Sunday, 5 September 2010

Việt Nam lọt vào danh sách 200 công ty tốt nhất châu Á

Vinamilk là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên lọt vào danh sách 200 công ty vừa và nhỏ tốt nhất châu Á của Forbes.

Danh sách Các công ty vừa và nhỏ tốt nhất châu Á của tạp chí Forbes vinh danh 200 doanh nghiệp có doanh thu dưới một tỷ USD hoạt động hiệu quả nhất năm qua. Đây là thống kê mỗi năm một lần và danh sách năm nay được công bố hôm 1/9 vừa rồi.

Danh sách 2010 đặc biệt hơn các năm trước với sự góp mặt lần đầu tiên của một doanh nghiệp đến từ Việt Nam, công ty sữa Việt Nam Vinamilk. Theo tính toán của Forbes, trong 12 tháng qua, doanh thu của Vinamilk đạt 575 triệu USD, xếp hạng 16 trong số 200 công ty. Lợi nhuận ròng là 129 triệu USD, đứng thứ 18 và giá trị thị trường đạt 1,56 tỷ USD, đứng thứ 31.

Vinamilk
Kết quả hoạt động 12 tháng vừa qua của Vinamilk được Forbes thống kê trong danh sách 200 công ty vừa và nhỏ tốt nhất châu Á năm 2010.

Ngoài Việt Nam, New Zealand và Indonesia là hai quốc gia khác cũng chỉ có một đại diện góp mặt trong danh sách 200 công ty vừa và nhỏ tốt nhất châu Á.

Trung Quốc đại lục và Hong Kong chiếm thế thượng phong trong danh sách vì trong số 200 công ty, họ đã góp tới 71 đại diện. Mặc dù vậy, thành tích này vẫn kém năm ngoái với 78 công ty, dù Chính phủ Trung Quốc đã mạnh tay chi 590 tỷ USD cho gói kích thích khồng lồ trong năm vừa qua.

Ấn Độ đứng thứ hai với 39 đại diện, tăng so với 20 công ty hồi năm ngoái. Với đặc điểm của một nền kinh tế ít mở cửa hơn so với nhiều láng giềng châu Á khác, Ấn Độ ít bị ảnh hưởng bởi suy thoái toàn cầu. Mới đây Thủ tướng Manmohan Singh nhận định GDP nước này có thể tăng trưởng 10% trong trung hạn.

Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vẫn đang phục hồi yếu ớt, khiến hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị ảnh hưởng theo. Nếu như năm ngoái Nhật Bản có 20 đại diện góp mặt trong danh sách 200 của Forbes thì năm nay, họ chỉ còn 2 công ty.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, châu Á không những đã giành lại vị thế như trước khủng hoảng, mà còn là đầu tàu kéo đà phục hồi kinh tế thế giới. Danh sách 200 doanh nghiệp vừa và nhỏ phần nào phản ánh nền kinh tế phát triển năng động của khu vực. Bằng chứng là trong số 200 công ty, có tới 151 cái tên mới bổ sung năm nay. Ngành kỹ thuật chiếm ưu thế, chủ yếu là công ty sản xuất phần cứng và phần mềm. Ngoài ra, danh sách cũng có sự góp mặt của nhiều hãng dịch vụ tài chính, xây dựng, thực phẩm.


(Theo Vnexpress)

Mở rộng đối tượng bị xử phạt trên TTCK


Kể từ ngày 20/9, những vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK sẽ bị xử phạt ở mức cao hơn theo Nghị định số 85/2010/NĐ-CP, thay thế Nghị định 36/2007/NĐ-CP. ĐTCK đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đoan Hùng, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) xung quanh việc thực hiện nghị định mới này.

Một trong những điểm mới căn bản của Nghị định số 85/2010/NĐ-CP là nâng mức phạt đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán, tối đa là 500 triệu đồng. Xin ông cho biết cụ thể về quy định này?

Nghị định 36/2007/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK có hiệu lực thi hành từ năm 2007, được xây dựng theo khung trần xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (tối đa đối với lĩnh vực chứng khoán là 70 triệu đồng), nên nhìn chung, các mức xử phạt đều thấp. Do đó, thời gian qua, việc xử lý các vi phạm gặp nhiều khó khăn do khung và mức phạt thấp, thiếu tính răn đe.

Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2008 đã quy định mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán là 500 triệu đồng, nên Nghị định số 85/2010/NĐ-CP đã chỉnh sửa cho phù hợp với Pháp lệnh, khắc phục khó khăn vướng mắc trong thời gian qua, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa vi phạm.

Cụ thể, theo quy định mới, một số hành vi vi phạm điển hình trong lĩnh vực chứng khoán đã được nâng mức phạt tiền đó là: cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi thao túng thị trường sẽ bị phạt tiền từ 200 - 300 triệu đồng; thực hiện hành vi giao dịch nội bộ sẽ bị phạt tiền từ 150 - 200 triệu đồng (quy định cũ phạt cá nhân 30 - 50 triệu đồng, tổ chức 50 - 70 triệu đồng). Ngoài ra, cá nhân, tổ chức còn có thể bị áp dụng biện phạt xử phạt bổ sung là tịch thu toàn bộ khoản thu trái pháp luật từ việc thực hiện hành vi vi phạm.

Cá nhân, tổ chức dù trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào các hoạt động gian lận, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc bỏ sót các thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động phát hành, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán và các dịch vụ chứng khoán; tham gia vào việc công bố thông tin sai lệch nhằm lôi kéo, xúi giục việc mua, bán chứng khoán hoặc không công bố kịp thời, đầy đủ thông tin về các sự kiện xảy ra có ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường sẽ bị phạt tiền đến 500 triệu đồng (quy định cũ phạt cá nhân 30 - 50 triệu đồng, tổ chức 50 - 70 triệu đồng).

Tổ chức niêm yết, tổ chức tư vấn niêm yết; các tổ chức, cá nhân lập, xác nhận hồ sơ giả mạo để niêm yết chứng khoán sẽ bị phạt tiền 500 triệu đồng (quy định cũ phạt tiền từ 50 - 70 triệu đồng).

Tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định; hoặc chào bán chứng khoán ra công chúng để thành lập doanh nghiệp, trừ trường hợp được pháp luật quy định; hoặc chào bán chứng khoán ra công chúng nhưng không đăng ký sẽ bị phạt tiền từ 200 - 300 triệu đồng. Phạt tiền từ một đến năm lần khoản thu trái pháp luật đối với cá nhân, tổ chức thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng khi chưa có Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng theo quy định tại khoản 3 Điều 121 Luật Chứng khoán.

Tổ chức, cá nhân tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán trái với quy định của pháp luật sẽ bị phạt tiền 500 triệu đồng (trong trường hợp không có khoản thu trái pháp luật); phạt tiền từ một đến năm lần khoản thu trái pháp luật (trong trường hợp có khoản thu trái pháp luật).

Nghị định 85/2010/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán trái quy định của pháp luật là 500 triệu đồng. Nếu có khoản thu trái pháp luật thì phạt từ 1 đến 5 lần khoản thu này. Xin ông cho biết thế nào là tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán trái pháp luật?

Tại Khoản 18, Điều 6, Luật Chứng khoán quy định: “Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán. Tại Điều 33, Luật Chứng khoán cũng quy định rõ: “Ngoài Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán, không tổ chức, cá nhân nào được phép tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán”. Hành vi tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán trái quy định nêu trên sẽ bị phạt tiền đến 500 triệu đồng; trường hợp có khoản thu trái pháp luật thì phạt từ 1 đến 5 lần khoản thu này.

Theo Nghị định 85/2010/NĐ-CP, có phải lần đầu tiên các Sở giao dịch chứng khoán sẽ bị phạt nếu vi phạm?

Việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm của Sở giao dịch chứng khoán không phải là nội dung mới tại Nghị định số 85/2010/NĐ-CP, mà đã được quy định tại các điều từ Điều 15 đến Điều 17 của Nghị định số 36/2007/NĐ-CP, bao gồm các hành vi vi phạm về quản lý niêm yết, quản lý thành viên, các hành vi vi phạm về giao dịch, giám sát và công bố thông tin của Sở giao dịch chứng khoán. Nghị định số 85/2010/NĐ-CP chỉ nâng mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm để tăng cường tính răn đe, nâng cao trách nhiệm của Sở giao dịch chứng khoán trong công tác giám sát đối với hoạt động của các thành viên. Việc nâng mức phạt đối với hành vi vi phạm của Sở cũng tương ứng với việc nâng mức phạt đối với hành vi vi phạm của các đối tượng khác được quy định tại Nghị định.

CTCK nếu không tổ chức tìm hiểu thu thập đầy đủ thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng; các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của công ty cho khách hàng không đảm bảo phù hợp với tiêu thức đánh giá, phân loại khách hàng về khả năng chấp nhận rủi ro; không cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho khách hàng... sẽ bị phạt khá nặng. Nhưng nhiều CTCK cho rằng, thật khó để công ty thực hiện đầy đủ yêu cầu trên. Quan điểm của ông như thế nào về ý kiến này?

Việc thực hiện các hoạt động nêu trên là nghĩa vụ của các CTCK khi tiến hành nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán theo quy định tại Điều 37 Quy chế tổ chức thành lập và hoạt động CTCK ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC. Tuy nhiên, mức phạt đối với các hành vi vi phạm này tại Nghị định số 36/2007/NĐ-CP chỉ từ 10 - 20 triệu đồng, như vậy là quá thấp, không đủ tính răn đe, phòng ngừa vi phạm. Để nâng cao trách nhiệm của các CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, tại Nghị định số 85/2010/NĐ-CP, mức phạt đối với các hành vi vi phạm nêu trên đã được nâng lên từ 30 - 50 triệu đồng.

9 điểm mới căn bảncủa Nghị định 85/2010/NĐ-CP

1. Nghị định số 85/2010/NĐ-CP bổ sung một số đối tượng thuộc sự điều chỉnh của Nghị định mà trước kia chưa được quy định tại Nghị định số 36/2007/NĐ-CP là tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên vi phạm phạm pháp luật trong hoạt động kiểm toán tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, tổ chức kinh doanh chứng khoán; đồng thời tăng cường chế tài xử phạt đối với các nhà đầu tư vi phạm các quy định về giao dịch chứng khoán.

2. Nghị định 85/2010/NĐ-CP bổ sung hành vi vi phạm trong các lĩnh vực hoạt động của TTCK mà Nghị định số 36/2007/NĐ-CP chưa có chế tài xử lý, với mức phạt tương ứng với tính chất và mức độ vi phạm của từng hành vi vi phạm. Cụ thể, trong hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, bổ sung các hành vi vi phạm: thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng, phát hành thêm chứng khoán khi chưa đáp ứng đủ điều kiện theo quy định (điểm b khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 8); chào bán chứng khoán ra công chúng để thành lập doanh nghiệp trừ trường hợp được pháp luật quy định (điểm b khoản 4 Điều 8); thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng nhưng không đăng ký với UBCK theo quy định (điểm c khoản 4 Điều 8).

3. Trong hoạt động kinh doanh chứng khoán và hành nghề chứng khoán, bổ sung hàng loạt hành vi vi phạm như: hoạt động không đúng nội dung quy định trong Giấy phép (điểm c khoản 4 Điều 17); lập, xác nhận hồ sơ đề nghị cấp, bổ sung giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin sai sự thật (điểm đ khoản 4 Điều 17); nhận lệnh của khách hàng không đúng quy định (điểm a khoản 1 Điều 18); thực hiện giao dịch làm thay đổi quyền sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp không đúng quy định (điểm e khoản 4 Điều 18); sử dụng vốn, tài sản của công ty để cho vay trái quy định của pháp luật (điểm b khoản 5 Điều 18)… Đồng thời, bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm toán tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán (Điều 36).

4. Để xử lý triệt để các hành vi vi phạm trên thị trường, Nghị định bổ sung một số biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với một số hành vi vi phạm, cụ thể: buộc phải chuyển nhượng cổ phiếu để giảm tỷ lệ nắm giữ; buộc huỷ bỏ, cải chính thông tin; đình chỉ có thời hạn hoặc huỷ bỏ tư cách được chấp thuận kiểm toán của tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên.

5. Về thẩm quyền xử phạt, Nghị định quy định thẩm quyền của Chủ tịch UBCK được phạt tiền đến mức tối đa là 500 triệu đồng để phù hợp với khoản 14 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008.

6. Về ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính, trước đây quy định việc uỷ quyền chỉ được áp dụng khi những người có thẩm quyền xử phạt vắng mặt, thì nay chỉ quy định những người có thẩm quyền xử phạt được ủy quyền cho cấp phó xử phạt vi phạm hành chính. Việc uỷ quyền xử phạt phải được thực hiện bằng văn bản và phải xác định rõ phạm vi, nội dung và thời hạn uỷ quyền để phù hợp với quy định tại Điều 16 Nghị định 128/2008/NĐ-CP (Điều 39).

7. Quy định rõ thủ tục áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả: thủ tục đình chỉ hoạt động có thời hạn, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề chứng khoán (Điều 44); thủ tục tịch thu khoản thu có được từ việc thực hiện hành vi vi phạm hành chính và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (Điều 45); thủ tục buộc huỷ bỏ niêm yết (Điều 47).

8. Quy định thủ tục ra quyết định buộc khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Điều 47).

9. Chỉnh sửa quy định về thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán để thống nhất với Pháp lệnh sửa đổi bổ sung Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008. Theo đó, chỉ có Chủ tịch UBCK mới có quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Điều 48).

(Nguồn: UBCK)


(Theo Tinnhanhchungkhoan)

Vì sao cổ phiếu ngân hàng bị thờ ơ?


Cổ phiếu ngân hàng từng được coi là “cổ phiếu vua” trên thị trường nhưng thời gian gần đây lại phải nhận sự thờ ơ của nhà đầu tư. Đâu là nguyên nhân của tình trạng trên?

Quy mô vốn quá lớn, mức độ loãng cổ phiếu tăng nhanh

Nếu như cách đây 4 năm, trên sàn mới chỉ có 2 cổ phiếu ngân hàng được niêm yết là ACB và STB thì hiện nay, trên cả 2 sàn chứng khoán đã lên đến con số 6, chưa kể các cổ phiếu ngân hàng chưa niêm yết.

Với việc phải đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về vốn điều lệ, tổng tài sản và các chỉ số an toàn vốn khác, các ngân hàng đã và sẽ không ngừng tăng vốn điều lệ, góp phần gây ra tình trạng pha loãng cổ phiếu. Cổ phiếu ngân hàng không còn hiếm như trước kia nữa. Khối lượng giao dịch các cổ phiếu ngân hàng đã có lúc lên đến 20 triệu đơn vị/phiên. Điều này chứng tỏ dòng tiền đổ vào nhóm cổ phiếu này rất lớn, hạn chế khả năng làm giá cổ phiếu. Vì vậy, cổ phiếu ngân hàng thường chỉ tăng giá trần được 1 - 2 phiên là đã bị xả mạnh, trong khi ở các nhóm cổ phiếu khác, mức độ tăng có thể từ 3- 5 phiên liên tục khi nguồn cung bị "bóp" lại.

Những khó khăn trong việc đáp ứng các quy định của NHNN

Thông tư 13 mới được ban hành như một "gáo nước lạnh" dội vào hoạt động của các ngân hàng. Nó không chỉ khiến ngân hàng phải rà soát các khoản cho vay của mình mà còn có khuynh hướng hạn chế ngân hàng tham gia vào các hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao. Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Do vậy, khi mức độ rủi ro giảm đi thì lợi nhuận kỳ vọng sẽ khó có thể cao như trước. Lợi nhuận sẽ ổn định hơn và dòng tiền đầu cơ sẽ ít tìm đến nhóm cổ phiếu này.

Các khoản cho vay chứng khoán và cho vay bất động sản được xác định hệ số rủi ro là 250%. Ngân hàng cho vay các khoản này sẽ phải đòi hỏi lãi suất rất cao đối với khách hàng. Khi đó, nhu cầu vay sẽ giảm mạnh khiến cho ngân hàng mất đi một phần thu nhập quan trọng. Theo ước tính, dư nợ cho vay bất động sản chiếm khoảng 10 - 20% tổng dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM).

Những ngân hàng như ACB, STB, EIB năm nay cũng gặp khó khăn trong việc hoàn thành chỉ tiêu về lợi nhuận do một phần lớn lợi nhuận từ việc kinh doanh vàng tài khoản đã không còn.

Hơn nữa, việc phải đáp ứng các yêu cầu của Thông tư 13 về tỷ lệ cấp tín dụng trên nguồn vốn huy động (không quá 80%) thì các ngân hàng sẽ phải tăng cường huy động. Lãi suất tăng cao hơn sẽ khiến cho thu nhập ngân hàng giảm đi.

Cổ phiếu ngân hàng sẽ khó hấp dẫn

Để hấp dẫn nhà đầu tư thì lợi nhuận kỳ vọng của các ngân hàng năm nay cũng sẽ tiếp tục phải tăng mạnh, đặc biệt là trong 2 quý cuối năm bởi 2 quý đầu năm, lợi nhuận của nhiều ngân hàng không có sự tăng trưởng nhiều so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ 5 - 10% là phổ biến. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng.

Phần chìm của tảng băng vẫn còn chưa hiện ra. Đó là việc nhiều ngân hàng phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng chung lên mức 0,75% theo quy định của NHNN. Tỷ lệ này đã được NHNN đưa ra cách đây 5 năm và đến hạn là năm nay. Nhưng dường như tỷ lệ này đã bị lãng quên và mới chỉ được NHNN nhắc lại trong vài tháng gần đây. Trong khi nửa đầu năm, nhiều ngân hàng đã quên chưa trích tỷ lệ này hoặc chỉ trích dự phòng một phần thấp hơn mức 0,75%. Do vậy, các ngân hàng sẽ phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng nhiều hơn trong nửa cuối năm.

Với tình hình như trên, cổ phiếu ngân hàng sẽ khó có thể tăng giá được mặc dù P/E bình quân hiện tại của ngành này đang ở mức rất thấp, chỉ từ 8 - 10 lần. Nhóm cổ phiếu ngân hàng hiện mang tính phòng thủ hơn là tính đầu cơ.


(Theo Tinnhanhchungkhoan)

47 công ty chứng khoán chưa đăng ký giao dịch trực tuyến

picture

Các công ty chứng khoán chưa nộp hồ sơ đăng ký có cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư phải thực hiện nộp hồ sơ trước 30/9/2010.

Hiện vẫn còn 47 công ty chứng khoán chưa nộp hồ sơ đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch trực tuyền theo quy định

Ủy ban Chứng khoán cho biết hiện vẫn còn 47 công ty chứng khoán chưa nộp hồ sơ đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch trực tuyền theo quy định.

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vừa yêu cầu các công ty chứng khoán thực hiện đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư.

Thông tư số 50/TT-BTC ngày 16/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán quy định: “Công ty chứng khoán cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến phải là công ty chứng khoán thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán và phải đăng ký chấp thuận với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước” (Điểm 5.3.1 Khoản 5.3 Mục 5).

Tuy nhiên, đến nay việc đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư của phần lớn các công ty chứng khoán với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thực hiện chưa kịp thời.

Hiện Ủy ban Chứng khoán mới chỉ cấp giấy chấp thuận đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư cho 13 công chứng khoán.

Đầu mối này cũng đã nhận được hồ sơ đăng ký của 44 công ty chứng khoán nhưng không đầy đủ hồ sơ theo quy định. Ủy ban đã có công văn hướng dẫn và yêu cầu bổ sung nhưng đến nay các công ty chứng khoán vẫn chưa thực hiện bổ sung theo yêu cầu.

Tính đến 1/9/2010, vẫn còn 47 công ty chứng khoán chưa nộp hồ sơ đăng ký.

Để thực hiện đúng quy định của pháp luật về giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán yêu cầu các thành viên đã được chấp thuận đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư cần thông báo cho nhà đầu tư biết.

Các công ty chứng khoán đã nộp hồ sơ đăng ký cần khẩn trương hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định và gửi về trước 15/9/2010 để làm thủ tục chấp thuận đăng ký.

Các công ty chứng khoán chưa nộp hồ sơ đăng ký có cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư phải thực hiện nộp hồ sơ trước 30/9/2010 để làm thủ tục chấp thuận đăng ký.

Sau thời hạn trên, các công ty chứng khoán không thực hiện, Ủy ban Chứng khoán sẽ xử lý theo quy định pháp luật và công ty chứng khoán hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp dịch vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến cho nhà đầu tư.

(Theo Vneconomy)

Saturday, 4 September 2010

Thấy gì từ “nghi án” doanh nghiệp giấu lãi?


Sau vụ việc một số công ty giấu lỗ xảy ra năm 2008, NĐT đang đặt dấu hỏi về một thái cực ngược lại khi nhiều DN bị nghi là "giấu lãi" như Vietinbank, Quốc Cường Gia Lai (QCG), Nước giải khát Sài Gòn - Tribeco (TRI), Hoá dầu Petrolimex (PLC)…, bởi báo cáo tài chính (BCTC) bán niên năm 2010 trước và sau soát xét của các DN này có sự chênh lệch tăng hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng lợi nhuận.

Nhìn nhận về hiện tượng này khi trao đổi với ĐTCK, ông Trần Đình Cường, Tổng giám đốc Ernst & Young Việt Nam cho rằng, một khi DN để xảy ra sự cố trên thì dù với bất kỳ lý do gì cũng tác động tiêu cực đến niềm tin của NĐT về DN và TTCK.

>> Lỗ hổng từ vụ giấu lãi của Quốc Cường Gia Lai

>> Kiểm toán ở đâu trước khả năng giấu lãi, chuyển lỗ của DN?

Theo ông, có sự gian dối hay "toan tính" bất minh nào đằng sau chênh lệch khá lớn trong BCTC trước và sau soát xét của một số DN vừa qua?

Rất khó để có thể kết luận DN làm như vậy là do cố ý hay vô tình. Tuy nhiên, thực tiễn tiến hành hoạt động kiểm toán cho thấy, tình trạng chênh lệch trong BCTC trước và sau soát xét nhiều khi là sự cố ngoài ý muốn của DN. Nhưng dù là nguyên nhân nào đi nữa, thì những chênh lệch này cũng ảnh hưởng đến niềm tin của NĐT về sự minh bạch của DN và lợi ích của NĐT. Bởi nếu NĐT quyết định bán cổ phiếu dựa trên kết quả kinh doanh mà DN công bố khi chúng thấp hơn so với kết quả soát xét, NĐT có thể đã bán cổ phiếu với giá bất lợi. Với DN niêm yết, điều NĐT luôn mong đợi nhất chính là thông tin minh bạch, chuẩn xác. Khi DN không đáp ứng được yêu cầu này ở các mức độ khác nhau, thì dù ít hay nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến niềm tin mà NĐT gửi gắm vào DN.

Đâu là nguyên nhân của sự chênh lệch BCTC trước và sau soát xét, thưa ông?

Thực tiễn hoạt động kiểm toán cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Một nguyên nhân phổ biến là do DN chưa nắm được hoặc chưa quen áp dụng các chuẩn mực và quy định kế toán, trong khi lãnh đạo DN chưa quan tâm đến công tác kế toán. Điều này thường xảy ra ở những DN mới niêm yết, các công ty gia đình. Theo lôgic thông thường, mục tiêu của DN khi niêm yết là muốn huy động vốn qua TTCK. Như vậy, rất khó để họ làm ngược lại là cố tình công bố kết quả kinh doanh thấp, nhằm ghìm giá cổ phiếu với mục đích mua lại cổ phiếu đã phát hành với giá rẻ. Điều này không có nghĩa là 100% trường hợp đều như vậy, nhưng nó cho thấy khó xảy ra tình trạng DN cố tình giấu lãi vì toan tính vụ lợi.

Sự chênh lệch trong BCTC trước và sau soát xét có thể còn do các quy định pháp lý về kế toán chưa đồng bộ, thiếu cụ thể, nên gây khó khăn cho DN khi áp dụng. Có những quy định về kế toán, bản thân DN không hiểu, chứ nói gì đến áp dụng đúng. Khi gặp những quy định không rõ ràng, họ không dễ tìm hiểu để thực thi cho đúng. Đó là chưa kể có sự khác biệt giữa nghiệp vụ kế toán và cơ quan thuế. Trong khi cơ quan thuế căn cứ vào hoá đơn để ghi nhận doanh thu, thì nhiều trường hợp nghiệp vụ kế toán không như vậy. Kế toán chỉ ghi nhận doanh thu khi lợi ích và rủi ro liên quan đến hàng hoá, dịch vụ đã được chuyển giao cho người mua, cho dù DN đã xuất hoá đơn cho khách hàng hay chưa. Không loại trừ khả năng có sự chênh lệch trong BCTC trước và sau soát xét còn do DN vô tình mắc phải lỗi số học.

Nói vậy có nghĩa là, nếu DN nâng cao ý thức và trách nhiệm trong tuân thủ chuẩn mực kế toán, thì sẽ giảm thiểu được sự cố chênh lệch trong BCTC?

Đúng vậy. Đầu tiên là lãnh đạo DN cần thực sự quan tâm đến công tác kế toán, bởi khi công tác này được tiến hành tốt, sẽ góp phần làm tăng tính chuyên nghiệp, minh bạch của DN trong mắt NĐT. Đội ngũ kế toán của DN cần được đào tạo, nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp trong ý thức tuân thủ, cũng như áp dụng các chuẩn mực kế toán, để tránh sự cố tương tự lặp lại trong tương lai. DN nên tích cực và chủ động tìm hiểu, nắm bắt các chuẩn mực, quy định kế toán thông qua hoạt động tham vấn các hiệp hội nghề nghiệp, các công ty kiểm toán, tư vấn thuế và tài chính, để áp dụng chuẩn xác. DN cũng đang trông chờ cơ quan quản lý hoàn thiện các chuẩn mực kế toán theo hướng tăng tính đồng bộ, dễ hiểu và dễ áp dụng.

NĐT cần được bảo vệ lợi ích hợp pháp khi xảy ra sự cố BCTC có sự chênh lệch lớn vì bất kỳ lý do gì. Theo ông, cần có biện pháp bảo vệ họ như thế nào trong bối cảnh không loại trừ DN cố tình giấu lỗ hoặc lãi?

Đúng là không thể cứ nói vô tình gây ra sự cố, rồi giải trình là mọi chuyện sẽ được NĐT dễ dàng chấp nhận. Bởi lẽ, chính vì sự cố vô tình hay hữu ý của DN mà quyền lợi của NĐT bị ảnh hưởng, thậm chí bị mất tiền, thua lỗ hay phá sản. Ở nhiều nước, khi xảy ra sự chênh lệch trong BCTC trước và sau soát xét, NĐT, cơ quan quản lý không dễ dàng bỏ qua. Trường hợp có số chênh lệch lớn, DN ngoài phải giải trình về vụ việc, còn có thể đối mặt với án phạt, thậm chí bị điều tra để làm rõ có hay không sự cố ý nhằm mục tiêu trục lợi. Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm này để đề ra những chế tài phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của NĐT.


(Theo Tinnhanhchungkhoan)

'Trục Hồ Tây - Ba Vì nên đặt là đường Độc lập'

"Trục Ba Vì - Hồ Tây sẽ là trục nối kết, đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch sinh thái cho thủ đô, để Hà Nội thực sự là một thành phố xanh", KTS Phạm Cao Nguyên, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Hà Nội bày tỏ quan điểm.

- Hội Kiến trúc sư Việt Nam cho rằng, trục đường Hồ Tây - Ba Vì không nên tồn tại vì không có Trung tâm hành chính tại Ba Vì, quan điểm của ông thế nào?

- Theo tôi, với thực tế giao thông hiện nay, trục Ba Vì - Hồ Tây sẽ giúp Hà Nội có một trục cảnh quan mà chúng ta chưa hề có. Trục giao thông này có vai trò kết nối giữa đô thị dịch vụ du lịch sinh thái xanh Ba Vì với trung tâm Hà Nội bằng các công trình kiến trúc hiện đại, sinh thái.

Trục nối Ba Vì với nội thành sẽ tạo một quần thể thống nhất cho các đô thị vệ tinh, trong đó có đoạn bố trí tượng đài Độc lập, các công trình văn hóa thế kỷ, trung tâm mua sắm, khu đi bộ... Vậy nên, nếu cho rằng trục đường này không giúp ích cho sự phát triển kinh tế xã hội là chưa chính xác. Giao thông ở đây có thể là giao thông đô thị với xe bus, xe con phục vụ hoàn toàn cho dân sinh.

Nếu xác định rõ điều đó, tôi tin rằng trục Ba Vì - Hồ Tây sẽ là trục nối kết, đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch sinh thái cho Hà Nội. Nó sẽ có vai trò đặc biệt trong việc tạo thành chuỗi môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, để thủ đô Hà Nội thực sự là một thành phố xanh.

Trước đây, trục này đã được chọn là Thăng Long, nay tên này đã chuyển sang cho Láng - Hòa Lạc. Vậy chúng ta hãy đặt cho nó cái tên Độc Lập bởi ở đó sẽ đặt tượng đài Độc Lập, có đền thờ Bác Hồ trên núi Ba Vì…

Trục Hồ Tây - Ba Vì sẽ có tượng đài Độc Lập. Ảnh phối cảnh: Hoàng Hà.

- Nhiều ý kiến lo ngại trục Hồ Tây - Ba Vì dễ biến thành quy hoạch treo, ông nghĩ sao?

- Tôi không đồng tình với lo ngại tuyến đường là quy hoạch treo. Nói quy hoạch treo ở đây là lạm dụng. Chúng ta cần hoạch định cho đến năm 2050, còn tới thời điểm đó, có thể xây to hơn, hoặc nhỏ hơn. Còn nếu đã duyệt dự án rồi, giải phóng mặt bằng rồi để đấy, để đất hoang hóa thì mới gọi là quy hoạch treo.

Nếu lo ngại không có tiền để làm đường thì rất vô lý. Nếu nói nghĩ cho thế hệ con cháu thì phải mạnh dạn. Tầm nhìn cho 2050 là phải lớn, phải dành cho lớp trẻ. Tôi tin là sẽ làm được nếu chúng ta thực sự xác định kế hoạch cụ thể, có chính sách tốt trong việc chuyển hóa tài nguyên đất đai thành vốn, vận động xã hội hóa từ các doanh nghiệp. Nó cũng giống như việc bắn pháo hoa, cải tạo các hồ tại Hà Nội, nếu kêu gọi doanh nghiệp thì công việc trở nên dễ dàng. Điều mà tôi lo nhất chính là vấn đề tổ chức thực hiện. Có thực hiện được hay không mới là cái quan trọng nhất.

- Đồ án có quy hoạch quỹ đất dự trữ tại Ba Vì, theo ông, khu vực này nên có chức năng gì?

- Cần quy hoạch Ba Vì thành đô thị dịch vụ du lịch sinh thái xanh, kiên quyết không cho xây nhà cao tầng. Bali (Indonesia) là một điển hình về thành phố biển xanh. Ở đó có quy định rất đơn giản là các công trình không được xây cao quá cây dừa. Ba Vì cũng nên thế. Ba Vì đang xanh, lại có rừng nguyên sinh cần được đặc biệt bảo vệ, phải tránh không gian xanh này bị phá vỡ bởi các công trình xây dựng.

Chúng ta cần bảo tồn các khu văn hóa, khu di tích lịch sử và lõi là đền thờ Bác Hồ trên đỉnh núi Ba Vì. Bên cạnh đó là khu du lịch sinh thái phù hợp với không gian tự nhiên Ba Vì. Chúng ta sẽ phát triển được nền kinh tế dịch vụ du lịch xanh bảo tồn được không gian xanh và là đặc trưng đô thị xanh Hà Nội.

Thực tế, Hà Nội đang thiếu lá phổi xanh, nhìn sang các nước có rừng trong thành phố mà mơ ước. Nhiều người cho rằng khi mở rộng thành phố là cơ hội để chúng ta có đất trồng rừng, tạo nên chỗ vui chơi, nghỉ ngơi cho người dân, đặc biệt là cho thanh thiếu niên. Vậy hà cớ gì mà chúng ta không tận dụng tiềm năng sinh thái vốn có của vùng núi Ba Vì.


(Theo Vnexpress)

Thursday, 2 September 2010

Nghị định 51: "Quàng" thêm nhiều việc cho doanh nghiệp

Việc quản lý hóa đơn là lĩnh vực từ lâu đã rất phức tạp trong quản lý với những thủ tục nhiêu khê, phiền hà
Tại hội thảo góp ý Dự thảo Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (NĐ 51) được tổ chức mới đât tại Hà Nội, nhiều luật gia, doanh nghiệp (DN) đều đồng ý với sự cải cách của NĐ 51 khi đã giao quyền và trách nhiệm cho các DN, cơ sở kinh doanh trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng hóa đơn phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng sau khi ban hành Nghị định đã thể hiện một số quy định không hợp lý, khó thực hiện, trao thêm trách nhiệm cho doanh nghiệp…

Hãy để các DN tự lựa chọn phương án phù hợp

Góp ý tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Cúc – Chủ tịch Hội Tư vấn thuế, nguyên phó Tổng cục trưởng Tổng cục thuế cho biết, Hội tư vấn thuế nhất trí về cơ bản Thông tư dự thảo về kết cấu các chương, Điều, nội dung hướng dẫn chi tiết, các biểu mẫu... Tuy nhiên bà cũng đưa ra một số góp ý như tại phần d thuộc Điều 4 về tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán và tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua. Bà Cúc cho biết, trong thực tế có nhiều công ty tên đầy đủ rất dài: Ví dụ Công ty TNHH tư vấn đầu tư, xúc tiến thương mại, xuất nhập khẩu tổng hợp Lan Hương ... khi viết hóa đơn rất phức tạp. Do đó bà cho rằng nên viết tắt tên của DN như: KPMG, A&C, AFC...trong hóa đơn để giảm thủ tục khi lập hóa đơn.
Việc quản lý hóa đơn là lĩnh vực từ lâu đã rất phức tạp trong quản lý với những thủ tục nhiêu khê, phiền hà

Bà cũng góp ý đối với Điều 6 về tạo hóa đơn tự in. Theo bà phần quy định: ...”Các DN đủ điều kiện đã phát hành hoá đơn tự in trong thời gian trên 12 tháng nếu chia tách thành những DN có số vốn điều lệ dưới mức quy định nêu trên vẫn được tiếp tục sử dụng hoá đơn tự in” là chưa rõ nghĩa bởi nếu chia tách thành các DN khác thì phải in hóa đơn khác không thể tiếp tục sử dụng hóa đơn cũ.

Luật gia Vũ Xuân Tiền - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Luật gia Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam cũng góp ý đối với Điều 6 ở một khía cạnh khác. Tại tiết 1.1, mục c, khoản 1 quy định về đối tượng được tạo hóa đơn tự in kể từ khi có mã số thuế phải là: DN có mức vốn điều lệ đã được hạch toán kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên. Theo ông Tiền cần xem lại tính hợp lý của quy định này bởi ông cho rằng, không có tài liệu nào chứng minh rằng, vốn điều lệ của DN càng cao thì DN càng phát hành nhiều hóa đơn. Trên thực tế lại có rất nhiều trường hợp đang chứng minh ngược lại. “Một DN có vốn điều lệ 5 tỷ đồng, kinh doanh trong lĩnh vực dược phẩm, một tháng sử dụng tới 5 quyển hóa đơn bằng 250 số, còn một DN kinh doanh bất động sản, có vốn điều lệ 50 tỷ đồng, một năm chỉ sử dụng chưa hết 50 số hóa đơn” – Luật gia Vũ Xuân Tiền nêu thực tế.

Ông cũng chỉ ra sự bất cập khi quy định "mức vốn điều lệ đã được hạch toán kế toán" thì làm thế nào để xác nhận được đó là số vốn "đã được hạch toán kế toán"? Bởi lẽ theo ông, báo cáo tài chính của các DN nhỏ và vừa hiện nay đều chưa bắt buộc phải kiểm toán. “Các cán bộ thuế có đủ khả năng và thời gian để kiểm tra điều đó không? Điều gì sẽ xảy ra khi phải tổ chức việc kiểm tra xác minh chỉ tiêu đó để cho DN được tự in hóa đơn?” – ông Tiền tỏ ra lo lắng trước những câu hỏi nêu ra. Và để tránh tình trạng nhiêu khê trên ông đề nghị:“Từ những lý do trên, đề nghị bỏ điều kiện về mức vốn điều lệ như dự thảo Thông tư. Hãy để cho các DN tự lựa chọn phương án phù hợp với điều kiện của mình”.

Nhiều quy định gây khó khăn cho DN

Nhận xét về việc quản lý hóa đơn, luật gia Vũ Xuân Tiền cho rằng đây là lĩnh vực từ lâu đã rất phức tạp trong quản lý với những thủ tục nhiêu khê, phiền hà, gây khó khăn, tốn kém cả về thời gian và tiền bạc của các cơ sở kinh doanh. Song, tình trạng gian lận trong quản lý, sử dụng hóa đơn, việc mua bán hóa đơn...vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt.

Ông hoan nghênh sự cải cách rất thiết thực khi NĐ 51 đã giao quyền và trách nhiệm cho các DN, cơ sở kinh doanh trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng hóa đơn phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên, ông cho rằng, việc chuyển từ sự quản lý rất chặt chẽ của cơ quan thuế sang việc các DN tự quyết định trong việc tạo lập, quản lý và sử dụng hóa đơn, trong điều kiện sự minh bạch trong quản lý kinh tế, xã hội chưa thật được tôn trọng, lượng tiền mặt sử dụng trong lưu thông còn quá lớn... cũng đặt ra không ít những vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết, với một lộ trình hợp lý cả với cơ quan quản lý thuế và các DN, cơ sở kinh doanh.

Cụ thể, với khoản 1 Điều 4 quy định về "Nội dung bắt buộc trên hóa đơn" thì cần làm rõ đó là những nội dung bắt buộc phải có khi phát hành hay ngay khi đặt in? Nếu là bắt buộc khi phát hành thì hợp lý, nhưng nếu là bắt buộc khi đặt in thì không hợp lý. Bởi lẽ, khi đặt in, chưa thể có các thông tin cụ thể như: Tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua; Tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hoá, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ...Trong khi đó, khoản 1 Điều 8 của dự thảo Thông tư lại quy định: "Hoá đơn đặt in được in ra dưới dạng mẫu in sẵn có nội dung theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 4 Thông tư này". “Đó là quy định không có tính khả thi, các DN sẽ không thể đặt in hóa đơn được vì không thể cung cấp được những thông tin chưa có” – ông Tiền khẳng định.

Một vấn đề không kém phần quan trọng đối với các thông tin bắt buộc phải có khi đặt in hóa đơn là địa chỉ của người bán. Nếu bắt buộc phải in địa chỉ của người bán vào hóa đơn ngay khi in chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều hóa đơn bị hủy bỏ, gây thiệt hại cho DN và phức tạp cho quản lý. Bởi lẽ, hiện nay có rất nhiều DN nhỏ và siêu nhỏ đang phải thuê trụ sở làm việc. Những DN này thường phải di chuyển rất bất ngờ do chủ nhà cho thuê chấm dứt hợp đồng hoặc do bị cấm sử dụng nhà chung cư làm văn phòng công ty. Do đó, xin đề nghị cho phép chỉ in tên, mã số thuế của doanh nghiệp, còn địa chỉ DN sẽ khắc dấu và đóng vào hóa đơn hoặc in từ máy tính khi phát hành. Như vậy, DN có thể đặt in với số lượng lớn và sử dụng được ngay cả khi có thay đổi địa chỉ trụ sở.

Nhận xét một cách tổng thể, đại diện Công ty luật TNHH VLC cho rằng, NĐ 51 đã thể hiện một số quy định không hợp lý, khó thực hiện, trao thêm trách nhiệm cho DN, trong khi DN đã và đang phải đảm nhiệm trách nhiệm khá nặng nề như tìm cách sản xuất, kinh doanh sao cho tốt để đảm bảo không thua lỗ, lương bổng cho người lao động sao cho đảm bảo cuộc sống của họ, vật liệu, sản phẩm đầu ra đầu vào…

(Theo Diễn Đàn Doanh Nghiệp)

Popular Posts