thể. Trọng yếu của việc trình bày trong BCTC là những sai phạm trong trình bày có ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC. Tuy nhiên trên thực tế người lập BCTC lại biết quá ít về quá trình đưa ra quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC.
Tóm lại, thực hiện theo IFRS thực sự là một thách thức. Tất cả các bên liên quan, doanh nghiệp, kiểm toán viên và các nhà ban hành chính sách phải xác định đây là vấn đề thực sự quan trọng. Việc thực hiện theo IFRS được coi như một cuộc cách mạng trong công tác kế toán và lập BCTC. Trong thời kỳ đầu áp dụng IFRS, quả là rất khó khăn cho những người lập BCTC vì tính đa dạng, phức tạp và không hoàn toàn rõ ràng của IFRS. Tuy nhiên, nếu tuân thủ theo IFRS, khối lượng khổng lồ về thông tin tài chính kế toán sẽ được phản ánh trên BCTC, mọi khía cạnh trọng yếu về tính hình tài chính, kết quả kinh doanh, luồng tiền, chính sách kế toán và các giả định áp dụng sẽ được phản ánh đầy đủ. Người được lợi nhất chính là những người sử dụng BCTC khi đơn vị áp dụng theo IFRS; qua đó họ có đầy đủ các thông tin cần thiết để xem xét trong việc đưa ra quyết định kinh tế của mình. 
(Theo http://kiemtoan.com.vn)

Sunday, 22 April 2012

Hoàn thiện việc phân loại hành vi gian lận trong Chuẩn mực kiểm toán số 240

Hiện tại Bộ Tài chính đã ban hành 38 Chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) trong đó có chuẩn mực số 240 quy định về hành vi gian lận và các sai sót trong báo cáo tài chính (BCTC) theo quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001. Mục đích của chuẩn mực là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục này liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán trong việc xem xét gian lận và sai sót trong quá trình kiểm toán BCTC. Cho đến thời điểm này chuẩn mực số 240 đã có hiệu lực áp dụng gần tròn 10 năm và Bộ Tài chính đang chuẩn bị ban hành mới hệ thống CMKiT Việt Nam trong bối cảnh các CMKiT Quốc tế (ISA) liên tục thay đổi qua nhiều phiên bản 1999, 2004, 2009. Nội dung của bài viết đi vào một vài khía cạnh hoàn thiện của chuẩn mực đặc biệt trọng tâm đó là hoàn thiện việc phân loại hành vi gian lận trong kiểm toán BCTC.

Ths. Phan Thanh Hải

Khoa kế toán - ĐH Duy Tân

Khái quát chung về gian lận và gian lận trong kiểm toán BCTC

Gian lận là một khái niệm xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người, từ hình thức sơ khai là ăn cắp tài sản, nhằm thỏa mãn các nhu cầu cá nhân ban đầu cho đến tận ngày nay gian lận đã phát triển và tinh vi hơn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau tương ứng với sự phát triển của xã hội và nhận thức của con người.

Theo định nghĩa trong CMKiT số 240 gian lận là: "những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến BCTC".

Phân loại hành vi gian lận trong kiểm toán BCTC theo quan điểm của CMKiT quốc tế (ISA) và quan điển của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE).

Quan điểm về phân loại gian lân trong BCTC của ISA

Qua nghiên cứu nội dung của CMKiT quốc tế số 240 qua nhiều phiên bản năm 1999, 2004 và gần đây nhất là 2009 tác giả nhận thấy rằng: So với phiên bản ISA 240 năm 1999 chưa đi sâu vào việc phân loại hành vi gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC mà về cơ bản chỉ dừng lại ở việc định nghĩa và nêu ra các biểu hiện nhận dạng của hành vi này thì phiên bản ISA 240 năm 2004 và năm 2009 đã có những nội dung quy định rõ ràng hơn. Cụ thể:

- ISA 240 của hai phiên bản gần đây điều chi hành vi gian lận thành 2 loại đó là: Gian lận trên BCTC (Fraudulent financial reporting) và gian lận biển thủ tài sản (misappropriation of assets). Dự trên nội dung biểu hiện của hai loại gian lận này mà ISA cho rằng về cơ bản trên quan điểm của kiểm toán viên thì gian lận nếu xét dưới góc độ chủ thể thực hiện được phân thành 2 loại đó là: gian lận của nhà quản lý (management fraud) và gian lận của nhân viên (employee fraud).

- Theo ISA 240 thì gian lận liên quan đến BCTC là các sai phạm trọng yếu được thực hiện một cách cố ý bao gồm cả những thiếu sót về số lượng, giá trị các khoản mục hoặc thông tin trên BCTC để đánh lừa người sử dụng. Hành vi này được gây ra bở các nỗ lực của nhà quản lý đơn vị nhằm tạo ra một khoản lợi ích cho chính đơn vị và thông thường được biểu hiện khái quát qua việc:

+ Sửa đổi, giả mạo chứng từ hoặc thay đổi nội dung của các nghiệp vụ hay tài liệu kế toán làm ảnh hưởng liên quan đến BCTC công bố.

+ Cố ý trình bày sai hoặc gây ra sai sót có chủ ý đối với các sự kiện, các giao dịch và các thông tin quan trọng trên BCTC.

+ Cố ý áp dụng sai các nguyên tắc kế toán liên quan đến số lượng, phân loại, nội dung trình bày và công bố các chỉ tiêu, khoản mục trên BCTC.

- Theo ISA 240 thì gian lận liên quan đến biển thủ tài sản là các sai phạm trọng yếu được thực hiện bởi các hành vi trộm cắp tài sản và thường được thực hiện bởi các nhân viên. Việc chiếm đoạt tài sản này thường được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như là:

+ Chiếm đoạt số tiền thu được của khách hàng một cách trực tiếp hoặc thong qua các bút toán xóa sổ, bút toán chuyển tiền sang các tài khoản cá nhân.

+ Ăn cắp tài sản vật chất hoặc tài sản chí tuệ ví dụ như ăn cắp hàng tồn kho để sử dụng cho mục đích cá nhân hoặc để bán. Thông đồng với đối thủ cạnh tranh bằng cách tiết lộ dữ liệu, công nghệ để đổi lấy một khoản thanh toán.

+ Sử dụng một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó với mục đích cá nhân nhưng lại bắt đơn vị phải thanh toán thay cho mình.

+ Sử dụng tài sản của đơn vị cho mục đích cá nhân ví dụ như dùng tài sản để thế chấp các khoản vay của cá nhân mình hoặc một khoản nợ cho bên thứ ba.

Chiếm đoạt tài sản là hành vi thường đi kèm với việc tạo ra các hồ sơ, tài liệu gian dối hoặc cố ý nhầm lẫn để che giấu một thực tế là tài sản đã mất tích hoặc đã được cam kết mà không có sự cho phép thích hợp.

Quan điểm về phân loại gian lận trong kiểm toán BCTC của ACFE

ACFE (Association of Certified Fraud Examiners) là tổ chức chuyên nghiên cứu về gian lận của Mỹ được thành lập năm 1988 với tên gọi Hiệp hội các nhà điều tra gian lận nói cung và gian lận trong BCTC được thể hiện qua một số nội dung như sau:

* Gian lận về cơ bản được chia làm 3 loại đó là:

- Gian lận liên quan đến tài sản: Đây là loại gian lận liên quan đến hành vi đánh cắp tài sản thường do nhân viên viên hay người quản lý thực hiện, điển hình là biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, gian lận về tiền lương.

- Tham ô: Đây là loại gian lận do người quản lý, chủ sở hữu công ty thực hiện nhằm mục đích lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ để làm trái các nghĩa vụ đã được họ cam kết với đơn vị qua đó làm lợi cho bản thân hoặc bên thứ ba.

- Gian lận trên BCTC: Đây là loại gian lận mà các thông tin trên BCTC bị bóp mép, phản ánh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lường gạt người sử dụng thông tin. Vid dụ như khai khống doanh thu, giảm nợ phải trả hay chi phí.

* Gian lận trên BCTC thường được thực hiện qua một số các thủ thuật biểu hiện cụ thể đó là:

- Che giấu nợ phải trả và chi phí bằng cách không ghi nhận, không lập dự phòng các khoản nợ phải trả, vốn hóa các chi phí không được phép vốn hóa.

- Ghi nhận doanh thu không có thật bằng cách tạo ra các khách hàng ma, lập chứng từ giả mạo nhưng hàng hóa không được giao và đầu niên độ sau sẽ lập bút toán hàng bán bị trả lại, khai khóng doanh thu bằng việc ghi tăng các yếu tố trên hóa đơn như số lượng, đơn giá hoặc ghi nhận doanh thu khi chưa chuyển giao quyền sở hữu và rủi ro...

- Định giá sai tài sản thông qua việc không ghi giảm giá trị hàng tồn kho đã hư hỏng, không lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi, giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn, định giá sai các tài sản qua hợp nhất kinh doanh...

- Ghi sai niên độ bằng việc doanh thu hoặc chi phí được cố ý ghi nhận không đúng kỳ.

- Không khai báo đầy đủ thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng BCTC như các khoản nợ tiềm tàng, các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ, thông tin về chính sách kế toán...

Nội dung của CMKiT số 240 ở Việt Nam (VSA 240) và những vẫn đề cần hoàn thiện

VSA số 240 là một trong sáu CMKiT được Bộ Tài chính ban hành theo quyết định số 143/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001 đợt 3 bao gồm 3 phần: phần quy định chung, phần nội dung chuẩn mực và phần phụ lục. Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy có một số điểm như sau:

* Nội dung của VSA 240 hiện tại ra đời năm 2001 dựa trên phiên bản ISA năm 1999 chính vì vậy chưa bắt kịp với các nội dung mới được cập nhật và sửa đổi theo ISA năm 2004 và gần đây nhất là năm 2009. Chính vì vậy, thời gian tới theo quan điểm của tác giả, bộ phận chuyên môn có liên quan của Bộ Tài chính và VACPA cần phải có định hướng nghiên cứu hoàn thiện chuẩn mực này nói riêng và các chuẩn mực còn lại khác nói chung song song với dự án ban hành các thông tư hướng dẫn cho một số CMKiT khó hiện đang được triển khai trong khuôn khổ dự án "Tăng cường năng lực Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam". Cụ thể nội dung của chuẩn mực cần quy định một số nội dung cụ thể theo hướng như sau:

Phần 1 - Các quy định chung

Phần này nên trình bày về mục đích, đối tượng và phạm vi áp dụng của chuẩn mực; định nghĩa các thuật ngữ. Nội dung phân loại và các biểu hiện của hành vi gian lận và sai sót nên chuyển sang phần phụ lục của chuẩn mực.

Phần 2 - Nội dung của chuẩn mực

Trong phần này nên trình bày bổ sung thêm một số nội dung đó là:

- Trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị được kiểm toán đối với gian lận và sai sót.

- Các hạn chế tiềm tang của kiểm toán đối với việc phát hiện gian lận và sai sót.

- Trách nhiệm của KTV, Doanh nghiệp kiểm toán trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu do gian lận và sai sót gây ra.

- Thái độ hoài nghi nghề nghiệp đối với việc phát hiện gian lận và sai sót.

- Thảo luận giữa các KTV, các nhóm kiểm toán đối với gian lận và sai sót phát hiện được.

- Xác định và đánh giá các rủi ro trong việc phát triển các sai phạm trọng yếu do gian lận và sai sót gây ra.

- Phát hiện và đánh giá các bằng chứng kiểm toán do gian lận và sai sót gây ra.

- Trách nhiệm của KTV trong việc thông báo với người đứng đầu đơn vị được kiểm toán về gian lận và sai sót.

- Trách nhiệm của KTV trong việc thông báo cho người sử dụng báo cáo kiểm toán.

- Trách nhiệm của KTV trong việc thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan.

- Trách nhiệm của KTV trong trường hợp rút khỏi hợp đồng kiểm toán.

Phần 3 - Phụ lục

Trong nội dung của phần phụ lục thì ngoài phụ lục hiện tại trình bày về "Những tình huống và sự kiện làm tăng rủi ro do gian lận và sai sót" thì theo quan điểm của tác giả nên bổ sung một phụ lục hướng dẫn rõ về việc phân loại hành vi gian lận và sai sót với các biểu hiện cụ thể.

Hiện tại VSA 240 có tên gọi là "Gian lận và sai sót" theo quan điểm của riêng tác giả thì tên gọi này chưa phù hợp trong việc nêu bật được tầm quan trọng và mức độ liên quan đến trách nhiệm của KTV trong quá trình thực hiện kiểm toán BCTC. Bởi lẽ chúng ta dễ dàng nhận thấy, nội dung của VSA 240 cũng như ISA 240 ngoài các phần giới thiệu chung, định nghĩa về gian lận sai sót thì chủ yếu đi vào trình bày các nội dung quy định về trách nhiệm của KTV đối với việc phát hiện hành vi gian lận. Chính vì vậy, để đảm bảo chuẩn mực VSA 240 gắn với vai trò và trách nhiệm của KTV hơn theo tác giả nên đổi tên chuẩn mực này thành "trách nhiệm của KTV đối với gian lận và sai sót".

Về việc phân loại hình vi gian lận trong chuẩn mực VSA 240 theo tác giả nên sử dụng việc phân loại hành vi gian lận dựa trên cơ sở chủ thể thực hiện hành vi đó để bám sát khái niệm về gian lận đưa ra ở phần đầu chuẩn mực. Vì vậy, nên phân loại gian lận thành 3 loại: Gian lận liên quan đến nhà quản lý, chủ sở hữu đơn vị được kiểm toán (chủ yếu là gian lận trên BCTC, tham ô, tham nhũng); Gian lận liên quan đến nhân viên (chủ yếu là biển thủ tài sản); Gian lận liên quan đến bên thứ ba (chủ yếu là biển thủ tài sản).

Việc phân loại này nếu được quy định một cách cụ thể trong phần phụ lục của VSA 240 thì sẽ là căn cứ quan trọng để xác định một cách cụ thể hơn trách nhiệm của những người có liên quan trong đơn vị được kiểm toán; trách nhiệm của KTV, kiểm toán đối với việc ngăn ngừa, phát hiện các hành vi gian lận xảy ra. Đồng thời sẽ là căn cứ để xác định khung chế tài xử phạt cụ thể hơn trong thời gian đến đối với các cá nhân, đơn vị được kiểm toán vi phạm và kể cả các doanh nghiệp kiểm toán, KTV.

Trong định phướng hội nhập với kinh tế quốc tế, tất cả các dịch vụ nói chung và dịch vụ kiểm toán độc lập nói riêng cần thiết phải thực hiện quá trình tự hoàn thiện để tận dụng triệt các cơ hội, vượt qua các thách thức đặt ra. Điều cần thiết và quan trọng nhất trước hết phải làm đó là tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán độc lập, điển hình là hoàn thiện nội dung của các CMKiT trong đó có CMKiT số 420 là nội dung cực kỳ quan trọng góp phần nâng cao hơn nữa vị thế và uy tín của ngành nghề trước kỳ vọng và niềm tin của xã hội./.

(Theo Tạp chí kế toán)

Wednesday, 22 September 2010

Chuẩn mực 580: Giải trình của Giám đốc (Đợt 2)

GIẢI TRÌNH CỦA GIÁM ĐỐC (ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng bộ Tài chính).

CHUẨN MỰC SỐ 580

GIẢI TRÌNH CỦA GIÁM ĐỐC

(ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng bộ Tài chính).

QUY ĐỊNH CHUNG

1. Mực đích của Chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản trong việc thu thập và sử dụng các giải trình của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán như những bằng chứng kiểm toán, các thủ tục được áp dụng để đánh giá và lưu trữ các giải trình của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị, các biện pháp xử lý khi Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị từ chôn cung cấp các giải trình thích hợp trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính.

2. Kiểm toán viên phải thu thập được các giải trình của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán.

3. Chuẩn mực này áp dụng cho kiểm toán báo cáo tài chính và cũng được vận dụng cho kiểm toán thông tin tài chính khác và các dịch vụ liên quan của công ty kiểm toán.

Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải tuân thủ các quy định của Chuẩn mực này trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính.

Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về Chuẩn mực này để phôi hợp công việc với kiểm toán viên và công ty kiểm toán cũng như xử lý các môl quan hệ trong kiểm toán.

Các thuật ngữ trong Chuẩn mực này được hiểu như sau:

4. Giám đốc (hoặc người đứng đầu): Là người đại diện theo pháp luật cao nhất của doanh nghiệp, tổ chức như: Giám đốc, Tổng Giám đốc, chủ sở hữu, thủ trưởng đơn vị. Trong một số trường hợp người đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng quản lý (dưới đây gọi chung là Giám đốc).

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Sự thừa nhận của Giám đốc đơn vị dược kiểm toán về trách nhiệm đối với báo cáo tài chính.

5. Kiểm toán viên phải thu thập bằng chứng về việc Giám đốc đơn vị được kiểm toán thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) và đã phê duyệt báo cáo tài chính. Kiểm toán viên thu thập bằng chứng nói trên trong các biên bản họp Hội đồng quản trị (hoặc Ban Giám đốc) liên quan đến vấn đề này, hoặc bằng cách yêu cầu Giám đốc cung cấp ''Bản giải trình', bản ''Báo cáo của Giám đốc'' hoặc ''Báo cáo tài chính' đã được Giám đốc ký duyệt.

Sử dụng các giải trình của Giám đốc như là bằng chứng kiểm toán.

6. Trường hợp không có đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, kiểm toán viên phải thu thập các giải trình bằng văn bản của Giám đốc đơn vị được kiểm toán về những vấn đề xét thấy có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Để hạn chế sự hiểu lầm giữa kiểm toán viên và Giám đốc đơn vị, các giải trình bằng lời phải được Giám đốc xác nhận lại bằng văn bản. Phụ lục số l đưa ra ví dụ về những vấn đề được thể hiện trong bản giải trình của Giám đốc hoặc trong văn bản của kiểm toán viên yêu cầu Giám đốc xác nhận.

7. Các vấn đề yêu cầu Giám đốc giải trình bằng văn bản được giới hạn trong những vấn đề riêng lẻ hoặc tổng hợp có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Đối với những vấn để xét thấy cần thiết, kiểm toán viên phải thông báo với Giám đốc biết rõ ý kiến của mình về tính trọng yếu của vấn đề cần phải giải trình.

8. Trong quá trình kiểm toán, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán gửi các bản giải trình tới kiểm toán viên và công ty kiểm toán một cách tự nguyện hoặc do yêu cầu cụ thể của kiểm toán viên. Khi những giải trình này có liên quan đến những vấn đề có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải làm các công việc sau:

- Thu thập bằng chứng kiểm toán từ các thông tin ở trong đơn vị hay ngoài đơn vị để xác minh các giải trình của Giám đốc;

- Đánh giá sự hợp lý và nhất quán giữa bản giải trình của Giám đốc với các bằng chứng kiểm toán khác đã thu thập được;

- Xác định mức độ hiểu biết các vấn đề đã được giải trình của người lập giải trình.

9. Giải trình của Giám đốc không thể thay thế các bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên thu thập được (Ví dụ: Giải trình của Giám đốc về nguyên giá một tài sản cố định không thể thay thế cho bằng chứng kiểm toán về nguyên giá tài sản cố định đó như hóa đơn của người bán hay báo cáo quyết toán dự án hoàn thành được duyệt).

Việc kiểm toán viên không thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về một vấn đề ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, trong khi có thể thu thập được các bằng chứng đó sẽ dẫn đến sự giới hạn về phạm vi kiểm toán mặc dù vấn đề đó đã được Giám đốc giải trình.

10. Trong một số trường hợp, giải trình của Giám đốc là bằng chứng kiểm toán duy nhất thu thập được (Ví dụ: Kiểm toán viên không phải thu thập các bằng chứng khác để chứng minh cho chủ trương của Giám đốc thực hiện một khoản đầu tư dài hạn nào đó...).

11. Kiểm toán viên phải tìm hiểu nguyên nhân khi giải trình của Giám đốc mâu thuẫn với bằng chứng kiểm toán khác và khi cần thiết thì phải xác minh lại mức độ tin.cậy của bằng chứng kiểm toán và các giải trình của Giám đốc.

Lưu vào hồ sơ kiểm toán các giải trình của Giám đốc.

12. Kiểm toán viên phải lưu vào hồ sơ kiểm toán các giải trình của Giám đốc dưới hình thức tóm tắt các lần trao đổi bằng lời hoặc các giải trình bằng văn bản để làm bằng chứng kiểm toán.

13. Các giải trình bằng vặn bản được đánh giá là các bằng chứng kiểm toán có giá trị hơn các giải trình bằng lời nói. Các giải trình bằng văn bản được thể hiện dưới các hình thức:

- Bản giải trình của Giám đốc;

- Thư của kiểm toán viên liệt kê ra tất cả những hiểu biết của minh về các giải trình của Giám đốc và được Giám đốc xác nhận là đúng;

- Biên bản họp Hội đồng quản trị hoặc báo cáo tài chính đã được Giám đốc ký duyệt.

Các yếu tố cơ bản của một bản giải trình.

14. Khi yêu cầu Giám đốc đơn vị lập bản giải trình, kiểm toán viên phải đề nghị văn bản đó được gửi trực tiếp cho mình với nội dung gồm:

Các thông tin phải giải trình, ngày tháng, họ tên, chữ ký của người lập hoặc xác nhận vào bản giải trình.

i5. Thông thường, bản giải trình của Giám đốc được ghi ngày tháng cùng với ngày tháng ghi trên báo cáo kiểm toán. Một số trường hợp yêu cầu lập bản giải trình ngay trong quá trình kiểm toán hoặc sau ngày ghi trên báo cáo tài chính nhưng phải trước ngày ghi trên báo cáo kiểm toán.

Trường hợp cá biệt, bản giải trình được lập và công bố sau ngày phát hành báo cáo kiểm toán (Ví dụ: Ngày phát hành cổ phiếu...).

16. Bản giải trình của Giám đốc thường do Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị ký. Trong một số trường hợp, kiểm toán viên được phép nhận bản giải trình từ các thành viên khác được Giám đốc ủy quyền. (VI dụ: Kiểm toán viên muốn thu thập bản xác nhận về việc cung cấp đầy đủ toàn bộ biên bản họp đại hội cổ đông, biên bản họp Ban Giám đốc hoặc Hội đồng quản trị từ những người có trách nhiệm giữ các biên bản này...).

Các biện pháp xử lý nếu Giám đốc từ chối cung cấp giải trình.

17. Nếu Giám đốc từ chối cung cấp giải trình mà kiểm toán viên yêu cầu sẽ làm hạn chế phạm vi kiểm toán thì kiểm toán viên phải đưa ra ''ý kiến chấp nhận từng phần'' hoặc ''ý kiến từ chối''. Trong trường hợp này, kiểm toán viên phải đánh giá lại độ tin cậy của tất cả các giải trình khác của Giám đốc trong quá trình kiểm toán và xem xét mức độ ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính./.

Phụ lục số 1

VÍ DỤ VỀ BẢN GIẢI TRÌNH CỦA GIÁM ĐỐC

Công ty ABC

(Địa chỉ, điện thoại, Ngày ... tháng .... năm .... Fax, ...)

Kính gửi: Ông/Bà ...................

Kiểm toán viên Công ty Kiểm toán ........

Bản giải trình này được lập ra trong phạm vi công tác kiểm toán của Ông (Bà) cho Báo cáo tài chính của công ty ABC, năm tài chính kết thúc ngày 31/12/X.

Chúng tôi chịu trách nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý các báo cáo tài chính của đơn vị phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận tại công văn số ngày .... tháng .... năm ....của ....).

Trong phạm vi trách nhiệm và sự hiểu biết của mình, chúng tôi xác nhận các giải trình sau đây:

- Chúng tôi khẳng định là báo cáo tài chính đã được lập, trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu và theo đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp thuận) và các quy định có liên quan.

- Chúng tôi đã chuyển cho Ông (Bà) xem xét tất cả sổ sách kế toán, các tài liệu, chứng từ liên quan và tất cả các biên bản họp Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị (gồm Biên bản họp ngày ... tháng ... năm... và ngày... tháng ... năm...);

- Chúng tôi khẳng định là đã cung cấp toàn bộ các thông tin về các bên có liên quan;

- Công ty chúng tôi đã tuân thủ tất cả các điều khoản quan trọng của các hợp đồng có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Không có bất kỳ hành vi không tuân thủ nào liên quan đến các yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền, có thể có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính;

- Các yếu tố sau đây đã được ghi nhận một cách đúng đắn và trong trường hợp cần thiết các thông tin thích hợp đã được nêu ra trong phần thuyết minh báo cáo tài chính:

a) Số dư và nghiệp vụ được thực hiện với các bên có liên quan;

b) Thua lỗ từ các hợp đồng mua và bán;

c) Thỏa thuận và khả năng mua lại các tài sản đã được chuyển nhượng trước đây;

d) Các tài sản được đem đi thế chấp.

- Chúng tôi không có bất kỳ một kể hoạch hay dự tính nào có thể làin sai lệch đáng kể số liệu kế toán hoác cách phân loại tài sản và khoản nợ đã được phản ánh trong báo cáo tài chính;

- Chúng tôi không có bất kỳ một kế hoạch nào nhằm ngừng sản xuất một loại sản phẩm đang được sản xuất, cũng không có một kế hoạch hay dự tính nào có thể dẫn đến tình trạng hàng tồn kho, ứ đọng hoặc lạc hậu; và không có bất kỳ một khoản hàng tồn kho nào được hạch toán với giá trị cao hơn giá trị thực hiện thuần;

- Công ty là chủ sở hữu tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ một tài sản nào đang được cầm cố, thế chấp hoặc bị cầm giữ, ngoại trừ những tài sản được nêu trong phần thuyết minh X của báo cáo tài chính;

- Tất cả các khoản nợ, cam kết vay và các khoản bảo lãnh của công ty với bên thứ ba đã được công ty hạch toán hoặc giải trình trong phần thuyết minh X;

- Hiện tại Công ty không có bất kỳ sự kiện nào phát sinh sau ngày kết thúc niên độ kế toán có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính hoặc phải giải trình trong phần thuyết minh;

- Vụ tranh chấp với công ty đã được giải quyết với khoản tiền là XXX VNĐ, và đã được lập dự phòng trong báo cáo tài chính. Không có khiếu nại trong bất kỳ một vụ tranh chấp nào đang bị khởi tố hoặc hiện nay có thể dự đoán được;

- Chúng tôi đã hạch toán hoặc đã thuyết minh đầy đủ trong báo cáo tài chính tất cả các kế hoạch về việc mua lại các cổ phiếu của chính công ty, các nguồn vốn được dự trữ cho kế hoạch này, các khoản đảng bảo cũng như việc chuyển đổi và các yêu cầu có liên quan khách

Giám đốc (hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị)

(Chữ ký, Họ và tên, đóng dấu)

Chuẩn mực 580

Chuẩn mực 520: Quy trình phân tích (Đợt 2)

QUY TRÌNH PHÂN TÍCH (ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

CHUẨN MỰC SỐ 520

QUY TRÌNH PHÂN TÍCH

(ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

QUY ĐỊNH CHUNG

1. Mục đích của Chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đến quy trình (thủ tục) phân tích trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính.

2. Kiểm toán viên phải thực hiện quy trình phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể về cuộc kiểm toán.

Quy trình phân tích cũng được thực hiện ở các giai đoạn khác trong quá trình kiểm toán.

3. Chuẩn mực này áp dụng cho kiểm toán báo cáo tài chính và cũng được vận dụng cho kiểm toán thông tirl tài chính khác và các dịch vụ có liên quan của công ty kiểm toán.

Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải tuân thủ những quy định của Chuẩn mực này trong quá trình thực hiện kiểm toán và cung cấp dịch vụ liên quan.

Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) phải có những hiểu biết cần thiết về Chuẩn mực này để phối hợp với kiểm toán viên trong việc cung cấp các thông tin và tài liệu cần thiết liên quan đến cuộc kiểm toán.

Các thuật ngữ trong Chuẩn mực này được hiểu như sau:

4. Quy trình phân tích: Là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Nội dung và mục đích của quy trình phân tích.

5. Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin tài chính, như:

- So sánh thông tin tương ứng trong kỳ này với các kỳ trước;

- So sánh giữa thực tế với kế hoạch của đơn vị (Ví dụ: Kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng ...);

- So sánh giữa thực tế với ước tính của kiểm toán viên (Ví dụ: Chi phí khấu hao ước tính...);

- So sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị trong cùng ngành có cùng quy mô hoạt động, hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng ngành (Ví dụ: Tỷ suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp...).

6. Quy trình phân tích cũng bao gồm việc xem xét các mối quan hệ:

- Giữa các thông tin “tài chính với nhau (Ví dụ: Môn quan hệ giữa lãi gộp với doanh thu...);

- Giữa các thông tin tài chính với các thông tin phi tài chính (Ví dụ: Mối quan hệ giữa chi phí nhân công với số lượng nhân viên...).

7. Trong quá trình thực hiện quy trình phân tích, kiểm toán viên được phép sử dụng nhiều phương pháp khác nhau từ việc so sánh đơn giản đến những phân tích phức tạp đòi hỏi phải sử dụng các kỹ thuật thống kê tiên tiến. Quy trình phân tích cũng được áp dụng đối với báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo tài chính của đơn vị thành viên hoặc từng thông tin riêng lẻ của các báo cáo tài chính.

Việc lựa chọn quy trình phân tích, phương pháp và mức độ áp dụng tùy thuộc vào sự xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên.

8. Quy trình phân tích được sử dụng cho các mục đích sau:

- Giúp kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác;

- Quy trình phân tích được thực hiện như là một thử nghiệm cơ bản khi việc sử dụng thủ tục này có hiệu quảhơnso với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính;

- Quy trình phân tích để kiểm tra toàn bộbáo cáo tài chính trong khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán.

Quy trình phân tích áp dụng khi lập kế hoạch kiểm toán.

9. Kiểm toán viên phải áp dụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro.

Quy trình phân tích giúp kiểm toán viên xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán khác.

10. Quy trình phân tích áp dụng trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán được dựa trên các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính (Ví dụ: Mối quan hệ giữa doanh thu với số lượng hàng bán hoặc số lượng sản phẩm sảrl xuất với công suất máy móc, thiết bị...).

Quy trình phân tích trong thử nghiệm cơ bản.

11. Trong quá trình kiểm toán, nhằm giảm bớt rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải thực hiện quy trình phân tích hoặc kiểm tra chi tiết hoặc kết hợp cả hai. Nhằm xác định thủ tục kiểm toán thích hợp cho một mục tiêu kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên phải xét đoán hiệu quả của từng thủ tục kiểm toán.

12. Kiểm toán viên phải thảo luận với Giám đốc, kế toán trưởng hoặc người đại diện của đơn vị được kiểm toán về khả năng cung cấp thông tin và độ tin cậy của các thông tin cần thiết cho việc áp dụng quy trình phân tích, kể cả kết quả phân tích mà đơn vị đã thực hiện. Kiểm toán viên được phép) sử dụng các dữ liệu phân tích của đơn vị nếu tin tưởng vào các dữ liệu này.

13. Khi áp dụng quy trình phân tích, kiểm toán viên phải xem xét các yếu tố sau:

- Mục tiêu của phân tích và đợ tin cậy của kết quả thu được;

- Đặc điểm của đơn vị và mức độ chi tiết hóa thông tin (Ví dụ: Quy trình phân tích áp dụng đối với thông tin tài chính của từng đơn vị thành viên sẽ hiệu quả hơn là chỉ áp dụng đối với thông tin tổng hợp của các đơn vị...);

- Khả năng sẵn có của các thông tin tài chính và phi tài chính;

- Độ tin cậy của các thông tin (Ví dụ: Sự đúng đắn của các kế hoạch hoặc dự toán...);

- Tính thích đáng của các thông tin (Ví dụ: Kế hoạch được thiết lập có tính khả thi hơn là kế hoạch chỉ là các mục đích phải đạt được);

- Nguồn gốc thông tin (Ví dụ: Thông tin từ bên ngoài thường có độ tin cậy cao hơn thông tin do đơn vị cung cấp...);

- Khả năng so sánh của thông tin (Ví dụ: Thông tin do đơn vị cung cấp có thể so sánh với thông tin của đơn vị khác trong cùng ngành...);

- Những hiểu biết có được từ cuộc kiểm toán các kỳ trước cùng với hiểu biết về tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ và các vấn đề nảy sinh đã dẫn đến các bút toán điều chỉnh trong những kỳ trước.

Quy trình phân tích áp dụng trong giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán:

14. Trong giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải áp dụng quy trình phân tích để có kết luận tổng quát về sự phù hợp trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính với những hiểu biết của mình về tình hình kinh doanh của đơn vị. Quy trình phân tích giúp kiểm toán viên khẳng định lại những kết luận có được trong suốt quá trình kiểm tra các tài khoản hoặc các khoản mục trên báo cáo tài chính. Trên cơ sở đó giúp kiểm toán viên đưa ra kết luận tổng quát về tính trung thực, hợp lý của toàn bộ báo cáo tài chính: Tuy nhiên, quy trình phân tích cũng chỉ ra những điểm yêu cầu kiểm toán viên phải thực hiện công việc kiểm toán bổ sung.

Mức dộ tin cậy của quy trình phân tích.

15. Quy trình phân tích được áp dụng cho các thông tin có thực và/có mối quan hệ lẫn nhau. Kết quả phân tích các mối liên hệ cung cấp cho kiểm toán viên các bằng chứng kiểm toán về sự đầy đủ, tính chính xác, tính hợp lý về các dữ liệu do hệ thống kế toán lập ra. Độ tin cậy của quy trình phân tích phụ thuộc vào sự đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro mà quy trình phân tích không phát hiện được (Ví dụ: Kết quả phân tích không thể hiện sự biến động hay chếnh lệch lớn nhưng trong thực tế vẫn có sai sót trọng yếu...).

16. Mức độ tin cậy vào kết quả của quy trình phân tích phụ thuộc vào các nhân tố sau:

- Tính trọng yếu của các tài khoản hoặc loại nghiệp vụ (Ví dụ: Hàng tồn kho là trọng yếu thì không chỉ dừng lại ở quy trình phân tích mà còn thực hiện một số thủ tục kiểm tra chi tiết khác trước khi kết luận. Ngược lại khoản mục nợ phải thu được coi là không trọng yếu thì có thể chỉ căn cứ vào kết quả phân tích để kết luận...);

- Các thủ tục kiểm toán khác có cùng một mục tiêu kiểm toán (Ví dụ: Thủ tục kiểm tra nghiệp vụ thu tiền sau ngày khóa sổ của các khoản phải thu sẽ khẳng định hoặc phủ nhận kết quả của quy trình phân tích nợ phải thu theo thời hạn,...);

- Độ chính xác có thể dự kiến của quy trình phân tích (Ví dụ: Kiểm toán viên thường so sánh, phân tích tỷ lệ lãi gộp giữa năm nay với năm trước hơn là so sánh các chi phí bất thường giữa năm trước với năm nay...);

- Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát (Ví dụ: Nếu việc kiểm'' soát nội bộ của bộ phận bán hàng là yếu kém thì nên dựa vào kiểm tra chi tiết hơn là dựa vào quy trình phân tích...).

17. Kiểm toán viên phải kiểm tra lại các thủ tục kiểm soát để tạora các thông tin sử dụng trong quy trình phân tích. Trường hợp thủ tục kiểm soát có hiệu quả thì kiểm toán viên sẽ tin tưởng hơn vào độ tin cậy của các thông tin và kết quả phân tích cũng tin cậy hơn. Kiểm toán viên phải kiểm tra đồng thời các thủ tục kiểm soát của kế toán với thủ tục kiểm soát thông tin phi tài chính (Ví dụ: Trường hợp đơn vị kiểm soát việc lập hóa đơn bán hàng đồng thời với kiểm soát số lượng bán hàng thì kiểm toán viên cũng kiểm tra đồng thời thủ tục kiểm soát hóa đơn bán hàng và kiểm soát số lượng hàng bán).

Điều tra các yếu tố bất thường.

18. Trường hợp quy trình phân tích phát hiện được những chênh lệch trọng yếu hoặc mối liên hệ không hợp lý giữa các thông tin tương ứng, hoặc có chênh lệch lớn với số liệu dự tính, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục điều tra để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.

19. Điều tra các khoản chênh lệch trọng yếu hay mối liên hệ không hợp lý thường bắt đầu bằng việc yêu cầu Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán cung cấp thông tin, tiếp theo là thực hiện các thủ tục:

- Kiểm tra lại những câu trả lời của Giám đốc (hoặc người đứng đầu) bằng cách đối chiếu với những bằng chứng kiểm toán khác đã thu được trong quá trình kiểm toán;

- Xem xét, thực hiện các thủ tục kiểm toán khác nếu Giám đốc (hoặc người đứng đầu) vẫn không thể giải thích được, hoặc giải thích không thỏa đáng./.

Chuẩn mực 520

Popular Posts