Thursday, 12 May 2011

Minh bạch là cái gốc để giữ gìn uy tín

Xem hình

Bà Thái Thị Thanh Hải, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Deloitte Việt Nam cho rằng, vẫn còn nhiều hạn chế trong minh bạch thông tin của DN niêm yết. Thậm chí, một bộ phận DN có xu hướng "làm đẹp" thông tin hoặc cung cấp thông tin phiến diện theo hướng chỉ công bố thông tin tốt.

Là DN đầu tiên trong ngành kiểm toán độc lập Việt Nam và gắn bó với DN niêm yết trên TTCK ngay từ ngày đầu thành lập, Deloitte Việt Nam "chấm điểm" thế nào về ý thức minh bạch thông tin của DN niêm yết, thưa bà?

Minh bạch thông tin là một công cụ hữu hiệu để DN tạo dựng uy tín và thể hiện trách nhiệm với NĐT. Chặng đường 20 năm phát triển của ngành kiểm toán độc lập và 10 năm hoạt động của TTCK Việt Nam đã chứng minh kiểm toán là một công cụ hữu hiệu để nâng cao tính minh bạch của thị trường, cũng như ý thức của các DN về công khai thông tin. Cùng với sự phát triển của TTCK, hiệu quả của các công cụ quản lý thị trường, trong đó có kiểm toán, các DN đã và đang có những chuyển biến tích cực về nhận thức đối với minh bạch hóa thông tin.

Tuy nhiên, sự ảm đạm của TTCK hiện tại và những khó khăn trong tiếp cận các kênh cung cấp vốn đang tạo sức ép đối với các DN công bố thêm các thông tin về hiệu quả hoạt động, cũng như triển vọng trong tương lai để qua đó thu hút sự quan tâm của NĐT, đặc biệt là các NĐT dài hạn và chuyên nghiệp. Hiện vẫn còn nhiều hạn chế trong công khai thông tin của các DN niêm yết. Điều này thể hiện rõ qua thông tin không được cung cấp đầy đủ cho NĐT, thông tin không chính thống và thậm chí thông tin được công bố không nhất quán vẫn còn tồn tại khá nhiều. Một điểm nữa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tính minh bạch là chất lượng thông tin chưa ổn, bởi thông tin được công bố chung chung, không có giá trị; thông tin thiếu diễn giải và khó hiểu; thông tin không đáng tin cậy và thông tin được công bố chậm.

Thưa bà, các DN kiểm toán, trong đó có Deloitte thường gặp những khó khăn nào khi nỗ lực làm minh bạch thông tin của DN thông qua hoạt động kiểm toán?

Khó khăn đến từ nhận thức của DN đối với yêu cầu về minh bạch thông tin. Trong nhiều trường hợp, hiệu quả công bố thông tin của DN chưa được rõ ràng, nhưng lại khiến họ tốn thời gian và chi phí, nên đang cản trở quyết định công bố thông tin của DN. Một lý do thường được các DN viện dẫn khi từ chối công bố thông tin là bí mật thương mại. Một số DN có xu hướng "làm đẹp" thông tin về DN hoặc cung cấp thông tin phiến diện theo hướng chỉ công bố thông tin tốt. Trước thực tế này, chúng tôi luôn tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong đánh giá và đưa ra ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính của DN. Bên cạnh đó, như người bạn đồng hành, nhà tư vấn của DN, chúng tôi luôn nỗ lực trợ giúp DN nhận thức đúng đắn về minh bạch thông tin, những lợi ích to lớn và lâu dài mà DN có được khi minh bạch hóa thông tin.

Theo bà, để DN niêm yết minh bạch thông tin hơn thì cơ quan quản lý cũng như các DN cần ưu tiên cải thiện những gì?

Các nhà quản lý cần nghiên cứu xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ hơn về công bố thông tin. Bên cạnh các thông tin tài chính cũng cần quy định, định hướng và hướng dẫn các DN trong công bố các thông tin phi tài chính có ảnh hưởng đến quyết định của NĐT. Cũng cần có chế tài cụ thể và phù hợp để xử lý các trường hợp vi phạm. Về phía DN, cần nhận thức rõ hơn về lợi ích cũng như xu thế tất yếu phải minh bạch thông tin, để từ đó có những hành động và các bước chuẩn bị phù hợp. Để đáp ứng yêu cầu minh bạch thông tin, các DN cũng cần hoàn thiện hệ thống quản trị thông tin, đầu tư nguồn lực hoàn thiện các chức năng phân tích, dự báo, lập kế hoạch…

Về phía DN kiểm toán, theo bà, cần nỗ lực như thế nào để góp phần nâng cao ý thức minh bạch thông tin của các DN niêm yết?

Tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là yêu cầu luôn đặt lên hàng đầu. Điều này không chỉ đóng góp chung vào nỗ lực minh bạch hóa thị trường, mà còn trợ giúp tích cực cho các đối tác của Deloitte trong việc tạo dựng uy tín và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đối với các DN kiểm toán nói chung, thiết nghĩ, chất lượng dịch vụ cần được đặt lên hàng đầu. Hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán cũng là một vấn đề quan trọng. Luật Kiểm toán độc lập được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ năm 2012 là một sự kiện quan trọng đối với ngành kiểm toán. Tuy nhiên, cần có các hướng dẫn để Luật có thể đi vào đời sống và phát huy hiệu quả.

(Theo ĐTCK)

Sẽ có kiểm toán viên tại đại hội cổ đông công ty

Xem hình

Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đang lấy ý kiến các bộ ngành cho thông tư hướng dẫn về quản trị công ty đại chúng. Trong đó, đối với các công ty đại chúng quy mô lớn, nếu trong báo cáo tài chính có các điểm ngoại trừ trọng yếu thì kiểm toán viên độc lập phải có mặt tại cuộc họp đại hội đồng cổ đông của công ty để giải trình về các điểm ngoại trừ.

Đây là một điểm mới chưa từng được đề cập trước đây, ông Bùi Hoàng Hải, Phó trưởng ban quản lý niêm yết của UBCKNN nói. Theo dự thảo thông tư, công ty đại chúng quy mô lớn là công ty có vốn điều lệ thực góp từ 120 tỉ đồng trở lên và có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông.

Ông Hải cho biết, theo góp ý của các chuyên gia nước ngoài, vấn đề nói trên rất quan trọng và nên áp dụng cho tất cả các công ty đại chúng chứ không chỉ cho riêng các công ty có quy mô lớn như trong dự thảo.

Tuy nhiên, hiện Việt Nam có khoảng 1.600 công ty đại chúng và việc tổ chức cuộc họp đại hội đồng cổ đông diễn ra tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 trong khi số lượng kiểm toán viên độc lập còn rất ít, nên các kiểm toán viên không thể cùng lúc có mặt tại nhiều công ty được. Vì thế, bước đầu UBCKNN cân nhắc chỉ áp dụng quy định này với các công ty lớn, ông Hải nói.

Ông Hải cũng cho biết điểm mới của dự thảo thông tư này là phạm vi áp dụng không chỉ cho các công ty niêm yết mà cả công ty đại chúng, vì hiện nay nhiều ngân hàng cổ phần có rất nhiều cổ đông cá nhân nhưng chưa được điều chỉnh bởi các quy chế về quản trị công ty. Thông tư này dự kiến sẽ có hiệu lực vào đầu tháng 7.

Dự thảo thông tư mới cũng yêu cầu cao hơn về minh bạch thông tin khi yêu cầu các công ty phải công bố thông tin về thu nhập, sơ yếu lý lịch, quan hệ, kể cả thu nhập và quyền lợi của các thành viên HĐQT, ban giám đốc từ các công ty con của doanh nghiệp. “Hiện thành viên HĐQT nhiều công ty báo cáo không có thu nhập cao từ chính công ty đó nhưng lại có nguồn thu rất lớn từ công ty con của công ty đó mà không hề báo cáo. Các chi tiết này sẽ buộc phải báo cáo theo dự thảo thông tư mới”, ông Hải nói.

Bà Anne Molyneux, Giám đốc CS International – một hãng tư vấn toàn cầu, và cũng là chuyên gia quốc tế về quản trị công ty, cho biết quản trị công ty không phải là tất cả nhưng là một phần được xem xét khi nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư vào một công ty.

“Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh với các quốc gia khác trong việc thu hút vốn đầu tư dài hạn từ nước ngoài, và cải thiện tốt việc quản trị công ty sẽ đóng góp tốt hơn trong việc cạnh tranh này”, bà Molyneux nói.



(Theo TBKTSG)

Tuesday, 10 May 2011

Dự thảo: Cá nhân đi nước ngoài được mua ít nhất 100 USD/ngày

NHNN đang lấy ý kiến thành viên về việc quy định các cá nhân có nhu cầu ngoại tệ chính đáng được mua tối thiểu 100 USD/người/ngày trong khoản thời gian lưu trú tối đa 10 ngày.

NHNN đang xin ý kiến các thành viên về dự thảo Thông tư Quy định việc mua, bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với các tổ chức cung ứng dịch vụ ngoại hối. Ý kiến gửi về cho Vụ quản lý ngoại hối trước ngày 1/6/2011. Nếu được thông qua, thông tư này sẽ có hiệu lực từ 1/7/2011.

Theo đó, đối tượng áp dụng là các cá nhân muốn mua ngoại tệ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu chi tiêu liên quan đến việc họp tập, chữa bệnh ở nước ngoài, đi công tác, du lịch, thăm thân nhân ở nước ngoài. Đối với các nhu cầu ngoại tệ khác, cá nhân có thể sử dụng thẻ ngân hàng hoặc mua ngoại tệ dưới hình thức chuyển khoản.

Mỗi cá nhân sẽ được mua tối thiểu ương đương 100 USD/1người/1ngày trong khoảng thời gian lưu trú ở nước ngoài tối đa là 10 (mười) ngày. Tùy theo nhu cầu thực tế, cá nhân là công dân Việt Nam có thể mua ngoại tệ tiền mặt với số lượng ít hơn mức trên.

TCTD có thể bán ngoại tệ cho công dân Việt nam vượt mức quy định trên trên cơ sử tự cân đối nguồn ngoại tệ tiền mặt.

Hàng tháng, chậm nhất ngày 10 (mười) tháng sau, tổ chức cung ứng dịch vụ ngoại hối thực hiện báo cáo cho NHNN về tình hình mua, bán ngoại tệ tiền mặt phát sinh trong tháng trên địa bàn đó.

Trước đó, NHNN cũng lấy ý kiến thành viên về quy định cá nhân mang ngoại tệ bằng tiền mặt quá 5.000 USD hoặc các ngoại tệ có giá trị tương đương, hoặc 15 triệu Việt Nam đồng sẽ phải khai báo Hải quan.

Phương Mai
Theo SBV

'Nền lương tối thiểu của Việt Nam quá thấp'

Theo Nghị định 203 năm 2004, lương tối thiểu được tính dựa trên ba yếu tố cơ bản gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt tiêu dùng (CPI) và quan hệ cung cầu lao động.
Lương tối thiểu tăng nhưng người lao động sống không đủ là do giá cả thiết yếu tiêu dùng đẩy quá cao, tích lũy của người lao động ít, không đảm bảo mức sống - ông Hoàng Minh Hào, Vụ phó Vụ Tiền lương - Tiền công (Bộ LĐ-TB&XH) cho biết.

Quanh câu chuyện tăng lương cơ bản từ 1/5/2011, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Minh Hào, Vụ phó Vụ Tiền lương - Tiền công (Bộ LĐ-TB&XH).

Xin ông cho biết mức lương tối thiểu tăng được tính dựa trên những yếu tố nào?

Ông Hoàng Minh Hào: Theo Nghị định 203 năm 2004, lương tối thiểu được tính dựa trên ba yếu tố cơ bản gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt tiêu dùng (CPI) và quan hệ cung cầu lao động. Trong đó quan hệ cung cầu lao động thực ra là mức tiền công trên thị trường lao động.

Tuy nhiên, lương tối thiểu tăng còn phải tính đến dựa trên khả năng chi trả của ngân sách nhà nước và khả năng chi trả của doanh nghiệp.

Vậy việc tăng lương tối thiểu lần này có gây khó khăn cho doanh nghiệp không?

Không có gì khó khăn cả, vì tăng lương đã được tính toán căn cứ vào mức lương thực tế hiện nay doanh nghiệp trả cho người lao động. Theo tính toán, điều tra của Bộ LĐ-TB&XH, so với mức lương từ 730.000 tăng lên 830.000 đồng/tháng thì ở vùng 4 chỉ có 1,2-1,3% số doanh nghiệp không thực hiện được.

Tuy nhiên ở đây phải nhìn nhận, mức lương tối thiểu chỉ là bảo vệ quyền lợi tối thiểu của người lao động. Thực tế thị trường lao động mức lương thường được trả cao hơn nhiều mức lương tối thiểu, cụ thể như thuê người giúp việc cũng phải trả từ 2 đến 2,5 triệu đồng/tháng, chứ nếu trả với mức tối thiểu 830.000 đồng/tháng thì lao động sẽ rất khó sống.

Theo lộ trình tăng lương, đến năm 2012, lương tối thiểu của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) sẽ thống nhất một mức lương chung. Vậy theo ông liệu có thực hiện được không?

Đấy là lộ trình và chúng ta cũng đang cố gắng thực hiện. Còn thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào khả năng chi trả tài chính của doanh nghiệp. Hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu mức lương tối thiểu tăng cao với doanh nghiệp FDI thì cũng là cả vấn đề.

Cứ mỗi lần nghe lương tăng thì giá cả lại tăng theo, thậm chí lương tăng không kịp với giá cả. Vậy ông đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Giá cả là kinh tế tổng hợp và bao giờ nó cũng đẩy lên trước. Thử hỏi nếu giá cả tăng lương không tăng thì người lao động sẽ như thế nào.

Ở đây giá tăng là do nhiều yếu tố tổng hợp như hiện nay nhà nước tăng giá điện là giá đầu vào nên đẩy toàn bộ giá cả tăng theo.

Thực tế lương tăng từ 730.000 đồng lên 830.000 đồng là tăng 13,7%, trong khi trượt giá năm 2010 là 11,75 %, như vậy là lương tăng cao hơn mức trượt giá.

Nhưng tại sao người lao động sống không đủ lại là việc khác, đó là do giá cả thiết yếu tiêu dùng đẩy quá cao, tích lũy của người lao động ít, nền lương tối thiểu của mình thấp không đảm bảo mức sống cho nên khi lương tăng tỷ lệ cao, nhưng tổng tuyệt đối tiền lương của người lao động lại thấp.

Vậy trước thực tế trên, Bộ LĐ-TB&XH đã có đề xuất gì để hỗ trợ đời sống của người lao động?

Trước thực tế đó vì thấy mức lương không đảm bảo nên nhà nước phải thực hiện trợ cấp. Vừa qua Bộ LĐ-TB&XH, Bộ Tài chính và Tổng Liên đoàn cùng một số các Bộ ngành liên qua mới trình Chính phủ qua Quyết định 471 về trợ cấp khó khăn đối với những người có hệ số lương dưới 3,0 hoặc người lao động có mức thu nhập dưới 2 triệu đồng/ tháng, người hưởng lương hưu... thì được trợ cấp trong quý II là 250.000 đồng/quý để đảm bảo an sinh xã hội.

Đối với lương tối thiểu dành cho khối hành chính sự nghiệp có ý kiến cho rằng mức lương này quá thấp không thể giúp họ đảm bảo đời sống ổn định. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

Đấy là do nền lương tối thiểu của mình quá thấp.
Theo Vũ Điệp
VEF

Friday, 6 May 2011

DN ngành kiểm toán: Tăng trưởng và bất cập

Xem hình

Cuộc họp thường niên giám đốc các công ty kiểm toán (CTKT) với Bộ Tài chính và Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) năm 2010/2011 diễn ra trong bối cảnh Luật Kiểm toán độc lập vừa được Quốc hội thông qua.

Luật Kiểm toán độc lập có hiệu lực từ ngày 1/1/2012, đồng thời hai nghị định: hướng dẫn thi hành Luật và hướng dẫn xử lý vi phạm trong lĩnh vực kiểm toán cũng đang được nghiên cứu soạn thảo. Sau khi Luật có hiệu lực, những sai phạm trong lĩnh vực kiểm toán không dừng lại ở chỗ nhắc nhở mà có thể là phạt tiền, rút giấy phép hành nghề, thậm chí xử lý hình sự.

Tăng trưởng 25%

Năm 2010, kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn nhưng hoạt động dịch vụ kiểm toán vẫn có sự phát triển khả quan. Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm qua, doanh thu toàn ngành kiểm toán đạt 2.743 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2009. Đặc biệt, một số công ty thuộc Big 4 đã có lãi để bù đắp số lỗ của năm trước. Ba DN trong nhóm này là đã có lãi 39 tỷ đồng, thay vì lỗ 96 tỷ đồng năm 2009.

Đạt được kết quả trên là do lượng khách hàng năm 2010 tăng mạnh. Theo báo cáo của 149 công ty kiểm toán, năm qua có trên 29.000 khách hàng, tăng 12,2% so với năm 2009. Trong đó, số khách hàng là các công ty cổ phần, DN niêm yết tăng mạnh. Đội ngũ kiểm toán viên và nhân viên chuyên nghiệp cũng được bổ sung. Tính đến 31/12/2010, có 8.694 người làm việc trong các CTKT, trong đó có 1.264 người có chứng chỉ kiểm toán viên. Ngoài ra, có gần 800 người có chứng chỉ kiểm toán viên nhưng không đăng ký hành nghề kiểm toán.

Về cơ cấu dịch vụ, hầu hết công ty đều chú ý đến dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính (chiếm đến 60% tổng doanh thu), còn tư vấn thuế, tài chính chỉ chiếm 20%, tư vấn quản lý 9%, các dịch vụ khác không đáng kể.

Còn nhiều bất cập

Mặc dù số lượng kiểm toán viên đã tăng mạnh trong năm 2010, nhưng vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu nhân sự trong ngành kiểm toán hiện nay. Theo đánh giá của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), mỗi năm đều có các CTKT thành lập mới và có nhiều người được cấp chứng chỉ kiểm toán viên. Tuy nhiên, số lượng kiểm toán viên đăng ký hành nghề lại không tăng tướng ứng. Tính đến thời điểm 28/2/2011, có 49/152 CTKT chỉ có 3 kiểm toán viên.

Ngoài ra, vẫn còn một số công ty thiếu kiểm toán viên nên chưa đủ điều kiện đăng ký hành nghề năm 2011. Tình trạng thiếu hụt này dẫn tới việc kiểm toán viên đã đăng ký hành nghề kiểm toán nhưng vẫn làm bán thời gian hoặc kiêm nhiệm ở các công ty khác, nên không có đủ cấp bậc soát xét hồ sơ kiểm toán. Do đó, khó có thể đảm bảo chất lượng dịch vụ theo yêu cầu.

Sau khi thực hiện kiểm tra chất lượng dịch vụ tại 20 CTKT, VACPA đã phát hiện ra không ít tồn tại. Một số đơn vị, đặc biệt là các công ty mới thành lập, thường quá chú trọng vào việc phát triển khách hàng, khai thác hợp đồng, mà chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng hồ sơ và báo cáo kiểm toán. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kiểm toán viên, nên chất lượng hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu thực tế và chưa đảm bảo tuân thủ các quy định hành nghề.

Phần lớn CTKT được kiểm tra đều chưa thực hiện đầy đủ và đúng quy định của hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành. Báo cáo tài chính được kiểm toán còn nhiều sai sót, thể hiện kiểm toán viên và ban giám đốc của CTKT chưa nắm vững chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành, hoặc có sự dễ dãi, thỏa hiệp với khách hàng khi không yêu cầu điều chỉnh những bút toán có giá trị cao hơn mức trọng yếu đã xác định, đồng thời cũng không nêu ý kiến trên báo cáo kiểm toán. Hồ sơ kiểm toán còn thiếu bằng chứng về các thủ tục đã thực hiện và chưa đủ căn cứ để làm cơ sở cho ý kiến kiểm toán.

Luật Kiểm toán độc lập ra đời với một số điểm mới như điều kiện thành lập CTKT (5 kiểm toán viên thay vì 3 người như trước đây), quy định rõ giá trị của báo cáo kiểm toán, trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ kiểm toán và bên được kiểm toán, những điểm không được ngoại trừ trong báo cáo kiểm toán… được kỳ vọng sẽ khắc phục những tồn tại, hạn chế trong ngành kiểm toán những năm qua. Được biết, Bộ Tài chính và VACPA hiện đang gấp rút nghiên cứu, soạn thảo các nghị định hướng dẫn thi hành Luật để có thể trình Chính phủ ban hành cùng vào thời điểm 1/1/2012.

(Theo ĐTCK)

Thursday, 5 May 2011

Áp dụng mức phí môi giới chứng khoán mới

Mức phí mới mà các công ty chứng khoán được thu là từ 0,15% - 0,5% giá trị giao dịch, với trái phiếu là 0,02% - 0,1% giá trị giao dịch.

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư quy định phí môi giới mua, bán chứng khoán (áp dụng cho cả chứng khoán đăng ký giao dịch tại UPCOM) đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ mà các công ty chứng khoán thu là từ 0,15% đến 0,5% giá trị giao dịch, với trái phiếu là 0,02% đến 0,1% giá trị giao dịch.

Ngoài mức phí trên, Thông tư cũng quy định mức phí bảo lãnh phát hành mà các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại được thu là từ 0,5% đến 2% tổng giá trị bảo lãnh phát hành đối với cổ phiếu.

Còn với các công ty quản lý quỹ chỉ được thu tối đa 2%/giá trị vốn uỷ thác bình quân/nămđối với phí quản lý danh mục đầu tư và tối đa 2%/giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) hoặc giá trị tài sản ròng của danh mục/năm với phí quản lý quỹ đầu tư.

Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2011.

(Theo DDDN)

Deloitte Việt Nam - 20 năm phát triển và thành công

Deloitte Việt Nam - 20 năm phát triển và thành công


Nhằm mục đích chúc mừng cho những thành tựu Deloitte Việt Nam đã đạt được, cũng như để tri ân tới tất cả các khách hàng, đối tác – những người đã luôn đồng hành cùng Deloitte Việt Nam gặt hái những thành công lớn trong 20 năm qua, Công ty TNHH Deloitte Việt Nam sẽ tổ chức “Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập – Chặng đường Thành công” tại Khách sạn Melia Hà Nội vào ngày 6/5/2011.

Nguyễn Hải Yến - Deloitte VN

Sự thành lập

Ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam hình thành từ năm 1991, bằng việc thành lập công ty kiểm toán đầu tiên vào ngày 13/5/1991 – Công ty kiểm toán Việt Nam VACO (Tiền thân của Deloitte Việt Nam). Qua 20 năm hoạt động, kiểm toán độc lập đã phát triển nhanh về số lượng và quy mô; trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ kiểm toán viên. Chặng đường 20 năm phát triển của Deloitte gắn liền với sự phát triển Ngành kiểm toán Việt Nam. Trong suốt chặng đường ấy, Deloitte thực sự là một điểm sáng trong ngành Kiểm toán và Tư

vấn của Việt Nam. Sự thành công của Deloitte Việt Nam là minh chứng rõ nét cho chiến lược phát triển Công ty đúng đắn của Bộ Tài chính Việt Nam và Ban lãnh đạo VACO - Deloitte.

Ngay sau khi thành lập, vào năm 1992, VACO đã ký biên bản hợp tác với Deloitte Touche Tohmatsu Quốc tế (DTT) – hãng Kiểm toán và Tư vấn hàng đầu thế giới. Sau 3 năm hợp tác, Ban lãnh đạo Công ty đã đi đến quyết định quan trọng, đó là thành lập Liên doanh kiểm toán VACO – DTT vào tháng 5/1995. Đây là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong sự phát triển của Deloitte Việt Nam – bước đi đánh dấu giai đoạn hội nhập của Công ty và được đánh giá là một hướng đi mới của ngành Kiểm toán độc lập Việt Nam. Việc liên doanh với hãng Kiểm toán và Tư vấn tên tuổi của quốc tế đã đem đến những cơ hội quý báu để đội ngũ nhân viên của Công ty có cơ hội tiếp cận, học tập và nâng cao trình độ nghiệp vụ và chất lượng dịch vụ lên tầm quốc tế.

Năm 2007, sau nhiều nỗ lực và thách thức, VACO đã trở thành DNNN đầu tiên thực hiện chuyển đổi và chuyển đổi thành công sang mô hình Công ty TNHH nhiều thành viên không có sở hữu Nhà nước; đồng thời, trở thành thành viên đầy đủ của Deloitte toàn cầu và Deloitte Đông Nam Á, chính thức chuyển thành Deloitte Việt Nam.

Thành tựu 20 năm

Qua từng giai đoạn phát triển, Deloitte Việt Nam đã tăng trưởng không ngừng về doanh thu và số lượng nhân viên chuyên nghiệp. Đặc biệt, từ năm 2007, sau khi trở thành thành viên chính thức của hãng Kiểm toán và Tư vấn đứng vị trí số 1 trên thế giới – Deloitte, Deloitte Việt Nam liên tục có mức tăng trưởng doanh thu cao nhất trong số các công ty Kiểm toán và Tư vấn tại Việt Nam.

Những thành tựu mà Deloitte có được thứ nhất là nhờ có định hướng hình thành và phát triển đúng đắn của Công ty; thứ hai là nhờ mô hình khác biệt của Deloitte Việt Nam so với các công ty khác. Không chỉ đơn thuần là công ty thuần túy của Việt Nam hay là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chiến lược phát triển của Deloitte được Bộ Tài chính đưa ra là trở thành Công ty Kiểm toán và Tư vấn Quốc tế của Việt Nam.

Với một trong những chiến lược đặc biệt mà không một công ty Kiểm toán và Tư vấn nào ở Việt Nam áp dụng

– chiến lược “Quốc tế hóa nhân viên”, có thể nói, Deloitte Việt Nam hiện nay đã và vẫn là công ty lớn nhất và duy nhất cho tới thời điểm này có được đội ngũ lãnh đạo và nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo và tôi luyện trong môi trường Quốc tế chuyên nghiệp.

Bên cạnh các hoạt động sự nghiệp trên, trong suốt 20 năm qua, Deloitte luôn thể hiện cam kết xã hội cao bằng việc tích cực đóng góp vào quá trình xây dựng các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động Kiểm toán và Tư vấn tại Việt Nam như Chuẩn mực kế toán Việt Nam, Luật Kiểm toán độc lập, các chính sách Thuế…, góp phần đưa ngành Kiểm toán và Tư vấn của Việt Nam nhanh chóng sánh ngang cùng khu vực và quốc tế. Đồng thời, Deloitte tham gia vào quá trình phổ biến các thông tin liên quan đến văn bản pháp lý tới các doanh nghiệp Việt Nam cũng như lĩnh vực đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nhân sự ngành Tài chính.

Chiến lược hành động mới

Năm 2010, một năm đánh dấu sự thành công lớn của Deloitte khi trở thành hãng Kiểm toán và Tư vấn số 1 trên toàn cầu. Deloitte Việt Nam, một hãng thành viên được đánh giá có tốc độ tăng trưởng nhanh trong số

152 Công ty thành viên của Deloitte Toàn cầu, cũng tự hào đóng góp một phần không nhỏ vào thành công trên. Phát huy những thành công trong 20 năm của một công ty Kiểm toán và Tư vấn hàng đầu của Việt Nam, từ năm

2011, cùng với các hãng thành viên của Deloitte trên toàn cầu, Deloitte Việt Nam đang triển khai chiến lược “AS ONE” – “Một Deloitte” với mục tiêu bảo đảm phục vụ tất cả các khách hàng theo “Một chuẩn mực” trên toàn cầu về chất lượng nhân viên, chất lượng dịch vụ trên tất cả các thị trường mà Deloitte có mặt.

“Năm 2011, Deloitte Việt Nam đã qua 20 năm phát triển và thành công, bắt đầu bước sang một chặng đường phát triển mới. Xác định rõ đây sẽ là một chặng đường với nhiều cơ hội và thành công mới nhưng cũng sẽ đầy thách thức, toàn thể Ban lãnh đạo và nhân viên của Deloitte Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực cao nhất để đem tới khách hàng những dịch vụ giá trị gia tăng chất lượng cao nhất, cùng khách hàng “vươn tới những tầm cao mới”; và từ đó, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của khách hàng, của nghề Kiểm toán độc lập và Tư vấn ở

Việt Nam. Đó chính là mục tiêu phát triển của Deloitte Việt Nam ”. Bà Hà Thị Thu Thanh, Tổng giám đốc Deloitte Việt Nam chia sẻ.

(Nguon www.vacpa.org.vn)

Popular Posts