Tuesday, 7 September 2010

TIN VỀ KỲ THI KIỂM TOÁN VIÊN NĂM 2010

Tiếp theo Thông báo số 01/TB-HĐT ngày 25/07/2010 của Chủ tịch Hội đồng thi kiểm toán viên và kế toán viên hành nghề năm 2010, Hội đồng thi đã họp phiên thứ 2 năm 2010, có những thông tin như sau:

- Kỳ thi kế toán viên và kiểm toán viên hành nghề năm 2010 sẽ được tổ chức từ ngày 30/09 đến 06/10/2010 tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Thành phố Hà Nội; và tại Trường cao đẳng Tài chính Hải Quan - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Số lượng học viên đăng ký dự thi và đã được Hội đồng thi xem xét đủ điều kiện dự thi, như sau:

TT

Nội dung thi

Hà Nội

Tp. Hồ Chí Minh

Cộng

(1)

Thi kiểm toán viên

468

359

871

(2)

Thi hành nghề kế toán

132

211

343

(3)

Thi chuyển đổi

23

55

76

Cộng

623

625

1246


- Một số học viên chưa hoàn thiện hồ sơ dự thi (thiếu chứng chỉ ngoại ngữ, chứng chỉ tin học, chưa dịch chứng chỉ sang tiếng Việt…) sẽ phải tiếp tục hoàn thiện đầy đủ hồ sơ đến hết ngày 20/09/2010 mới được dự thi…

- Các học viên đủ điều kiện dự thi hoặc không đủ điều kiện dự thi sẽ được nhận thông báo chính thức của Hội đồng thi trong vòng 3,4 ngày nữa.

Các bạn dự thi cần theo dõi thông tin chi tiết về kỳ thi kiểm toán viên trên trang website này (www.vacpa.org.vn)

(Theo VACPA)

Monday, 6 September 2010

Thông báo thi chứng chỉ hành nghề thuế năm 2010

Xem hình

Thực hiện Thông tư số 28/2008/TT-BTC ngày 3/4/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc đăng ký hành nghề và quản lý hoạt động hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế, việc tổ chức thi, cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế; Quyết định số 316/QĐ-BTC ngày 17/2/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế thi cấp chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế.

Tổng cục Thuế thông báo về việc tổ chức kỳ thi cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ thủ tục về thuế năm 2010 như sau:

Đối tượng và điều kiện dự thi

Là người ViệtNam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam từ 01 năm trở lên và có đủ các điều kiện sau:

- Có lý lịch rõ ràng, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không thuộc các trường hợp sau:

+ Người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự;

+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án về một trong các tội về kinh tế, về chức vụ liên quan đến tài chính, kế toán mà chưa được xóa án tích.

+ Nhân viên đại lý thuế đã bị thu hồi vĩnh viễn Chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế hoặc trong thời gian bị xử lý vi phạm dưới hình thức tạm đình chỉ.

+ Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước đang tại chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

- Có bằng cao đẳng trở lên thuộc các chuyên ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, Maketing, Ngân hàng, tài chính, kế toán, kiểm toán, luật và đã có thời gian làm việc từ hai năm trở lên trong lĩnh vực này.

Nội dung chính của thông báo


- Đối tượng thi: là người ViệtNamhoặc nước ngoài thỏa mãn các yêu cầu của Bộ Tài chính


- Môn thi: pháp luật về thuế và kế toán. Hình thức: thi viết. Thời gian là 180 phút. Ngôn ngữ tiếng việt.

- Địa điểm thi: tại Hà Nội, hoặc Hồ Chí Minh ( tùy thí sinh lựa chọn)
- Thời gian: dự kiến vào cuối tuần tháng 11/2010

- Thời hạn nộp hồ sơ: Thời hạn nộp hồ sơ trực tiếp tại Tổng cục Thuế bắt đầu từ ngày 15/9/2010 đến ngày 30/9/2010 (từ thứ 2 đến thứ 6 trong tuần):
+ Buổi sáng: Từ 8h00’ đến 12h
+ Buổi chiều: Từ 13h đến 16h30’

- Thời hạn nộp hồ sơ qua đường bưu chính chậm nhất trước 16h30’ ngày 30/9/2009 (thời han nộp hồ sơ là thời gian tính theo dấu bưu chính nơi gửi)

- Lệ phí thi: 200.000 đ/1 môn.


Những người có trên 5 năm kinh nghiệm làm kế toán, kiểm toán, thuế hoặc những người có chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ Tài chính cấp được miễn thi môn Kế toán.

Tải Quyết định 183 và các Mẫu biểu hướng dẫn nộp hồ sơ tại đây

(Theo VTCA)

1.001 cách giải trình báo cáo tài chính bán niên


Nhiều DN đã và đang phải giải trình về chênh lệch KQKD trước và sau soát xét. Điều thú vị là các DN có rất nhiều cách để lý giải về sự chênh lệch này.

Năm 2010 là năm đầu tiên việc soát xét báo cáo tài chính (BCTC) bán niên bắt buộc thực hiện đối với tất cả các công ty niêm yết. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam về công tác soát xét, hoạt động này chỉ yêu cầu thực hiện để có sự bảo đảm vừa phải rằng, BCTC không chứa những sai sót trọng yếu. Tuy nhiên, sau khi DN công bố BCTC "vòng hai" - có thêm ý kiến của kiểm toán viên, nhiều công ty niêm yết đã và đang phải giải trình về chênh lệch kết quả kinh doanh trước và sau soát xét. Điều thú vị là các DN có rất nhiều cách để lý giải về sự chênh lệch này.

Đa dạng giải trình về chênh lệch tỷ giá

Đầu năm nay, CTCP Vận tải Xăng dầu VIPCO (VIP) đã gây ra một "scandal" nho nhỏ trên thị trường khi bất ngờ công bố lợi nhuận cả năm 2009 giảm rất mạnh so với con số ước tính 10 tháng đầu năm. Một trong các nguyên nhân chính yếu là VIPCO phải đánh giá lại các khoản vay nợ ngoại tệ bằng USD. Rủi ro khoản vay nợ đã khiến lợi nhuận cuối năm của VIPCO sụt giảm bất ngờ. Năm nay, ban lãnh đạo VIPCO không muốn sự kiện cũ lặp lại nên đã có sự cẩn trọng tối đa. Trong BCTC 6 tháng, VIPCO đã thực hiện tạm trích lập 10 tỷ đồng về chênh lệch tỷ giá, kiểm toán viên lưu ý điều này và cho rằng, theo các quy định hiện hành, Công ty chỉ phải thực hiện trích lập vào thời điểm cuối năm. Giải trình ý kiến của kiểm toán, ông Nguyễn Đạo Thịnh, Chủ tịch HĐQT VIPCO cho biết: "Công ty thực hiện điều này nhằm đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận cả năm 2010 không biến động quá bất thường so với 6 tháng đầu năm. VIPCO đã tạm trích lập 10 tỷ đồng vào kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2010 và nếu không trích lập, lợi nhuận của VIPCO sẽ tăng lên tương ứng".

VIPCO là trường hợp tự giác thực hiện và bị kiểm toán "lưu ý", nhưng cũng vấn đề tỷ giá, có DN chưa thực hiện trích lập lại bị "nhắc nhở". Sau khi thực hiện soát xét BCTC bán niên, lợi nhuận sau thuế của CTCP Hữu Liên Á Châu (HLA) giảm từ 39,1 tỷ đồng xuống còn 26,8 tỷ, tương ứng giảm 31,5%. Ông Trần Tuấn Nghiệp, Tổng giám đốc Công ty cho biết, bên cạnh việc phải trích bổ sung chi phí lãi vay, chi phí vận chuyển, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, nợ ngắn hạn khó đòi…, HLA còn phải đánh giá bổ sung khoản chênh lệch tỷ giá 7,2 tỷ đồng (chiếm tới 60% con số lợi nhuận chênh lệch giảm).

Cũng câu chuyện tỷ giá, Công ty kiểm toán PKF Việt Nam lưu ý trong BCTC soát xét bán niên của CTCP Nhiệt điện Bà Rịa (BTP) rằng, BTP chưa kết chuyển khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá hơn 27 tỷ đồng từ năm ngoái vào năm nay (theo kế hoạch trong BCTC 2009 đã qua kiểm toán) và cũng chưa đánh giá khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ là 16,5 tỷ đồng. Trong giải trình sau đó gửi HOSE, lãnh đạo BTP hầu như chỉ "nhắc lại" các nhận xét của Công ty kiểm toán PKF Việt Nam mà không cung cấp thêm thông tin sâu hơn với NĐT, chẳng hạn giải thích về lý do chưa thực hiện.

Trích dự phòng: muôn màu muôn vẻ

Việc trích lập/hoàn nhập dự phòng đầu tư tài chính cũng được thực hiện ở nhiều DN với muôn màu muôn vẻ: sau soát xét, lợi nhuận trước thuế của CTCK Ngân hàng Sacombank (SBS) giảm 18,5%; CTCP Chế biến thực phẩm Kinh đô miền Bắc (NKD) giảm 38%. Cả hai có lợi nhuận sau soát xét giảm mạnh khi phải thực hiện trích lập thêm theo yêu cầu của kiểm toán.

Cũng vấn đề trích lập và hoàn nhập dự phòng, giải trình của CTCP Nhựa Tân Đại Hưng (TPC) lại khiến nhiều NĐT quan tâm: trong quá trình soát xét, HĐQT TPC và Công ty kiểm toán A&C thống nhất cuối năm mới trích lập dự phòng các khoản đầu tư tài chính (khoảng 2 tỷ đồng) vì lý do thị giá các cổ phiếu đang thay đổi; chưa trích lập dự phòng nợ khó đòi (1,6 tỷ đồng) vì chưa có dấu hiệu rủi ro. Trong văn bản giải trình, TPC còn đánh giá thêm rằng, nếu có trích lập đầy đủ thì lợi nhuận bán niên của Công ty vẫn khả quan - tương đương 72% kế hoạch lợi nhuận năm.

Những lưu ý và giải trình "lạ"

Khá nhiều công ty đã phải giải trình các vấn đề khác liên quan đến việc phân bổ chi phí và ghi nhận doanh thu. Tuy nhiên, có nhiều lưu ý của kiểm toán và giải trình của DN niêm yết rất "lạ". Trong BCTC soát xét của CTCP Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTC), Công ty kiểm toán A&C có lưu ý rằng, Nhà máy Vật liệu Viễn thông 1 (đơn vị trực thuộc PTC) thực tế đã ngừng hoạt động từ quý IV/2009, nhưng số liệu trên BCTC của PTC cho thấy hoạt động của nhà máy vẫn đang được phản ánh vào báo cáo ngày 30/6/2010 theo nguyên tắc hoạt động liên tục. Về điều này, ông Nguyễn Duy Bắc Việt, Tổng giám đốc Công ty giải thích, do sức cầu thị trường cáp đồng viễn thông tụt giảm nên PTC đã chủ trương thu hẹp hoạt động của đơn vị thành viên. Tuy nhiên, do máy móc dây chuyền còn lại chưa khấu hao hết khoảng 29 tỷ đồng, nên PTC có chủ trương liên kết với đối tác để tận dụng máy móc, thiết bị. Kế hoạch hợp tác, liên kết sẽ được xây dựng trong năm 2010 và năm 2011 dự án đi vào hoạt động. Cũng cần nói thêm sau soát xét, mức lỗ của PTC đã cao gấp đôi so với con số công bố trước đó.

Trong khi đó, PKF Việt Nam lưu ý trong BCTC soát xét bán niên của CTCP Nhiệt điện Bà Rịa rằng, trong kỳ Công ty đã chi lương tháng 3 cho nhân viên với tổng giá trị là 1,6 tỷ đồng, nhưng ghi nhận vào tháng 7/2010 thay vì trong kỳ. Về điều này, Công ty lại chỉ giải thích rất ngắn gọn là "Công ty phân bổ sót"! Còn nếu đọc giải trình mới đây của CTCP Văn hóa Phương Nam (PNC), các NĐT đã từng là cựu cổ đông của PNC từ năm 2007 trở về trước sẽ phải lục lại trí nhớ bởi họ có thể nhận được món quà bất ngờ. Công ty Kiểm toán DTL từ chối cho ý kiến về một khoản nợ gần 4 tỷ đồng của PNC, DTL cho biết dù đã thu thập nhưng không đủ tài liệu để cho ý kiến về con số trên. Về điều này PNC giải thích, đây là cổ tức những năm trước mà Công ty chưa trả được cho cổ đông dù đã đăng báo mời NĐT đến Công ty nhận!


(Theo Tinnhanhchungkhoan)

10 nghịch lý của kinh tế Việt Nam

picture

Việt Nam tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý

Kinh tế Việt Nam không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, tăng trưởng đã thoát đáy vượt dốc đi lên và đang dần phục hồi.

Tuy nhiên xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý, trong đó có 10 nghịch lý được xét trên các góc độ khác nhau.

Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí còn tụt hậu xa hơn.

Năm 2010 (tạm tính tăng 6,5%), GDP của Việt Nam so với năm 1985 cao gấp gần 5,2 lần (bình quân thời kỳ 1986 - 2010 tăng 6,8%/năm); so với năm 1990 cao gấp trên 2 lần (bình quân thời kỳ 1991- 2010 tăng 7,4%/năm). Đó là những tốc độ tăng khá cao.

GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân năm 2008 của Việt Nam đạt 1.052 USD (năm 2010 ước tính sẽ đạt khoảng 1.138 USD), thấp xa so với các con số tương ứng của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (Singapore 37.597,3 USD, Brunei 35.623 USD, Malaysia 8.209,4 USD, Thái Lan 4.042,8 USD, Indonesia 2.246,5 USD, Philippines 1.847,4 USD).

GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới bằng 42,8%, con số tương ứng của khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 7/11 nước; bằng 26% con số tương ứng của châu Á và đứng thứ 36/50 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh; bằng 11,7% con số tương ứng của thế giới và đứng thứ 138/182 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh.

Nếu họ “đứng yên” thì cũng phải nhiều năm sau Việt Nam mới bằng mức hiện nay của họ. Nhưng đó chỉ là giả thiết, thực tế họ vẫn tiến, thậm chí có nước, có năm còn tiến nhanh hơn.

Từ các con số trên, có thể rút ra hai nhận xét đáng lưu ý. Một, thứ bậc về GDP bình quân đầu người của Việt Nam vẫn nằm ở nửa dưới trong các nước ở khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Hai, do giá trị của 1% tăng lên của GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp như trên, nên tốc độ tăng chỉ tiêu này của Việt Nam phải cao gấp đôi tốc độ tăng của khu vực Đông Nam Á, cao gấp trên 4 lần tốc độ tăng của châu Á và cao gấp 9 lần tốc độ tăng trung bình của thế giới thì mới không bị tụt hậu xa hơn (chênh lệch tuyệt đối giảm).

Hai là, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững.

Tăng trưởng kinh tế sau khi bị giảm trong năm 1979 và năm 1980, thì từ năm 1981 đã tăng trưởng liên tục, tính đến năm 2010 này là 30 năm, vượt kỷ lục cũ của Hàn Quốc (23 năm tính đến năm 1996) và hiện chỉ thấp hơn kỷ lục 32 năm hiện do Trung Quốc đang nắm giữ.

Tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do sự đóng góp của yếu tố tăng vốn (chiếm khoảng 52 - 53%); do sự đóng góp của yếu tố tăng số lượng lao động (chiếm khoảng 19 - 20%); còn yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động trên cơ sở khoa học - công nghệ) mới chiếm 28 - 29%, thấp xa so với con số 35 - 40% của một số nước trong khu vực.

Kinh nghiệm trong lịch sử và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, mục tiêu cuối cùng đạt được không phải chỉ bằng tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà phải bằng độ bền của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Đã đến lúc, nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, thì ngay cả việc tăng trưởng với tốc độ cũ cũng khó mà đạt được.

Ba là, mở cửa hội nhập để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng nhập siêu liên tục với quy mô lớn.

Nhập siêu của Việt Nam có năm điểm đáng lưu ý. Một, nhập siêu gần như liên tục, trong thời gian dài. Trong 25 năm đổi mới, chỉ có một năm xuất siêu nhẹ (41 triệu USD) và cách đây cũng đã khá lâu (năm 1992), còn có tới 24 năm nhập siêu. Hai, mức nhập siêu khá lớn (năm 2008 lên đến trên 18 tỷ USD và 4 năm nay, nếu tính bằng tỷ USD đã ở mức hai chữ số); tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, so với GDP vượt mức an toàn (trên 20%).

Ba, mở cửa, hội nhập là để tìm thị trường tiêu thụ, nhưng gần như càng mở cửa, hội nhập thì càng nhập siêu. Đặc biệt nhập siêu lại bùng lên khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bốn, nhập siêu thường kèm theo là giá giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi, nhưng trong khi sản xuất trong nước thì bị cạnh tranh, giảm thị phần, còn người tiêu dùng vẫn phải mua giá cao. Điểm thứ năm, nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn, mà lại từ các thị trường không phải có kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn - đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc.

Bốn là, chuyển sang kinh tế thị trường đã nhiều năm, nhưng thể chế chuyển chậm.

“Bàn tay hữu hình” còn quá dài, trong khi “bàn tay vô hình” còn quá ngắn. Doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng, nhưng phình to về quy mô, chiếm tỷ trọng lớn về vốn, chiếm tỷ trọng nhỏ về lao động; doanh nghiệp tư nhân ra đời nhiều, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, nhưng quy mô nhỏ, chậm lớn. Cải cách hành chính chậm, thủ tục hành chính còn nặng nề. Chi phí bất hợp lý, thậm chí bất hợp pháp còn nhiều. Cạnh tranh chưa bình đẳng, “ra sân chơi chung, nhưng đã chấm trước người thắng kẻ thua”. Kinh tế thị trường nhưng độc quyền còn lớn.

Năm là, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trên 15 năm, nhưng tính gia công còn nặng. Do gia công nặng, nên vừa làm cho giá trị tăng thêm thấp, vừa phụ thuộc vào nước ngoài, làm tăng nhập siêu, dễ bị ảnh hưởng khi thị trường nước ngoài gặp bất ổn.

Sáu là, “tam nông” rất quan trọng, nhưng chưa được quan tâm tương xứng.

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên; tỷ lệ dân số nông thôn từ trên 90% trước Cách mạng đã giảm xuống nhưng hiện vẫn còn chiếm 70%; tam nông đã đóng góp tích cực trong việc giúp cho đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát trong thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước; giúp ổn định ở trong nước để ứng phó với cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997 - 1998, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008- 2009,... nhưng tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâm - thủy sản trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm và hiện ở mức thấp (năm 2000 chiếm 13,8%, năm 2005 còn 7,5%, năm 2009 còn 6,3%).

Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa giảm. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn lớn cả về thu nhập, chi tiêu, nhà ở, điện nước, vệ sinh, đồ dùng lâu bền... còn lớn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi ở thành thị, số người nghèo ở nông thôn chiếm trên dưới 90% tổng số hộ nghèo của cả nước...

Bảy là, với mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam đã kích cầu đầu tư lớn (có tỷ lệ đầu tư so với GDP đứng hàng đầu thế giới), nhưng lãi suất vay vốn ở Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ. Thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán của dân cư còn thấp do thu nhập của lao động thấp; nhưng khi kích cầu đầu tư và tiêu dùng thì có một phần không nhỏ hàng hóa, vật tư của nước ngoài nhập siêu vào chiếm lĩnh thị phần.

Tám là, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ động viên tài chính cao, nhưng tỷ lệ bội chi ngân sách lớn và tăng.

Tỷ lệ tích lũy so với GDP của Việt Nam đã tăng khá nhanh (từ 27,1% năm 1995 lên 29,6% năm 2000, lên 35,6% năm 2005, lên 43,1% năm 2007, vài năm có giảm xuống nhưng năm 2009 vẫn ở mức 38,1%, thuộc loại cao trên thế giới.

Tỷ lệ tổng thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tăng và thuộc loại cao (nếu năm 2000 mới đạt 20,5% thì năm 2005 đã đạt 27,2%, năm 2008 là 28,1%), nhưng tỷ lệ bội chi so với GDP tăng lên (từ 4,1% năm 2000 lên 5,2% năm 2008, lên 6,9% năm 2009 và năm 2010 có thể giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao trên 6%). Đây là một trong những yếu tố làm bất ổn vĩ mô, yếu tố tiềm ẩn của lạm phát.

Chín là, khoa học - công nghệ là động lực của tăng trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng tác động đối với nền kinh tế còn thấp.

Tỷ trọng hoạt động khoa học- công nghệ trong GDP nhiều năm nay chỉ chiếm 0,62-0,63%, tác động đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế nhỏ. Tình hình này do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do đầu tư chưa đủ độ (năm 2009 đã tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 0,73% tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Có nguyên nhân do cơ chế vận hành hoạt động này chậm được chuyển đổi, khi có cơ chế thì thực hiện còn lúng túng. Có nguyên nhân do hoạt động khoa học- công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có sự kết hợp chặt chẽ. Thị trường khoa học công nghệ chậm hình thành và chậm phát triển.

Mười là, giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nếu khoa học - công nghệ là động lực của phát triển, thì giáo dục - đào tạo là chìa khóa của khoa học - công nghệ. Giáo dục - đào tạo sớm được xác định là quốc sách hàng đầu, với tỷ trọng chi cho giáo dục - đào tạo trong tổng chi ngân sách tăng. Ngành giáo dục - đào tạo liên tục cải cách, nhưng hiệu quả thấp...

(Theo Vneconomy)

5 dự án bất động sản 'khủng' vừa công bố

VnExpress.net điểm lại các dự án với số vốn đầu tư từ trăm triệu đến tỷ đôla đang gây xôn xao dư luận. Trong số đó có 2 dự án ứng cử kỷ lục Việt Nam.

Resort 4,5 tỷ USD tại Ninh Thuận

Dự án Khu du lịch tổng hợp cao cấp Mũi Dinh, tỉnh Ninh Thuận gồm các hạng mục nghỉ dưỡng, biệt thự cao cấp, giải trí tổng hợp quy mô lớn, khu công trình công ích... Đặc biệt dự án có sân golf Mũi Dinh thuộc danh mục các sân golf dự kiến phát triển đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt.

Dự án được triển khai trên diện tích 1.500 ha, do Công ty Polo Beach International Limited (Hong Kong) làm chủ đầu tư.

Các hồ sơ xác nhận năng lực tài chính của chủ đầu tư đã được gửi đến Bộ Xây dựng xem xét. Bộ Xây dựng đánh giá, trước mắt nên xem xét cho phép nhà đầu tư khảo sát, nghiên cứu lập dự án đầu tư cho diện tích 700 ha đất (diện tích đã được UBND tỉnh Ninh Thuận chấp thuận). Việc đầu tư mở rộng dự án giai đoạn tiếp theo (diện tích 800 ha) được xem xét sau khi đánh giá hiệu quả đầu tư của giai đoạn một.

Khu giải trí lớn nhất Việt Nam - Happyland

Phối cảnh dự án. Ảnh:
Phối cảnh dự án. Ảnh: KTG.

Dự án Khu phức hợp giải trí Happyland với số vốn đầu tư gần 2 tỷ USD do Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Phú An làm chủ đầu tư. Happyland dự kiến sẽ khởi công vào tháng 1/2011 và hoạt động vào năm 2014.

Dự án xây dựng trên diện tích gần 700 ha. Tọa lạc tại tỉnh Long An, Happyland đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần tôn tạo, duy trì cảnh quan của sông Vàm Cỏ Đông.

Đơn vị tư vấn thiết kế, quản lý vận hành của dự án là những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Tiêu biểu như Steelman Partners thiết kế ý tưởng, Tập đoàn PriceWaterhouse Coopers lập báo cáo nghiên cứu khả thi cho toàn dự án, Công ty Hill International cung cấp dịch vụ tư vấn quản lý, đơn vị Internatinal Creative Services Co đảm nhiệm vận hành dự án...

Dự án gồm khu công viên, trung tâm thương mại, khách sạn 3-5 sao, công viên nước, vũ trường, chợ nổi, trung tâm văn hóa Việt Nam, khu đô thị liền kề.

Ứng viên cho công trình cao nhất Việt Nam

Nằm trên khu đất rộng 4 ha phía Tây Hà Nội, công trình phức hợp đa chức năng gồm trung tâm thương mại, vườn treo và khách sạn 6 sao với hàng nghìn phòng ốc hiện đại. Dự án được thiết kế bởi Foster + Partners, một hãng nổi tiếng trên thế giới.

Chủ đầu tư - Tập đoàn Kinh Bắc đã đưa ra 24 phương án nâng tầng cho dự án Lotus với chiều cao từ 120m đến 600m. Một số mẫu như hình hoa sen, bông lúa, chùa Một Cột và sông Hồng đang được nhà đầu tư và công ty tư vấn thiết kế nghiên cứu chọn làm biểu tượng cho tòa nhà.

Ảnh: HL
Khu đất dự kiến xây dự án Lotus. Ảnh: HL

Trước đó, dự án Lotus do Tập đoàn Riviera (Nhật Bản) làm chủ đầu tư, có số vốn 500 triệu USD cao 15 tầng. Sau khi gặp khó khăn về tài chính, chủ đầu tư đã xin rút khỏi dự án và chuyển giao cho Tập đoàn Kinh Bắc.

Đến nay, Hà Nội vẫn chưa có quyết định chính thức về đề xuất xin nâng tầng của tòa nhà này, cũng chưa tiết lộ tên gọi chính thức, song cho biết tổng mức đầu tư của dự án vào khoảng 1 tỷ USD.

Tổ hợp công trình Vietinbank Tower

Tổng vốn đầu tư dự án lên tới hơn 300 triệu USD, tương đương gần 6.000 tỷ đồng và nhiều khả năng phải tăng thêm trong tương lai. Công trình xây trên diện tích gần 30.000 m2 ở khu đô thị Ciputra (Tây Bắc, Hà Nội), trong đó tiền thuê đất lên đến 850 tỷ đồng (tính theo giá thuê 1.800 USD một m2). Dự án gồm hai tháp (68 tầng và 48 tầng), chân đế 7 tầng và 4 tầng hầm.

Đơn vị thiết kế dự án là hãng Foster + Partner của Anh, tác giả của những tòa tháp đôi hay trụ sở ngân hàng danh tiếng. Tư vấn quản lý dự án Công ty Turner của Mỹ, từng tham gia dự án tháp Dubai, tòa nhà đài truyền hình Trung Quốc CCTV. Thiết kế cuối cùng của Vietinbank Tower được lựa chọn từ 30 mô hình khác nhau.

Viettinbank dự kiến sẽ tổ chức đấu thầu quốc tế để chọn nhà thầu xây dựng. Nhiều khả năng các đơn vị đến từ Hàn Quốc như Kumho hay Hyundai... sẽ được lựa chọn.

Trước đó, năm 2008, Vietinbank đã gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xin phép thành lập liên doanh với Tập đoàn Xây dựng và đầu tư Premium Aset Pte (PAP) của Singapore để xây dựng và khai thác công trình trụ sở chính của Vietinbank (gọi tắt là Vietinbank Tower). Tuy nhiên, do khó khăn về mặt tài chính, đối tác này đã rút lui. Vietinbank tự bỏ vốn để xây và dự án dự kiến khởi công 20/10, sau hơn 3 năm thai nghén.

Tòa nhà 47 tầng tại đường Phạm Hùng - Hà Nội

Dự án khu dịch vụ thương mại và văn phòng có tổng mức đầu tư 1.700 tỷ đồng (tương đương gần 100 triệu USD), cao 47 tầng và 4 tầng hầm. Tầng 1-2 làm trung tâm dịch vụ thương mại, tầng còn lại là khu văn phòng.

Ảnh:
Dự án được triển khai trên trục đường Phạm Hùng, đối diện Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Ảnh: VMC

Dự án được thực hiện dưới hình thức liên doanh giữa Công ty cổ phần VIMECO và Công ty điện tử Hà Nội - HANEL. Tỷ lệ phân chia diện tích sử dụng của dự án sau khi hoàn thành theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên là Vimeco 64% - Hanel 36%.

Trước đó, dự án có tổng mức đầu tư khoảng 700 tỷ đồng, cao 30 tầng và 2 tầng hầm. Đến nay Dự án đã được Bộ Xây dựng và UBND Thành phố Hà Nội chấp thuận phê duyệt về chiều cao xây dựng cũng như quy hoạch tổng thể 1:500.

Dự án được triển khai trên trục đường Phạm Hùng, đối diện Trung tâm Hội nghị Quốc gia. Dự kiến công trình sẽ khởi công vào quý 4/2010 và hoàn thành vào cuối năm 2013.


(Theo Vnexpress)

Còn nhiều thiếu sót trong kiểm toán nhà nước

Vụ việc của Vinashin hay trường hợp 4 kiểm toán viên có hành vi thiếu trong sạch vừa qua cho thấy Pháp luật kiểm toán còn nhiều sơ hở, thiếu chặt chẽ - TS Luật học Đinh Xuân Thảo, Đại biểu Quốc hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp nhận định.
Ông Thảo băn khoăn: “Những sai phạm, thiếu sót mà cơ quan kiểm toán nhà nước mắc phải, ai sẽ là người kiểm toán cơ quan kiểm toán đây?”
Nhìn lại bức tranh tổng thể của Vinashin, ông có đánh giá gì về vai trò của Kiểm toán Nhà nước (KTNN)? Theo ông với trường hợp của Vinashin, KTNN đã làm hết trách nhiệm chưa?

Ông Đinh Xuân Thảo
Trong hoạt động KTNN, giám sát của Uỷ ban kinh tế 6 tháng cuối năm 2009 tập trung chủ yếu vào việc sử dụng vốn của Nhà nước và các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước. KTNN mới chỉ dừng tới việc sử dụng vốn vào việc gì, còn hiệu quả như thế nào thì KTNN cũng chưa tính đến. Ví dụ, Vinashin nói vay 300 triệu USD để mua tàu, KTNN chỉ có thể dừng lại ở việc có đúng là mua tàu thật hay không. Sự việc Vinashin cũng là điển hình mà KTNN chưa phân tích ngay. Dựa vào số liệu của cơ quan KTNN mà tôi nhận được, tôi thấy rất nhiều doanh nghiệp lớn làm ăn thua lỗ. Nguyên nhân chính là do việc đánh giá hoạt động sử dụng vốn chưa được chú trọng, phân tích và làm rõ. Đây được coi là chức năng chính của KTNN để phân biệt với Thanh tra. Nếu Thanh tra chỉ dừng lại ở việc sử dụng đồng tiền đúng mục đích thì việc sử dụng có hiệu quả hay không là chức năng của kiểm toán. Nhưng ở nước ta vẫn đang lẫn lộn giữa hai cơ quan này.
Riêng với vụ việc Vinashin, tôi cho rằng KTNN chưa hết trách nhiệm, mặc dù Đại biểu Quốc hội đã nêu tại nghị trường rồi. Chính sự thiếu trách nhiệm đã để lại hậu quả rất lớn.

Trước đó một thời gian dài, Vinashin đã mắc nhiều sai phạm. Trong thời gian đó, KTNN có thực hiện kiểm toán tại tập đoàn này không, thưa ông?

Từ khi Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí có hiệu lực (1-6-2006). hàng năm, Chính phủ và trực tiếp là Bộ Tài chính đều có báo cáo trước Quốc hội về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, kèm theo đó là có báo cáo của KTNN. Chúng tôi thấy, có không ít cơ quan, doanh nghiệp để thất thoát tài sản lớn, phải thu hồi, nhưng việc thu hồi lại chưa được làm tốt. KTNN cung cấp tài liệu lâu nay chỉ là kết quả kiểm toán hàng năm thực hiện chi tiêu khoản tiền ngân sách cấp. Còn Vinashin là doanh nghiệp, vốn một phần của Nhà nước, một phần họ huy động từ bên ngoài. Nên trước đó kiểm toán Vinashin chưa thực hiện việc Kiểm toán tổng thể. Bởi theo quy trình thì chỉ khi nào phát hiện một doanh nghiệp có vấn đề thì KTNN mới thực hiện kiểm toán tổng thể.

Hành vi nhận hối lộ của 4 kiểm toán viên vừa qua khiến dư luận bức xúc và băn khoăn về sự thật trong các báo cáo kiểm toán và trách nhiệm của cơ quan KTNN. Dư luận cho rằng, nhiều trường hợp kiểm toán chưa thực sự khách quan vì chẳng có cơ quan nào kiểm toán lại các báo cáo kiểm toán?

Những sự việc vừa qua là một sự thật đáng buồn đối với ngành kiểm toán. Theo tôi, cần phải xem xét lại các hoạt động của KTNN. Trên thế giới, hoạt động của KTNN khác với hoạt động của thanh tra. Thanh tra phải trực tiếp xuống tận địa bàn để nắm bắt tình hình nhưng kiểm toán chỉ thực hiện xem xét dựa trên hồ sơ, giấy tờ tại văn phòng, tại trụ sở. Khi nào cần thiết nhân viên kiểm toán mới xuống tận nơi để kiểm tra, xem xét lại. Trường hợp 4 kiểm toán viên vừa rồi là họ trực tiếp xuống tận nơi để kiểm tra, xem xét, nên khó tránh khỏi việc thỏa thuận giữa hai bên với nhau. Ở đây, những cám dỗ về kinh tế, vật chất đã khiến các kiểm toán viên này phạm sai lầm.

Hiện, chúng tôi cũng luôn trăn trở nghiên cứu về vấn đề kiểm soát quyền lực hiện nay. Chẳng hạn như Quốc hội có quyền giám sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Vấn đề đặt ra là ai giám sát Quốc hội? Câu trả lời là nhân dân. Từng đại biểu tiếp xúc với cử tri và phải báo cáo tình hình hoạt động của mình trước cử tri. Và tương tự, chúng tôi cũng đã đặt câu hỏi: KTNN đi kiểm toán người ta, vậy ai là người kiểm toán cơ quan KTNN? Còn như hiện nay, một anh có toàn quyền kiểm tra đối với người khác nhưng chẳng có ai kiểm tra mình thì sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

(Theo Đại Đoàn Kết)

Máy móc, thiết bị chuyên dùng sản xuất nông nghiệp được áp dụng thuế suất 5%


Mức thuế suất giá trị gia tăng (GTGT) 5% áp dụng cho các loại máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp sau: Máy cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy gặt đập liên hợp...

Công ty TNHH Cơ khí Hương Vượng (tỉnh Thanh Hoá) đề nghị cơ quan chức năng giải đáp thắc mắc sau: Công ty có hoạt động sản xuất máy nén viên phân bón, máy nén củi bánh từ các nguồn rác phế thải, máy làm thức ăn gia súc. Như vậy, Công ty có được áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 5% không? Công ty sản xuất các loại máy này chủ yếu là phục vụ sản xuất nông nghiệp vậy DN có được ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hay không?

Giải đáp các thắc mắc trên, Tổng cục Thuế cho biết, tại điểm 2.10, mục II, Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC có quy định: Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm máy cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt, máy gặt đập liên hợp, máy thu hoạch sản phẩm nông nghiệp, máy hoặc bình bơm thuốc trừ sâu được áp dụng thuế suất GTGT 5%.

Mức ưu đãi thuế TNDN được quy định chi tiết tại các văn bản sau: Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000; Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999, Nghị định 98/2002/NĐ-CP ngày 24/10/2002; Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003; Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006; Nghị định 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007...

Căn cứ quy định trên, máy nén viên phân bón, máy nén củi bánh từ các nguồn rác phế thải, máy làm thức ăn gia súc không thuộc danh mục máy móc được áp dụng thuế suất thuế GTGT 5%. Do đó, các mặt hàng này áp dụng thuế suất thuế GTGT là 10% theo hướng dẫn tại điểm 3, mục II, Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC nêu trên.

Về ưu đãi thuế TNDN, từ thời điểm 1/1/2009 trở về trước, ưu đãi thuế TNDN đối với ngành nghề sản xuất các loại máy công cụ, máy móc, thiết bị, phụ tùng, máy phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp là ngành nghề được ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế TNDN.

Từ thời điểm 1/1/2009 khi Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 ngày 3/6/2008 của Quốc hội khoá XII có hiệu lực thi hành thì ngành nghề sản xuất các loại máy công cụ, máy móc, thiết bị, phụ tùng, máy phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp không thuộc ngành nghề ưu đãi thuế TNDN.

Trường hợp Công ty đáp ứng các điều kiện khác để được ưu đãi thuế TNDN theo Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN thì được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định của pháp luật.

(Theo VPG News)

Popular Posts