Showing posts with label Baohiem. Show all posts
Showing posts with label Baohiem. Show all posts

Sunday, 28 July 2013

Chuẩn mực quốc tế cho BCTC ngành bảo hiểm

DNBH là đơn vị có liên quan nhiều đến công chúng nên BCTC phải phù hợp với Chuẩn mực quốc tế để góp phần tạo dựng thông tin minh bạch cho thị trường.
Chuẩn mực quốc tế cho BCTC ngành bảo hiểm
Chuẩn mực quốc tế cho BCTC ngành bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm (BH) giúp các tổ chức, cá nhân tham gia BH khắc phục hậu quả tài chính khi gặp tai nạn, tổn thất và các rủi ro. Tính đa dạng của đối tượng khách hàng và nhu cầu về sự an toàn không ngừng tăng lên đối với các sản phẩm BH nên ở tất cả các nước, Nhà nước phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ và có hệ thống khuôn khổ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tham gia BH và DNBH, đồng thời để điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động kinh doanh BH phát triển.

Trong lĩnh vực kế toán, ngay cả khi chưa có chuẩn mực kế toán (CMKT) quốc tế về BH thì các nước có thị trường BH phát triển như Mỹ, Anh, Úc... đã ban hành các CMKT áp dụng riêng cho DNBH. Cho đến tháng 3/2004, Ủy ban Chuẩn mực quốc tế (IASB) đã ban hành Chuẩn mực báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế số 4 (IFRS 4) - “Hợp đồng BH”. IFRS 4 là chuẩn mực trung gian, tạm thời, vì còn nhiều vấn đề chưa đề cập và phải tiếp tục nghiên cứu. Do thông lệ kế toán cho các hợp đồng BH rất đa dạng và khác biệt với thông lệ kế toán của các lĩnh vực khác, nên IFRS 4 được ban hành để cải thiện ở mức độ có giới hạn thông lệ kế toán hiện hành đối với hợp đồng BH. Nội dung chủ yếu của IFRS 4 là quy định các thông tin, số liệu mà DNBH phải trình bày trên BCTC về các hợp đồng BH cho tới khi IASB ban hành tiếp trong giai đoạn 2. Trên cơ sở IFRS 4- “Hợp đồng BH”, năm 2005, Bộ Tài chính đã ban hành CMKT số 19 - Hợp đồng bảo hiểm và tháng 12/2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 232 hướng dẫn kế toán áp dụng đối với DNBH phi nhân thọ, DN tái BH và chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài.

Trước xu thế hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm, để phù hợp với Chuẩn mực BCTC quốc tế và để người sử dụng BCTC có thể thấy được bức tranh toàn cảnh về hoạt động kinh doanh của DNBH, chế độ BCTC áp dụng cho các DNBH ban hành theo Thông tư số 232 đã có nhiều bổ sung, sửa đổi so với quy định trước đó, đặc biệt là các nội dung sau:

Quy định trình bày tách biệt tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH trên bảng cân đối kế toán (là báo cáo phản ánh tình hình tài chính) của DNBH

Quy định này giúp cho việc phản ánh đầy đủ thông tin về trách nhiệm, quyền của DNBH theo quy định tại Điều 27 Luật kinh doanh BH năm 2000 là: “DNBH chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua BH theo hợp đồng BH, kể cả trong trường hợp tái BH những trách nhiệm đã nhận BH”. Do đó, trong trường hợp DN nhận tái BH không hoàn thành các nghĩa vụ tái BH thì DNBH vẫn phải chịu toàn bộ trách nhiệm đối với chủ hợp đồng BH theo hợp đồng BH gốc. Vì vậy, việc trình bày tách biệt tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH trên bảng cân đối kế toán là để phản ánh đầy đủ trách nhiệm của DNBH đối với chủ hợp đồng BH. Ngoài ra, việc trình bày tài sản tái BH là để phản ánh phần phải thu từ DN nhận tái BH. Nếu DN nhận tái BH không có khả năng thực hiện phần trách nhiệm của mình thì DN nhượng tái BH sẽ không thu hồi được phần thiệt hại thuộc trách nhiệm bồi thường của DN nhận tái BH, nhưng vẫn chịu trách nhiệm đền bù toàn bộ thiệt hại đối với chủ hợp đồng BH gốc và sẽ phải ghi nhận phần thiệt hại do không thu hồi được từ DN nhận tái BH theo hợp đồng tái BH. Quy định này khắc phục được hạn chế trong chế độ BCTC trước đây là khi trình bày trên bảng cân đối kế toán, DNBH thực hiện bù trừ các tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH, nên không phản ánh đúng tình hình tài chính của họ. Trên thế giới, tất cả các DNBH đều ghi nhận và trình bày tách biệt khoản mục tài sản tái BH và dự phòng nghiệp vụ BH trên bảng cân đối kế toán.

Quy định các số liệu, thông tin DNBH phải thuyết minh trên BCTC

Thứ nhất, thuyết minh rõ ràng các thông tin giúp xác định và giải thích các số liệu trong BCTC của DNBH phát sinh từ các hợp đồng BH, gồm:

* Thuyết minh các chính sách kế toán của DNBH như: Phương pháp ghi nhận doanh thu, chi phí, trích lập dự phòng nghiệp vụ…, phương pháp và cách xử lý đối với doanh thu phí BH của các hợp đồng tái tục.
* Trình bày trên thuyết minh BCTC các tài sản, nợ phải trả phát sinh từ các hợp đồng BH cho từng loại hoạt động kinh doanh BH gốc, nhận tái và nhượng tái BH.
* Về doanh thu, chi phí: Để đánh giá khả năng khai thác BH gốc, khả năng nhận tái BH và kết quả hoạt động kinh doanh nhận tái và nhượng tái BH cũng như mức độ phụ thuộc của BH, DNBH phải thuyết minh các thông tin cho từng nghiệp vụ BH quan trọng theo quy định của pháp luật về kinh doanh BH.
* Thuyết minh các giả định được sử dụng có ảnh hưởng lớn đến phương pháp tính toán ghi nhận tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí phát sinh từ các hợp đồng BH và sự thay đổi của từng giả định được sử dụng có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC.

Thứ hai, thuyết minh các thông tin về giá trị, thời gian và biến động các luồng tiền tương lai của DNBH, gồm:
* Thuyết minh các thông tin về giá trị, thời gian và biến động các luồng tiền trong tương lai dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản sau: (i) Cần có sự cân bằng giữa các thuyết minh mang tính định lượng và định tính để giúp người sử dụng BCTC hiểu bản chất các rủi ro có thể xảy ra và tác động tiềm tàng của chúng; (ii) Các thuyết minh cần phù hợp với nhận thức của ban giám đốc về rủi ro BH và các biện pháp của DNBH để giảm bớt các rủi ro này.
* Thuyết minh các thông tin về rủi ro BH và chính sách quản lý rủi ro của DNBH, thuyết minh tình hình bồi thường tổn thất của DNBH, gồm:

1. Thuyết minh rủi ro BH và phân tích mức độ tập trung của các rủi ro BH, cụ thể:
- Thuyết minh rủi ro BH theo từng lĩnh vực kinh doanh BH gốc, nhận tái và nhượng tái BH, theo từng loại nghiệp vụ BH và theo từng khu vực địa lý.
- Thuyết minh các thông tin về rủi ro BH có ảnh hưởng trọng yếu làm thay đổi kết quả kinh doanh và vốn chủ sở hữu của DNBH. Mối tương quan hoặc sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các loại rủi ro khác nhau và các thông tin cả rủi ro trước cũng như sau khi đã điều chỉnh bởi hoạt động nhượng tái BH.
- Phân tích mức độ tập trung của các rủi ro BH, bao gồm mô tả việc ban lãnh đạo quyết định mức độ tập trung và mô tả về tính chất chung có thể xác định đối với mỗi loại (ví dụ loại sự kiện BH, khu vực địa lý hoặc loại tiền tệ). Mức độ tập trung của các rủi ro BH có thể phát sinh từ một hợp đồng rủi ro đơn lẻ hoặc một số hợp đồng có liên quan, như hợp đồng có rủi ro thấp nhưng mức độ nghiêm trọng lớn như rủi ro động đất. Một sự cố đơn lẻ nhưng mang lại rủi ro cho DNBH theo nhiều loại hợp đồng BH khác nhau. Các thay đổi ngoài dự kiến như hành vi của bên mua BH hoặc thay đổi của thị trường tài chính làm cho chủ hợp đồng BH chọn cơ hội tốt hơn. Rủi ro về kiện tụng và thay đổi luật pháp có thể phát sinh các khoản chi phí hoặc ảnh hưởng lớn tới rất nhiều hợp đồng BH.

2. Thuyết minh về phân tích độ nhạy của các rủi ro BH, cụ thể:
- Phân tích về độ nhạy thể hiện việc lãi hoặc lỗ và vốn chủ sở hữu có thể bị ảnh hưởng nếu như có sự thay đổi của các biến số rủi ro có liên quan tại ngày lập BCTC, các phương pháp và giả định được sử dụng trong việc lập phân tích độ nhạy; các thay đổi về phương pháp và các giả định được sử dụng so với các giai đoạn trước đó.
- Thông tin định tính về độ nhạy, các thông tin về điều khoản và điều kiện của hợp đồng BH có ảnh hưởng trọng yếu đến giá trị, thời gian và tính không chắc chắn của các luồng tiền trong tương lai của DNBH.

3. Thuyết minh chính sách của DNBH để giảm thiểu các rủi ro phát sinh từ các hợp đồng BH. Theo đó, DNBH phải thuyết minh chính sách chấp nhận rủi ro khi lựa chọn và phê duyệt các rủi ro được BH, mức độ đảm bảo tính phù hợp giữa phân loại rủi ro và mức trách nhiệm BH, phương pháp định giá và quản lý rủi ro phát sinh cho cả 2 loại rủi ro chi tiết và tổng thể, các phương pháp sử dụng để hạn chế hoặc chuyển giao rủi ro như việc sử dụng các giới hạn và nhượng tái BH, các cam kết huy động vốn vay hoặc vốn góp để chi trả khi cần thiết.

4. Thuyết minh về tình hình bồi thường tổn thất của DNBH để so sánh các khoản bồi thường thực tế so với số liệu ước tính trước đây thông qua “Bảng tổng hợp số liệu về tình hình bồi thường”. Bảng này phải trình bày cho 5 năm liên tiếp để cung cấp các thông tin hữu ích nhằm xem xét, đánh giá xem DNBH có đảm bảo tính thận trọng không, đồng thời giúp người sử dụng BCTC biết được trong quá khứ cho đến năm tài chính hiện hành, DNBH có thay đổi tính thận trọng không và xu hướng thay đổi sẽ ảnh hưởng đến BCTC như thế nào.

Tóm lại, DNBH là đơn vị có liên quan nhiều đến công chúng, nên BCTC phải được lập và trình bày cho phù hợp với Chuẩn mực quốc tế về BCTC để góp phần tạo dựng thông tin minh bạch cho thị trường tài chính, giúp các DNBH Việt Nam dễ dàng hội nhập với thị trường quốc tế. Trên thực tế, thông lệ về kế toán đối với các hợp đồng BH rất đa dạng và IASB chưa đề cập trong IFRS 4. Với khuôn khổ pháp luật về kế toán, đặc biệt là CMKT số 19 về hợp đồng BH và Thông tư số 232 được ban hành trong những năm qua đã và sẽ giúp các DNBH nâng cao chất lượng BCTC, qua đó củng cố lòng tin của thị trường đối với hoạt động và sự minh bạch của các DN trong ngành này.

TS. Hà Thị Ngọc Hà, Vụ phó Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán - Bộ Tài chính
Theo ĐTCK

Monday, 13 May 2013

Hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản 6 tháng.

Ngày 25/4/2013, Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Công văn 1187/BHXH-CĐBHXH hướng dẫn thực hiện chế độ thai sản 6 tháng cho lao động nữ theo quy định của Bộ luật Lao động.
Theo đó, căn cứ hướng dẫn của BHXH Việt Nam tại Công văn 1477/BHXH-CSXH ngày 23/4/2013, lao động nữ đủ điều kiện hưởng chế độ trợ cấp thai sản mà đến ngày 01/5/2013 vẫn đang trong thời gian nghỉ sinh con theo Khoản 1, Điều 157 của Bộ luật Lao động thì thuộc đối tượng được hưởng chế độ trợ cấp thai sản 6 tháng (lưu ý quy định này không áp dụng cho trường hợp nhận nuôi con nuôi).
Vì vậy, những trường hợp thuộc diện hưởng chế độ thai sản 6 tháng như nêu trên đây, nếu đã được cơ quan BHXH giải quyết hưởng trợ cấp thai sản 4 tháng hoặc 5 tháng thì lập hồ sơ đề nghị cấp bổ sung tiền chênh lệch. Cụ thể như sau:
nhung-dau-hieu-nen-canh-giac-o-tre-so-sinh-kienthuc-net-vn
- Trường hợp người lao động đang tham gia BHXH sinh con thì: 
+Người sử dụng lao động có trách nhiệm lập “Danh sách đề nghị cấp bổ sung trợ cấp thai sản theo mẫu” (03 bản) kèm theo danh sách người lao động đề nghị hưởng chế độ thai sản (C67a-HD) đã được cơ quan BHXH giải quyết trước đây có tên của người lao động mà đơn vị đang lưu giữ (01 bản).
- Trường hợp người lao động đã nghỉ việc sau đó sinh con: nộp đơn đề nghị cấp bổ sung (có xác nhận của chính quyền địa phương nơi đang cư trú) cho cơ quan BHXH nơi đã giải quyết trợ cấp.
Xem toàn bộ công văn và tải về tại đây

Sunday, 2 December 2012

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về bảo hiểm thất nghiệp


Theo Nghị định số 100/NĐ-CP ban hành ngày 21/11/2012 của Chính Phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 127/2008/NĐ- CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo Hiểm Xã Hội về Bảo Hiểm Thất Nghiệp.
Trong Nghị định số 100/NĐ-CP có sửa đổi bổ sung thời gian không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau:
► Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ mười bốn ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội;
► Người lao động tạm hoãn thực hiện giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật thì thời gian này người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp:
Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:
♦  Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.
Tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động được tính nếu người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, người lao động đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc ít nhất 01 ngày trong tháng đó.
♦  Đã đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
♦  Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều này.”
Việc đăng ký thất nghiệp và thông báo về tìm việc làm với cơ quan lao động
Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc nếu người lao động chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động thực hiện đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động.
Cũng theo Nghị định 100/NĐ-CP, hồ sơ hưởng Bảo Hiểm Thất Nghiệp là:
¥  Đơn đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo mẫu do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.
¥  Bản sao hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc xác nhận của đơn vị cuối cùng trước khi thất nghiệp về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc theo hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
¥  Người lao động khi nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp phải xuất trình Sổ bảo hiểm xã hội hoặc bản xác nhận của cơ quan Bảo hiểm xã hội về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp.”
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2013.
*( Nguồn tham khảo: Nghị định số 100/NĐ-CP ban hành ngày 21/11/2012)*

Wednesday, 5 October 2011

Chính phủ đề xuất lao động nữ nghỉ thai sản 5 tháng

Với lý do phải có lộ trình, phải tính đến khả năng chi trả của Quỹ bảo hiểm xã hội, Chính phủ đề xuất thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ bình thường là 5 tháng, giảm một tháng so với đề xuất trước đó.

Sáng nay, Chính phủ đã trình Thường vụ Quốc hội dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi, trong đó đề xuất chế độ nghỉ thai sản của lao động nữ bình thường là 5 tháng và 6 tháng với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người khuyết tật.

Giải thích cho đề xuất trên, Bộ trưởng Lao Động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền cho biết, với nguyên tắc bảo vệ lao động nữ, Chính phủ ủng hộ ý kiến tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng. Tuy nhiên, việc quy định tăng phải có lộ trình và phải đảm bảo không tạo ra rào cản cho lao động nữ khi tham gia thị trường lao động, đồng thời có tính toán đến khả năng chi trả của Quỹ bảo hiểm xã hội. "Với người mẹ, trong điều kiện bình thường có thể nghỉ 5 tháng là đảm bảo sức khỏe", bà Chuyền nói.

Nhiều phụ nữ muốn kéo dài kỳ nghỉ thai sản.
Nhiều phụ nữ muốn kéo dài kỳ nghỉ thai sản. Ảnh: Thi Ngoan.

Nhiều đại biểu cho rằng cần kéo dài kỳ nghỉ thai sản tới 6 tháng. Ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, ủng hộ nghỉ 6 tháng trước và sau khi đẻ. "Có một thời kỳ đã nghỉ 6 tháng song có ý kiến ảnh hưởng ngành bảo hiểm. Tuy nhiên, nếu có lao động nữ muốn nghỉ 2 tháng thì cũng cần tạo điều kiện, hay có người muốn nghỉ dài để tăng sức khỏe thì cũng phải tính toán", ông nói.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng, đối với thai sản không nên quy định thời gian nghỉ là 5 hay 6 tháng, vì sinh lý, sức khỏe của phụ nữ cơ bản là giống nhau. "Các đồng chí nữ ở cơ quan tôi sau 3-4 tháng đã đi làm rất khó khăn. Chúng ta cần tạo điều kiện cho phụ nữ, tôi muốn thống nhất là nghỉ 6 tháng", ông Hiển bày tỏ.

Tuy nhiên, cũng có đại biểu lo ngại về quy định thai sản kéo dài. Chủ tịch Hội đồng dân tộc Kso Phước kể ông đến các xưởng dệt có 90% là chị em, nếu 1/3 chị em nghỉ thai sản thì sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu nghỉ dài quá thì thi tuyển đầu vào sẽ ảnh hưởng tới các cô gái chưa chồng. Do vậy, vấn đề này cần cân nhắc kỹ. Ông cũng đề xuất, với người cha phải nuôi con mà không có mẹ thì cũng phải bình đẳng, phải hưởng chính sách này.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng các báo cáo đều không đưa ra cơ sở để đảm bảo sức khỏe của bà mẹ và trẻ em là cần thời gian nghỉ tối thiểu, tối đa là bao nhiêu, do vậy không thể khẳng định cần nghỉ 4 hay 5 tháng.

ket equa vote

Tăng giờ làm thêm, tình trạng đình công tại các doanh nghiệp cũng là vấn đề mà nhiều ủy viên Thường vụ Quốc hội quan tâm.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, phải sửa các quy định về đình công, bởi đã có hàng nghìn cuộc đình công trong 15 năm qua song không có cuộc nào đúng pháp luật do công đoàn tổ chức và lãnh đạo. Do quy định pháp luật không đúng, cả chương 14 về đình công được sửa đổi rất ít và vụn vặt.

Ông Phùng Quốc Hiển nhận xét, công đoàn cơ sở phải vào cuộc vào từ đầu, nếu đình công hợp lý thì phải lãnh đạo ngay chứ không thể đứng ngoài cuộc. Tất cả doanh nghiệp phải có tổ chức công đoàn, do doanh nghiệp trả lương hay nhà nước thì xem xét sau.

"Bức xúc nhất 16 năm qua là vấn đề đình công, chúng ta nên có báo cáo riêng về thực hiện Bộ luật lao động, vai trò của các tổ chức", đại biểu K'so Phước nói.

Về quy định tăng thời gian làm thêm tối đa không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong một ngày và không quá 30 giờ trong một tháng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật cho rằng nếu tăng giờ làm thêm nhiều thì chủ sử dụng sẽ bóc lột lao động. Do vậy, cần có quy định để hạn chế sử dụng lao động tùy tiện.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng, làm thêm giờ là nhu cầu có thực của người sử dụng và lao động, tuy nhiên, nên nghiên cứu thận trọng. Mỗi năm tạo việc làm 1,6 triệu người, nếu điều chỉnh làm thêm giờ thì phải tính toán có ảnh hưởng tạo việc làm mới.

Ở góc độ khác, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đặt vấn đề, chúng ta đang hướng đến đích giảm giờ làm để lao động có thời gian nghỉ ngơi. Vào các doanh nghiệp dệt may mới thấy công nhân không có thời gian nghỉ ngơi, chỉ về ngủ hôm sau dậy làm. Do vậy, cần khuyến khích chủ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, có sản phẩm tốt hơn chứ không nên kéo dài thời gian làm việc.

"Có chủ doanh nghiệp ngành dệt cho biết, họ phấn đấu từ 300 giờ xuống 250 giờ, nếu ta đưa thời gian làm việc tới 360 giờ có nên chăng, theo tôi là không nên", ông Phúc nói.

Tại buổi thảo luận, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị nên nghiên cứu tăng thêm một ngày nghỉ Tết nguyên đán (hiện là 4 ngày) vì thực tế ngày đầu tiên đi làm sau kỳ nghỉ, người dân vẫn chưa tập trung làm việc, chủ yếu thăm hỏi lễ Tết.

Từng là Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết, Bộ từng nghiên cứu đề nghị này. Tuy nhiên 2 năm gần đây Bộ đã hoán đổi ngày nghỉ để kỳ nghỉ Tết được kéo dài, đáp ứng mong mỏi của người dân.


(Theo Vnexpress)

Chính phủ đề xuất lao động nữ nghỉ thai sản 5 tháng

Với lý do phải có lộ trình, phải tính đến khả năng chi trả của Quỹ bảo hiểm xã hội, Chính phủ đề xuất thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ bình thường là 5 tháng, giảm một tháng so với đề xuất trước đó.

Sáng nay, Chính phủ đã trình Thường vụ Quốc hội dự thảo Bộ luật lao động sửa đổi, trong đó đề xuất chế độ nghỉ thai sản của lao động nữ bình thường là 5 tháng và 6 tháng với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người khuyết tật.

Giải thích cho đề xuất trên, Bộ trưởng Lao Động Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền cho biết, với nguyên tắc bảo vệ lao động nữ, Chính phủ ủng hộ ý kiến tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng. Tuy nhiên, việc quy định tăng phải có lộ trình và phải đảm bảo không tạo ra rào cản cho lao động nữ khi tham gia thị trường lao động, đồng thời có tính toán đến khả năng chi trả của Quỹ bảo hiểm xã hội. "Với người mẹ, trong điều kiện bình thường có thể nghỉ 5 tháng là đảm bảo sức khỏe", bà Chuyền nói.

Nhiều phụ nữ muốn kéo dài kỳ nghỉ thai sản.
Nhiều phụ nữ muốn kéo dài kỳ nghỉ thai sản. Ảnh: Thi Ngoan.

Nhiều đại biểu cho rằng cần kéo dài kỳ nghỉ thai sản tới 6 tháng. Ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, ủng hộ nghỉ 6 tháng trước và sau khi đẻ. "Có một thời kỳ đã nghỉ 6 tháng song có ý kiến ảnh hưởng ngành bảo hiểm. Tuy nhiên, nếu có lao động nữ muốn nghỉ 2 tháng thì cũng cần tạo điều kiện, hay có người muốn nghỉ dài để tăng sức khỏe thì cũng phải tính toán", ông nói.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng, đối với thai sản không nên quy định thời gian nghỉ là 5 hay 6 tháng, vì sinh lý, sức khỏe của phụ nữ cơ bản là giống nhau. "Các đồng chí nữ ở cơ quan tôi sau 3-4 tháng đã đi làm rất khó khăn. Chúng ta cần tạo điều kiện cho phụ nữ, tôi muốn thống nhất là nghỉ 6 tháng", ông Hiển bày tỏ.

Tuy nhiên, cũng có đại biểu lo ngại về quy định thai sản kéo dài. Chủ tịch Hội đồng dân tộc Kso Phước kể ông đến các xưởng dệt có 90% là chị em, nếu 1/3 chị em nghỉ thai sản thì sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu nghỉ dài quá thì thi tuyển đầu vào sẽ ảnh hưởng tới các cô gái chưa chồng. Do vậy, vấn đề này cần cân nhắc kỹ. Ông cũng đề xuất, với người cha phải nuôi con mà không có mẹ thì cũng phải bình đẳng, phải hưởng chính sách này.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng các báo cáo đều không đưa ra cơ sở để đảm bảo sức khỏe của bà mẹ và trẻ em là cần thời gian nghỉ tối thiểu, tối đa là bao nhiêu, do vậy không thể khẳng định cần nghỉ 4 hay 5 tháng.

ket equa vote

Tăng giờ làm thêm, tình trạng đình công tại các doanh nghiệp cũng là vấn đề mà nhiều ủy viên Thường vụ Quốc hội quan tâm.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý, phải sửa các quy định về đình công, bởi đã có hàng nghìn cuộc đình công trong 15 năm qua song không có cuộc nào đúng pháp luật do công đoàn tổ chức và lãnh đạo. Do quy định pháp luật không đúng, cả chương 14 về đình công được sửa đổi rất ít và vụn vặt.

Ông Phùng Quốc Hiển nhận xét, công đoàn cơ sở phải vào cuộc vào từ đầu, nếu đình công hợp lý thì phải lãnh đạo ngay chứ không thể đứng ngoài cuộc. Tất cả doanh nghiệp phải có tổ chức công đoàn, do doanh nghiệp trả lương hay nhà nước thì xem xét sau.

"Bức xúc nhất 16 năm qua là vấn đề đình công, chúng ta nên có báo cáo riêng về thực hiện Bộ luật lao động, vai trò của các tổ chức", đại biểu K'so Phước nói.

Về quy định tăng thời gian làm thêm tối đa không quá 50% số giờ làm việc chính thức trong một ngày và không quá 30 giờ trong một tháng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật cho rằng nếu tăng giờ làm thêm nhiều thì chủ sử dụng sẽ bóc lột lao động. Do vậy, cần có quy định để hạn chế sử dụng lao động tùy tiện.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho rằng, làm thêm giờ là nhu cầu có thực của người sử dụng và lao động, tuy nhiên, nên nghiên cứu thận trọng. Mỗi năm tạo việc làm 1,6 triệu người, nếu điều chỉnh làm thêm giờ thì phải tính toán có ảnh hưởng tạo việc làm mới.

Ở góc độ khác, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đặt vấn đề, chúng ta đang hướng đến đích giảm giờ làm để lao động có thời gian nghỉ ngơi. Vào các doanh nghiệp dệt may mới thấy công nhân không có thời gian nghỉ ngơi, chỉ về ngủ hôm sau dậy làm. Do vậy, cần khuyến khích chủ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị, có sản phẩm tốt hơn chứ không nên kéo dài thời gian làm việc.

"Có chủ doanh nghiệp ngành dệt cho biết, họ phấn đấu từ 300 giờ xuống 250 giờ, nếu ta đưa thời gian làm việc tới 360 giờ có nên chăng, theo tôi là không nên", ông Phúc nói.

Tại buổi thảo luận, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị nên nghiên cứu tăng thêm một ngày nghỉ Tết nguyên đán (hiện là 4 ngày) vì thực tế ngày đầu tiên đi làm sau kỳ nghỉ, người dân vẫn chưa tập trung làm việc, chủ yếu thăm hỏi lễ Tết.

Từng là Bộ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết, Bộ từng nghiên cứu đề nghị này. Tuy nhiên 2 năm gần đây Bộ đã hoán đổi ngày nghỉ để kỳ nghỉ Tết được kéo dài, đáp ứng mong mỏi của người dân.

(Theo Vnexpress)

Friday, 10 December 2010

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp: Tỷ trọng quá nhỏ

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp:

Tỷ trọng quá nhỏ

"VACPA làm việc với JLT để

xây dựng sản phẩm bảo hiểm

trách nhiệm nghề nghiệp cho

KTV và cho công ty kiểm toán"

Ở nhiều nước phát triển, trong danh mục sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thì cơ cấu các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bao giờ cũng là nhiều nhất, sau đó mới đến bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp được đánh giá là sản phẩm tiềm năng và sẽ là xu hướng chung tại các nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong ngành bảo hiểm, để thị trường này thực sự bùng nổ ở Việt Nam thì cần ít nhất 5 năm nữa.

Ngọc Lan

S

ố liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho thấy, tính đến hết 9 tháng đầu năm 2010, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn đứng đầu về doanh thu với 3.885 tỷ đồng (tăng 19,66% so với cùng kỳ năm ngoái), bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người 1.683 tỷ đồng (tăng 28,74%). Tuy nhiên, các nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng cao là bảo hiểm nông nghiệp 6,1 tỷ đồng (tăng 520%), bảo hiểm tín dụng 14 tỷ đồng (tăng 148%), bảo hiểm trách nhiệm chung (bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp) là 323 tỷ đồng (tăng 42,7%).

Dù sản phẩm có tốc độ tăng trưởng ngày càng cao, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành bảo hiểm, tỷ trọng vẫn còn thấp và tốc độ tăng trưởng tuyệt đối vẫn rất thấp. Chính vì thế, bảo hiểm trách nhiệm nói chung và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp nói riêng, mặc dù rất tiềm năng, nhưng vẫn chưa thực sự hấp dẫn các doanh nghiệp bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhóm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bao gồm: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty môi giới bảo hiểm, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty chứng khoán, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty quản lý quỹ, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của nhà thầu giám sát thi công công trình xây dựng, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công ty kiểm toán, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho doanh nghiệp thẩm định giá.

Hiện các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp nước ngoài như Chartis, Liberty... và cũng chỉ cung cấp cho các khách hàng là người nước ngoài tại Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam khó thâm nhập vào cộng đồng này, vì chưa có nhiều kinh nghiệm. Hơn nữa, khi Luật Kinh doanh bảo hiểm mới có hiệu lực, bảo hiểm qua biên giới được "bật đèn xanh", thì các đối tượng khách hàng này lại càng không có nhu cầu về các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam.

Nói về những khó khăn khi phát triển sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, lãnh đạo cấp cao của một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cho biết, xây dựng một đội ngũ chuyên tâm bán sản phẩm này là một vấn đề đối với các công ty bảo hiểm và điều quan trọng nhất vẫn là ý thức của người mua.

Thực tế, nhận thức chung của người Việt Nam về các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm chưa cao, họ chưa thấy cần thiết, hoặc cũng có thể do tập quán, thói quen kinh doanh, không ai sợ trách nhiệm hoặc trách nhiệm là của tập thể... Ngược lại, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp có phạm vi trách nhiệm khá nặng nề, nên các doanh nghiệp còn e ngại khi triển khai. Mặt khác, lĩnh vực này cũng tiềm ẩn rủi ro liên quan đến trục lợi bảo hiểm, do hành lang pháp lý về lĩnh vực này chưa thực sự chặt chẽ. Trong khi đó, cách tính phí bảo hiểm chưa thống nhất, cụ thể. Vì thế, thị trường này vẫn còn quá nhỏ, dẫn đến cung từ các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước còn hạn chế.

H

iện mới chỉ có một số ít doanh nghiệp bảo hiểm trong nước triển khai bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp như Bảo Việt triển khai bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho kiến trúc sư và kỹ sư tư vấn. Bảo hiểm Bảo Minh Hà Nội cung cấp bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên. CTCP Bảo hiểm Quân đội (MIC) triển khai sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp áp dụng cho các cá nhân, tổ chức hành nghề chuyên môn như kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn thiết kế, luật sư, bác sĩ, công chứng viên, giám định viên, môi giới chứng khoán... Phạm vi bảo hiểm bao gồm bảo hiểm các trách nhiệm pháp lý đối với các khiếu nại đòi bồi thường đưa ra đối với người được bảo hiểm do việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp khi người được bảo hiểm hoặc người thay mặt người được bảo hiểm hành nghề chuyên môn có hành động sai sót hoặc thiếu sót mà người được bảo hiểm phạm phải hoặc bị cáo buộc là phạm phải. Bên cạnh đó, MIC đồng ý thanh toán các chi phí và phí tổn phát sinh trong việc chống lại hoặc giải quyết các khiếu nại được bảo hiểm.

Cũng có ý kiến cho rằng, không phải do lĩnh vực bảo hiểm nghề nghiệp không có tiềm năng mà thực tế các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong nước chưa cung cấp các sản phẩm đủ hấp dẫn.

Theo ĐTCK

Monday, 29 November 2010

Hỗ trợ 13% lương để giáo viên mầm non đóng bảo hiểm xã hội


Theo Dự thảo Quyết định của Thủ tướng về việc Quy định hỗ trợ kinh phí đóng bảo hiểm xã hội đối với giáo viên mầm non đang được Bộ Giáo dục & Đào tạo soạn thảo, Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng quy định 3% của tiền lương tối thiểu để đóng bảo hiểm xã hội. Phần còn lại theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội do cá nhân giáo viên mầm non tự đóng.

Đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ gồm cán bộ quản lý, giáo viên mầm non (sau đây gọi chung là giáo viên mầm non), công tác trong các cơ sở giáo dục mầm non (cơ sở giáo dục mầm non bao gồm: trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập thuộc các loại hình công lập, bán công, dân lập) đáp ứng đủ 4 điều kiện: Đạt trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non (có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm trở lên) theo quy định; Tham gia công tác trong các cơ sở giáo dục mầm non từ trước năm 1995, thời gian công tác thực tế trong các cơ sở giáo dục mầm non đủ 20 năm trở lên; Khi nghỉ việc có đủ điều kiện về tuổi đời theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; Thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 5 năm (từ 1 tháng đến 60 tháng) so với thời gian quy định tại Khoản 1, Điều 50 của Luật Bảo hiểm xã hội; Chưa nhận chế độ bảo hiểm xã hội 1 lần, có nguyện vọng đóng tiếp bảo hiểm xã hội để đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Thời gian hỗ trợ cho mỗi giáo viên mầm non quy định từ 1 tháng đến 60 tháng (cho số tháng còn thiếu so với thời gian tối thiểu 20 năm) tham gia đóng bảo hiểm xã hội để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí.

Khuyến khích các địa phương, cơ sở giáo dục mầm non hỗ trợ thêm kinh phí đóng bảo hiểm xã hội để giáo viên mầm non thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2, Điều 1 được tham gia đóng, hưởng bảo hiểm xã hội trên mức tiền lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định.

Kinh phí hỗ trợ được cấp một lần cho đối tượng hưởng tại thời điểm hết tuổi lao động. Đối với những người đã hết tuổi lao động trước thời điểm Quyết định này có hiệu lực cấp vào năm tài chính 2011.

Tháng 6 hàng năm, cán bộ quản lý và giáo viên mầm non thuộc đối tượng được hưởng chính sách, hết tuổi lao động vào năm kế tiếp, làm đơn và hồ sơ theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi cơ sở giáo dục mầm non nơi đang công tác để tổng hợp gửi phòng giáo dục và đào tạo.

Hàng năm, cơ sở giáo dục mầm non sử dụng lao động có trách nhiệm lập danh sách các đối tượng được hưởng chính sách, kèm hồ sơ liên quan và dự toán kinh phí gửi phòng giáo dục và đào tạo thuộc quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh để tổng hợp, gửi cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định, làm căn cứ phân bổ kinh phí.

Phòng giáo dục và đào tạo thuộc quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh chịu trách nhiệm tiếp nhận, cấp kinh phí hỗ trợ cho đối tượng được hưởng, quản lý và quyết toán kinh phí hỗ trợ theo các quy định hiện hành của Nhà nước.

Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước, Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về xây dựng dự toán ngân sách nhà nước; căn cứ số lượng đối tượng, xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ, tổng hợp chung trong dự toán chi ngân sách nhà nước của địa phương gửi Bộ Tài chính cùng thời gian báo cáo dự toán ngân sách Nhà nước năm kế hoạch.

Nguồn kinh phí thực hiện chi hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại dự thảo Quyết định được cân đối trong dự toán chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo hàng năm của các địa phương.

Ngân sách Trung ương hỗ trợ các địa phương theo nguyên tắc: ngân sách Trung ương hỗ trợ 100% nhu cầu kinh phí đối với các tỉnh, thành phố chưa tự cân đối được ngân sách, hỗ trợ 50% đối với các địa phương có tỉ lệ điều tiết về ngân sách Trung ương dưới 50%; các tỉnh, thành phố còn lại, ngân sách địa phương tự đảm bảo theo phân cấp ngân sách hiện hành.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể việc thu, nộp bảo hiểm xã hội đối với giáo viên mầm non, thực hiện giải quyết chính sách và quản lý nguồn thu theo quy định của pháp luật.

Bộ Tài chính hướng dẫn việc cấp phát kinh phí hỗ trợ cho đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 1, có đủ điều kiện hưởng hỗ trợ quy định tại Khoản 1 Điều 2 Quyết định này.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định về hồ sơ và hướng dẫn thủ tục xin hỗ trợ kinh phí cho đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 1 của Quyết định này.

Dự kiến chế độ hỗ trợ nêu trên chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2010.


(Theo Efinance)

Tập đoàn Bảo Việt nhiều sai sót, thu hồi 20 tỷ đồng

Giao dịch tại sàn chứng khoán Bảo Việt. Ảnh Phạm Yên..
Kết thúc quá trình thanh tra Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt, Thanh tra Chính phủ (TTCP) phát hiện nhiều thiếu sót, khuyết điểm trong công tác đầu tư xây dựng, đầu tư tài chính, thực hiện bồi thường bảo hiểm...

Theo đó, TTCP kiến nghị lãnh đạo tập đoàn Bảo Việt chỉ đạo họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm, chấn chỉnh kịp thời những bất cập, có hình thức xử lý đối với các tập thể cá nhân liên quan đến thiếu sót, khuyết điểm; yêu cầu Bảo Việt thu hồi hơn 20 tỷ đồng từ các đơn vị, nộp về tài khoản tạm giữ chờ xử lý của cơ quan thanh tra.

Nhiều sai sót trong hoạt động bảo hiểm

Qua thanh tra cho thấy, Tập đoàn Bảo Việt cùng các đơn vị thành viên mắc những sai sót trong cho vay, ủy thác cho vay và cả hoạt động bảo hiểm.

TTCP đánh giá, Tổng Công ty (Cty) Bảo hiểm Việt Nam và các đơn vị đã thiếu chặt chẽ trong quản lý tài sản đảm bảo khoản vay nợ, chậm thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ vay, khiến nhiều khoản nợ rơi vào tình trạng thả gà ra đuổi như khoản nợ 4,6 tỷ đồng (gồm cả lãi) cho Cty TNHH Dòng Sông Xanh vay từ năm 1999, nay phải khởi kiện ra tòa; khoản tiền 3 triệu USD ủy thác cho Cty TNHH Đèn hình Orion Hanel vay, đến nay vẫn còn hơn 2 triệu USD chưa đòi được, trong khi Cty này đã nộp đơn xin phá sản.

Kiểm tra xác suất một số hồ sơ bồi thường bảo hiểm tại một số Cty bảo hiểm trực thuộc Tổng Cty Bảo hiểm Bảo Việt cho thấy, nhiều hồ sơ được bồi thường trái nguyên tắc. Đơn cử: Kiểm tra 11 hồ sơ bồi thường bảo hiểm hàng hóa cho Cty Thương mại XNK Thanh Lễ (Bình Dương) và 2 hồ sơ bảo hiểm hàng hóa cho Cty TNHH Vedan Việt Nam (Đồng Nai) phát hiện có việc sửa đổi bổ sung đơn bảo hiểm về tên tàu vận chuyển, số vận đơn, số lượng hàng, giá cả được thực hiện khi việc bốc dỡ lên tàu đã hoàn thành.

Hoặc Cty Bảo Minh còn cấp đơn bảo hiểm cho Ban quản lý dự án đường Hồ Chí Minh sau ngày xảy ra tổn thất, phí bảo hiểm đơn vị mua còn chưa nộp.

Ngoài những sai sót trên, TTCP còn yêu cầu Tổng Cty Bảo hiểm Bảo Việt và các đơn vị thành viên chấn chỉnh ngay những khuyết điểm khác về thủ tục, trình tự thực hiện bồi thường bảo hiểm...

680 tỷ đồng đầu tư... mắc cạn

Qua kiểm tra hoạt động đầu tư tài chính, TTCP phát hiện, từ năm 2007 – 2009, Tập đoàn Bảo Việt và các đơn vị thành viên mua 680 tỷ đồng trái phiếu của Tập đoàn Vinashin (bao gồm cả số trái phiếu Cty TNHH Quản lý quỹ Bảo Việt mua theo ủy thác của quỹ BVF1). Trong đó, giá trị mệnh giá trái phiếu đáo hạn trong các năm 2012, 2013 là 200 tỷ đồng; trái phiếu đáo hạn trong năm 2017 là 480 tỷ đồng. Tuy nhiên, loại trái phiếu của Vinashin mà Bảo Việt cùng các đơn vị thành viên đã đầu tư là trái phiếu doanh nghiệp không có bảo đảm.

Cơ quan chức năng nhận định, ngay khi đầu tư 160 tỷ đồng vào trái phiếu của Vinashin phát hành tháng 12-2008, các phòng ban chuyên môn của Bảo Việt và các đơn vị thành viên đã không nắm đầy đủ thông tin về thực trạng hoạt động kinh doanh của tập đoàn này. Việc đầu tư trong tình trạng thiếu thông tin đã khiến một số tiền lớn của Bảo Việt và các Cty con mắc kẹt tại đây.

Bên cạnh đó, nhiều khoản đầu tư tài chính của Bảo Việt vào một số Cty, quỹ đầu tư đều không có kết quả tốt do các đơn vị này bị thua lỗ. Cụ thể: Tại thời điểm 31-12-2009, Cty CP Chứng khoán Bảo Việt lỗ lũy kế hơn 122,2 tỷ đồng; Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Long lỗ 112,8 tỷ đồng; Quỹ đầu tư chứng khoán Bảo Việt chỉ còn 95,2% giá trị đơn vị quỹ so với khi mới thành lập.

Ngoài ra, TTCP cũng chỉ ra việc kém hiệu quả trong hoạt động đầu tư kinh doanh dịch vụ du lịch, bất động sản, vui chơi giải trí của Bảo Việt.

(Theo Tiền Phong)

Sunday, 21 November 2010

Không tính hưởng chế độ ốm đau, thai sản vào bảo hiểm xã hội tự nguyện

Ảnh minh hoạ.
Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc thì thời gian đóng BHXH tự nguyện không được tính hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN).

Theo quy định của Luật BHXH, BHXH tự nguyện bao gồm hai chế độ: Chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Từ việc thiết kế các chế độ BHXH tự nguyện, nguồn hình thành Quỹ BHXH tự nguyện cơ bản do người lao động đóng. Mức đóng hàng tháng bằng 16% mức thu nhập mà người lao động lựa chọn đóng; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%. Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH tự nguyện được thay đổi tùy theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung. Quỹ này được sử dụng để chi trả chế độ hưu trí và chế độ tử tuất cho người lao động tham gia BHXH tự nguyện.

Trong khi Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định năm chế độ, bao gồm: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ TNLĐ-BNN, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất. Nguồn quỹ BHXH bắt buộc được hình thành chủ yếu do cả người sử dụng lao động và người lao động tham gia BHXH bắt buộc đóng. Quỹ này được sử dụng để chi trả các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí và tử tuất cho người lao động tham gia BHXH bắt buộc.
Mức đóng hàng tháng của người sử dụng lao động được xác định trên cơ sở tỷ lệ phần trăm (%), quỹ tiền lương, tiền công đóng BHXH của người lao động tham gia BHXH bắt buộc. Theo đó, người sử dụng lao động đóng bằng 3% quỹ tiền lương, tiền công vào quỹ ốm đau và thai sản; đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công vào quỹ TNLĐ-BNN; đóng bằng 11% quỹ tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất. Từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%.

Hàng tháng, người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%.

Đối với người lao động quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Luật BHXH đóng bằng 1% mức lương tối thiểu chung đối với mỗi lao động vào quỹ TNLĐ-BNN; đóng bằng 16% mức lương tối thiểu chung đối với mỗi lao động vào quỹ hưu trí và tử tuất, từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.

Trên cơ sở mức đóng và nguồn hình thành các quỹ BHXH, người lao động tham gia BHXH bắt buộc được hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí và tử tuất; người lao động tham gia BHXH tự nguyện chỉ được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.


(Theo Efinance)

Friday, 19 November 2010

BHYT được áp dụng bắt buộc đối với Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam và Thân nhân người lao động

Ngày 11/08/2009 Bộ Yê tế và Bộ Tài Chính ban hành thông tư số 09/TTLT-BYT-TC hướng dẫn thực hiện Luật Bảo hiểm Y tế và Nghị định 62/2009/NĐ-CP ngày 27/07/2009.

Theo những văn bản luật của nhà nước đã ban hành nêu trên thì Người lao động kể cả Người nước ngoài đang làm việc tại Việt nam và thân nhân người lao động cũng là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc cụ thể như sau:

  1. Người nước ngoài làm việc với hợp đồng lao động từ đủ 03 tháng trở lên trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp sau:
    • Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư;
    • Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
    • Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội- nghề nghiệp và tổ chức xã hội khác;
    • Cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên tham gia có quy định khác;
    • Các tổ chức khác có sử dụng lao động được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

    Cũng là đối tượng tham gia BHYT bắt buộc với cách thức đóng và mức đóng như sau:

    • Mức đóng:
      • Từ ngày 01/10/2009 mức đóng BHYT là 3% tiền lương tiền công hàng tháng ghi trong hợp đồng của Người lao động. Trong đó: Người sử dụng lao động trích đóng 2%; Người lao động trích đóng 1%. Và mức tiền lương, tiền công tối đa để tính mức đóng BHYT là 20 lần mức lương tối thiểu chung (hiện tại là 650.000 đồng x 20 = 13.000.000 đồng)
      • Từ ngày 01/01/ 2010 mức đóng BHYT là 4,5% tiến lương tiền công hàng tháng ghi trong hợp đồng của Người lao động. Trong đó: Người sử dụng lao động trích đóng 3%; Người lao động trích đóng 1.5%. Mức tiền lương, tiền công tối đa để tính mức đóng BHYT là 20 lần mức lương tối thiểu chung.
    • Phương thức đóng: Hằng tháng, Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHYT cho người lao động và trích tiền đóng BHYT từ tiền lương, tiền công của Người lao động để nộp cùng một lúc vào quỹ BHYT.
    • Đồng thời, theo tinh thần của Luật Bảo hiềm Y tế và những văn bản hướng dẫn thi hành thì Thân nhân của họ cũng là đối tượng tham gia BHYT như ở phần (2)

    Tuy nhiên, đến nay Cơ quan BHYT địa phương vẫn chưa có hướng dẫn hay yêu cầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức doanh nghiệp và các cá nhân nước ngoài trong việc tham gia đóng BHYT theo qui định trong những văn bản trên. Cũng như chưa xác định trường hợp Thân nhân của Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có được là đối tượng tham gia BHYT tại Việt Nam không và điều kiện như thế nào?

  2. Thân nhân người lao động theo qui định tại Khoản 23, Điều 12 Luật BHYT:
    • Đối với đối tượng là Thân nhân của Người lao động qui định tại Khoản 23, Điều 12 Luật BHYT đã được định nghĩa rõ trong thông tư 09/2009/TTLT-BYT-TC bao gồm: bố, mẹ đẻ; bố, mẹ vợ hoặc chồng; bố, mẹ nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp mà người lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng và sống trong cùng hộ gia đình.
    • Thời gian bắt đầu tham gia BHYT bắt buộc là từ ngày 01/01/2014
    • Mức đóng BHYT là 3% mức lương tối thiểu chung và do Người lao động đóng
    • Phương thức đóng: Người lao động có trách nhiệm kê khai danh sách Thân nhân của mình, gửi Người lao động để đăng ký mua Thẻ BHYT và Hằng tháng, căn cứ vào danh sách Thân nhân của Người lao động đăng ký, Người sử dụng lao động có trích nhiệm trích từ tiền công, tiền lương của Người lao động để đóng vào quỹ BHYT cùng việc nộp BHYT của Người lao động.
    • Việc giảm đóng BHYT cho đối tượng là Thân nhân của Người lao động được qui định cụ thể trong Khoản 6, Điều 3 Nghị định 62/2009/NĐ-CP và Điểm b, Khoản 3, Điều 2 Thông tư 09/2009/TTLT-BYT-TC thì: Người lao động có từ 2 Thân nhân trở lên sẽ được giảm mức đóng cho các Thân nhân cụ thể như sau:
      • Người thứ nhất đóng bằng mức qui định (100% x 3% x Mức lương tối thiểu chung)
      • Người thứ hai đóng bằng 90% của người thứ nhất (90% x 3% x Mức lương tối thiểu chung)
      • Người thứ ba đóng bằng 80% của người thứ nhất (80% x 3% x Mức lương tối thiểu chung)
      • Người thứ tư đóng bằng 70% của người thứ nhất (70% x 3% x Mức lương tối thiểu chung)
      • Người thứ 5 trở đi đóng bằng 60% của người thứ nhất (60% x 3% x Mức lương tối thiểu chung)
  3. Những qui định về mức đóng và trách nhiệm đóng BHYT cho những trường hợp đặc biệt như sau:
    • Trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT theo qui định tại Điều 12 Luật BHYT thì đóng BHYT theo đối tượng đầu tiên mà người đó được xác định theo thứ tự của các đối tượng qui định của Điều 12 Luật BHYT.
    • Trường hợp Người lao động có thêm một hoặc nhiều hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đồng xác định thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên thì đóng BHYT theo hợp đồng lao động có mức tiền công tiền lương cao nhất.

Đây là chính sách của Nhà nước nhằm mở rộng BHYT hướng đến chăm sóc sức khỏe toàn dân, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người thân của những Người lao động, đảm bảo chia sẽ rũi ro giữa những tham gia BHYT trong đó có Người lao động.

Monday, 23 August 2010

Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Hỏi:
Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp như thế nào ?
Trả lời:
Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

- Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

- Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội.

(Theo DDDN)

Không đóng bảo hiểm cho người lao động: Phạt tới 30 triệu đồng




Người sử dụng lao động nếu không đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì bị phạt từ 1-30 triệu đồng (quy định cũ là từ 100 nghìn đến 20 triệu đồng), xét theo mức độ vi phạm với từ 1-501 lao động trở lên, đồng thời phải truy nộp số tiền BHXH chưa đóng.

Đồng thời người sử dụng lao động có hành vi vi phạm trên còn bị buộc đóng số tiền lãi của số tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt.

Khi áp dụng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với 1 hành vi vi phạm là mức trung bình của khung tiền phạt tương ứng với hành vi đó được quy định tại Nghị định số 86/2010/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành, thay thế Nghị định số 135/2007/NĐ-CP ngày 16/8/2007.

Nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể thấp hơn nhưng không được dưới mức thấp nhất của khung phạt tiền đã được quy định; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể cao hơn nhưng không vượt quá mức cao nhất của khung phạt tiền đã được quy định.

Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH là 30 triệu đồng.

Phạt 1 - 5 triệu đồng nếu làm giả hồ sơ BHXH

Với người lao động, nếu có hành vi làm giả hồ sơ để hưởng chế độ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt tiền từ 1-5 triệu đồng. Hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu hồ sơ giả và phương tiện, công cụ sử dụng để làm giả hồ sơ. Theo quy định cũ, với hành vi này, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đến 1 triệu đồng.

Người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100-300 nghìn đồng. Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc truy nộp số tiền BHXH, bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày giao quyết định xử phạt; buộc đóng số tiền lãi của số tiền BHXH, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt.

Tăng mức phạt với hành vi sử dụng quỹ BHXH bắt buộc không đúng quy định

Tổ chức BHXH và cơ quan, tổ chức khác có hành vi quản lý, sử dụng quỹ BHXH bắt buộc, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, quỹ BHXH tự nguyện không đúng quy định bị phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng (quy định cũ 1 - 5 triệu nếu vi phạm lần 1, 5 - 10 triệu nếu vi phạm lần 2).

Những đối tượng này nếu có hành vi chi trả không đúng mức hoặc chi trả không đúng thời hạn chế độ BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tự nguyện bị phạt tiền từ 3 - 6 triệu đồng (quy định cũ 100 nghìn đến 1 triệu đồng) và buộc giải quyết đúng chế độ cho người lao động trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt.

Nghị định mới có hiệu lực thi hành từ 1/10/2010 và không áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm mang tính kinh doanh.

(Theo VPG News)

Popular Posts