Tuesday, 26 October 2010

Thuê đầu số để cung cấp tin nhắn chứng khoán lừa

Lợi dụng tên tuổi của công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất Việt Nam, một đơn vị vốn chuyên về dịch vụ kế toán đã thuê đầu số 6733 để cung cấp tin nhắn chứng khoán lừa với giá 15.000 đồng mỗi SMS.

Theo tìm hiểu của VnExpress.net, Công ty cổ phần tổ hợp giáo dục và truyền thông OTM (vốn chuyên về dịch vụ kế toán) đã thuê lại đầu số 6733 của một đơn vị khác để cung cấp dịch vụ tin nhắn chứng khoán. Ngay sau khi cung cấp dịch vụ một thời gian ngắn, OTM đã bị Công ty cổ phần chứng khoán Thăng Long tố cáo mạo danh họ khi cung cấp dịch vụ.

Đại diện của Công ty cổ phần đầu tư và dịch vụ Bưu điện (đơn vị sở hữu đầu số 6733) cho biết, công ty có thỏa thuận hợp tác với OTM để cung cấp dịch vụ tư vấn chứng khoán qua tin nhắn. Theo đó, OTM sẽ thuê lại đầu số 6733 để cung cấp dịch vụ với giá 15.000 đồng cho một tin nhắn và cam kết thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong thời gian thử nghiệm, phía OTM đã không tuân thủ quy định nên đã bị chấm dứt hợp tác.

Khi cung cấp dịch vụ tin nhắn tư vấn chứng khoán, Công ty OTM đã thêm
Khi cung cấp dịch vụ tin nhắn tư vấn chứng khoán, Công ty OTM đã thêm "hiệu ứng đặc biệt" từ Công ty chứng khoán Thăng Long. Ảnh chụp màn hình

Vị lãnh đạo của công ty sở hữu đầu số 6733 than thở, họ không thể kiểm soát được việc OTM quảng cáo mạo danh đơn vị khác để chèo kéo khách hàng. Ông này cũng cho biết, do OTM mới đưa thông tin lên website của mình, chưa quảng cáo rộng rãi trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng nên mức độ ảnh hưởng chưa lớn.

Bình luận về việc OTM cung cấp tin nhắn chứng khoán mạo danh, giám đốc một doanh nghiệp dịch vụ nội dung trên mạng di động cho biết, tin nhắn loại 15.000 đồng chủ yếu dành cho games hoặc thuê bao cả tháng về một dịch vụ nào đó. Đối với dịch vụ một lần chỉ có vài thông tin dạng text thì phải có hiệu ứng đặc biệt mới có khả năng hút khách.

“Với chứng khoán, việc bỏ ra có 15.000 đồng mà có được mã cổ phiếu đầu tư đem lại lợi nhuận cao thì quá rẻ. Điều này cộng với thông tin về sự hợp tác của công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất Việt Nam và một chuyên gia phân tích chứng khoán có uy tín sẽ giúp cho dịch vụ trở nên đáng tin hơn. Tuy nhiên, khi thông tin được cung cấp là không chính xác thì chẳng khác nào lừa khách hàng”, ông này bình luận về cách thức quảng bá mạo danh của Công ty OTM.

Tổng giám đốc một công ty tin nhắn lớn có trụ sở ở Hà Nội cho biết, vào thời điểm hiện tại, số lượng công ty cung cấp dịch vụ nội dung lên tới con số hàng nghìn và chủ yếu là thuê lại đầu số. Trong số này, có không ít công ty làm ăn chụp giật, làm ảnh hưởng xấu đến các đơn vị làm ăn chân chính. “Những công ty như vậy khi bị cắt hợp tác với đầu số này lại chuyển qua đầu số khác với một cái tên mới để hoạt động. Đó là một thực tế”, ông này cho biết.

Trao đổi với VnExpress.net, đại diện của Công ty chứng khoán Thăng Long cho biết, họ đang đợi kết quả điều tra của cơ quan chức năng liên quan đến việc mạo danh do Công ty OTM thực hiện. “Khi cơ quan chức năng có kết luận, chúng tôi sẽ công bố thông tin chính xác”, ông này cho biết.

Trong khi đó, sau một thời gian điều tra nội bộ, Công ty OTM cũng chưa đưa ra bất cứ thông tin phản hồi nào về sự việc nêu trên.


(Theo Vnexpress)

Ba ngân hàng lớn báo lãi

picture

Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ của nhiều ngân hàng có xu hướng giảm trong những quý gần đây.

Ba ngân hàng thương mại lớn cùng niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) vừa công bố kết quả kinh doanh quý 3 và 9 tháng đầu năm 2010.

* Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Vietcombank (mã: VCB, vốn điều lệ: 13.223,71 tỷ đồng):

Điểm nổi bật trong báo cáo kết quả kinh doanh của Vietcombank là thu nhập lãi thuần, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ trong quý 3/2010 cùng giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2009. Trong khi đó, lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, thu nhập từ góp vốn và mua cổ phần tăng đáng kể.

Cụ thể, trong quý 3/2010, thu nhập lãi thuần của Vietcombank đạt 1.775,29 tỷ đồng, giảm nhẹ so với mức 1.781,92 tỷ đồng trong quý 3/2009; nhưng lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 là 5.963,51 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2009 là 4.687,27 tỷ đồng, tăng 27,2%.

Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ trong quý 3/2009 đạt 186,27 tỷ đồng, giảm nhẹ so với mức 218,12 tỷ đồng của quý 3/2009; nhưng lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 là 661,07 tỷ đồng, tăng nhẹ so với mức 631,01 tỷ đồng cùng kỳ 2009.

Ngược lại, lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối quý 3/2010 của Vietcombank đạt 188,71 tỷ đồng, tăng nhẹ so với 160,96 tỷ đồng của quý 3/2009; tuy nhiên, lũy kế 9 tháng đầu năm, nguồn thu này lại giảm mạnh khi chỉ đạt 380,66 tỷ đồng, giảm 31% so với cùng kỳ 2009.

Trong quý 3/2010 cũng như 9 tháng đầu năm, thu nhập từ góp vốn và mua cổ phần của ngân hàng này tăng khá mạnh, lần lượt đạt 199,48 tỷ đồng và lũy kế là 340,43 tỷ đồng; trong khi cùng kỳ năm 2009 lần lượt là 55,1 tỷ đồng và 211,6 tỷ đồng.

Trong quý 3/2010, Vietcombank ghi nhận khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 188,83 tỷ đồng, tính chung 9 tháng đầu năm là 538,83 tỷ đồng (9 tháng đầu năm 2009 là 424,35 tỷ đồng).

Tổng lợi nhuận trước thuế của Vietcombank trong quý 3/2010 là 1.291,56 tỷ đồng, gần với mức đạt được trong quý 3/2009 (1.274,78 tỷ đồng); lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 đạt 4.091,88 tỷ đồng, tăng 20,15% so với cùng kỳ năm 2009. Lợi nhuận sau thuế 9 tháng 2010 theo đó đạt 3.134,03 tỷ đồng, tăng 20,11% so với cùng kỳ 2009.

* Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Sacombank (mã: STB, vốn điều lệ: 9.179,23 tỷ đồng):

Điểm nổi bật trong báo cáo kết quả kinh doanh quý 3 và lũy kế 9 tháng đầu năm của Sacombank là thu nhập thuần từ lãi tăng mạnh, trong khi nguồn thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối chưa bao gồm khoản lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại.

Cụ thể, trong quý 3/2010, thu nhập thuần từ lãi đạt 918,77 tỷ đồng, tăng tới gần 60% so với cùng kỳ năm 2009; lũy kế 9 tháng đầu năm là 2.202,73 tỷ đồng, tăng 40,42% so với cùng kỳ năm 2009.

Lãi trong hoạt động dịch vụ quý 3/2010 của Sacombank đạt 127,72 tỷ đồng, giảm 31,7% so với quý 3/2009; lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 đạt 487,77 tỷ đồng, gần với mức 490,79 lũy kế 9 tháng năm trước.

Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, quý 3/2010, Sacombank lãi 57,47 tỷ đồng, trong khi quý 3/2009 là -34,32 tỷ đồng; lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 đạt 234,62 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ 2009 đạt 214,91 tỷ đồng. Nguồn thu này chưa bao gồm khoản lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại tại thời điểm cuối ngày 30/9/2010 (-207,2 tỷ đồng); khoản này sẽ được hạch toán vào kết quả hoạt động kinh doanh vào cuối năm theo quy định hiện hành.

Trong quý 3/2010, tổng lợi nhuận trước thuế của Sacombank đạt 615,89 tỷ đồng, tăng 50,28% so với quý 3/2009; lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 là 1.929,31 tỷ đồng, tăng 48% so với cùng kỳ năm ngoái. Lợi nhuận sau thuế theo đó là 475,19 tỷ đồng trong quý 3/2010 và lũy kế 9 tháng là 1.504,48 tỷ đồng.

* Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam - Eximbank (mã: EIB, vốn điều lệ: 8.800 tỷ đồng):

Điểm nổi bật trong báo cáo kết quả kinh doanh quý 3 và lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 của Eximbank là sự gia tăng mạnh của nguồn thu từ lãi, sau khi ngân hàng này đã có bước tăng mạnh về vốn; nguồn từ hoạt động dịch vụ tăng trưởng đáng kể, nhưng nguồn từ kinh doanh ngoại hối lại sụt giảm.

Cụ thể, thu nhập thuần từ lãi trong quý 3/2010 là 789,01 tỷ đồng, tăng tới 66,8% so với quý 3/2009; lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 đạt 1.953,51 tỷ đồng, tăng 40,75% so với 9 tháng đầu năm 2009.

Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ trong quý 3/2009 tăng nhẹ so với cùng kỳ, 65,85 tỷ đồng so với 51,55 tỷ đồng; lũy kế 9 tháng đầu năm 2010 là 180,31 tỷ đồng, cùng kỳ 2009 là 129,6 tỷ đồng. Lãi thuần trong kinh doanh ngoại hối chỉ đạt 20,39 tỷ đồng quý 3/2010, chưa bằng một nửa của quý 3/2009 (46,97 tỷ đồng); và lũy kế 9 tháng đầu năm chỉ đạt 80,3 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ 2009 đạt 107,44 tỷ đồng.

Trong nguồn thu từ góp vốn, mua cổ phần, 9 tháng đầu năm Eximbank ghi nhận được gần 29 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2010 chỉ là 2 tỷ đồng.

Tổng lợi nhuận trước thuế quý 3/2010 của ngân hàng này đạt 689 tỷ đồng, tăng tới 95,63% so với quý 3/2009; lũy kế 9 tháng đầu năm là 1.600,21 tỷ đồng, tăng 37,57% so với cùng kỳ năm 2009. Lợi nhuận sau thuế quý 3/2010 là 519,18 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng đầu năm nay là 1.231,88 tỷ đồng.

(Theo Vneconomy)

Tín hiệu “thắt chặt tiền tệ” trên thị trường mở?

picture

Từ đầu tháng 4/2010 đến nay, Ngân hàng Nhà nước duy trì hoạt động thị trường mở 2 phiên/ngày để hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại.

Một số nhận định cho rằng việc điều chỉnh kỳ hạn trên thị trường mở (OMO) thời gian gần đây có thể là một tín hiệu “thắt chặt tiền tệ” của Ngân hàng Nhà nước.

Sau một thời gian dài ổn định các kỳ hạn, điều chỉnh mới đây của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường mở thu hút sự chú ý của một số nhà đầu tư.

Cụ thể, từ ngày 15/10 trở lại đây, các phiên đấu thầu giấy tờ có giá trên thị trường này được ấn định ở hai kỳ hạn: 28 ngày và 7 ngày. Đây là thay đổi đáng chú ý khi một thời gian dài trước đó Ngân hàng Nhà nước gần như cố định hai kỳ hạn 28 ngày và 14 ngày.

Trên thị trường xuất hiện một số nhận định cho rằng: việc thay kỳ hạn 14 ngày bằng 7 ngày có thể là một tín hiệu thắt chặt tiền tệ. Theo đó, có thể hiểu Ngân hàng Nhà nước đã giảm bớt sự hỗ trợ vốn ở kỳ hạn dài hơn (14 ngày), thay bằng kỳ hạn ngắn (7 ngày).

Bình luận trên được đặt trong bối cảnh Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ thị yêu cầu Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu để có chính sách, cơ chế phù hợp cho phép các ngân hàng thương mại có thể rút nhanh tiền ra khỏi lưu thông để giảm bớt áp lực tăng giá; hay “yêu cầu” hạn chế cung tiền khi lạm phát đã có xu hướng tăng mạnh trở lại…

Tuy nhiên, trao đổi với VnEconomy, chuyên gia tài chính Vương Quân Hoàng cho rằng chưa vội đưa ra kết luận, hay “ép” tín hiệu đó vào thắt chặt tiền tệ. Mà ở đây nên xem là một sự bổ sung hoặc thay đổi kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước, linh hoạt trong hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại.

Theo chuyên gia này, việc bổ sung hoặc thay đổi các kỳ hạn trên thị trường mở của nhà điều hành gắn với từng thời điểm và mang tính ngắn hạn, được cân nhắc từ thực tế cung - cầu hay trạng thái vốn khả dụng của hệ thống tại thời điểm đó. Các thành viên tham gia thị trường theo đó có thêm lựa chọn để phù hợp hơn với nhu cầu vốn của mình.

Đó cũng là ý kiến của giám đốc phân tích một công ty chứng khoán khi trả lời về điều chỉnh trên. Điểm mà ông nhấn mạnh là Ngân hàng Nhà nước hiện vẫn duy trì kỳ hạn 28 ngày, cũng như khẳng định chưa thể xem đó là tín hiệu thắt chặt tiền tệ. Và trường hợp trạng thái vốn của các ngân hàng ổn định thì việc điều tiết sự hỗ trợ cũng là bình thường. Thay vào đó, theo ông, mối quan tâm lúc này là sự ứng xử của nhà điều hành khi đứng giữa khó khăn, một bên là yêu cầu tiếp tục giảm lãi suất, một bên là xem xét hạn chế cung tiền góp phần kiềm chế lạm phát.

Trên thực tế, theo dữ liệu cập nhật từ Ngân hàng Nhà nước, trong những phiên đấu thầu từ 15/10 đến nay, bên cạnh kỳ hạn 7 ngày, Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì kỳ hạn 28 ngày. Việc duy trì hai kỳ hạn này cũng đã từng kéo dài trong suốt tháng 4 và 5/2010, sau khi cơ quan này quyết định tăng phiên cho thị trường lên 2 phiên/ngày để tăng cường hỗ trợ các ngân hàng thương mại (vào đầu tháng 4/2010).

Cũng theo phân tích của các chuyên gia tham vấn, nếu rút dần và thu hẹp các kỳ hạn trên thị trường mở, để xem xét tín hiệu thắt chặt hay không cần xét thêm ở yếu tố lãi suất, hay lượng vốn bơm ròng, hút ròng… Tuy nhiên, những dữ liệu cần thiết đó không được công bố đều đặn, hoặc có nhưng không đầy đủ để có thể tạo được những cái nhìn toàn diện hơn.

Và sau một tháng gián đoạn (từ các phiên ngày 22/9), chiều 25/10, kết quả đấu thầu trên thị trường mở cũng đã được Ngân hàng Nhà nước cập nhật trở lại. Kết quả công bố cho thấy, những tháng gần đây và cho đến hai phiên của ngày 22/10, lãi suất kỳ hạn 28 ngày vẫn được giữ nguyên 8%/năm; ở kỳ hạn “mới”, 7 ngày, lãi suất là 7%/năm - mức đã từng xác định trong tháng 4 và 5/2010.

* Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường.

(Theo VNeconomy)

“Hò” nhau đi bắt “dao” rơi

picture

Ẩn số của những đợt phục hồi kỹ thuật luôn là độ "nảy" cao bao nhiêu và lúc nào thoát ra an toàn nhất

Hàng loạt cổ phiếu giảm quá mạnh thời gian qua đã được bắt đáy hôm nay nhưng rủi ro chọn nhầm mã "lởm" là không nhỏ

“Đến con mèo chết cũng có thể nảy lên nếu được ném xuống từ độ cao thích hợp” – hiếm có nhà đầu tư nào lại không biết câu nói đó. Hàng loạt cổ phiếu giảm sâu thời gian qua đã bật ngược trở lại hôm nay đem lại cơ hội với những mã giảm quá đà nhưng cũng đầy cạm bẫy với những cú nảy kỹ thuật.

Diễn biến bất ngờ của phiên giao dịch ngày 26/10 là hàng loạt “dao rơi” đã được bắt. Những nhà đầu cơ dũng cảm liệu có “đứt tay” hay không thì phải chờ ít nhất T+4 khi cổ phiếu về tài khoản. Phân tích diễn biến giao dịch ở những cổ phiếu này cho thấy hoạt động bắt đáy rất mạnh, thậm chí đủ sức đảo ngược tình thế ở nhiều mã.

HTV là ví dụ tiêu biểu nhất cho tốc độ rơi của “dao” với kỷ lục chưa từng có trên thị trường chứng khoán Việt Nam: 17 phiên giảm sàn liên tục, tương đương “bốc hơi” hơn 57% tính từ phiên phân phối cuối cùng ngày 30/9.

Đến tận hôm nay HTV mới xuất hiện “mạnh thường quân” ra tay cứu với khối lượng 486.420 cổ phiếu. Sau chuỗi ngày rơi thảm hại, “con dao” này đã cắm xuống đất khi vào vùng hỗ trợ 16.000 đồng – 18.000 đồng, tương đương với mức khởi điểm của sóng tăng hồi cuối tháng 6/2010. HTV được “quét” sàn 169.220 cổ phiếu, chiếm gần 35% khối lượng giao dịch.

Lực mua vào chủ động với HTV là rất rõ ràng: Tỉ lệ khớp theo dư bán chiếm 63%. Đây là hoạt động mua được khớp thẳng vào dư bán. Ngay khi có cầu xuất hiện, hoạt động bán ra tại HTV cũng tăng rất mạnh. Tuy nhiên lực mua đã chiến thắng hôm nay và chốt ngày HTV còn tăng 200 đồng/cổ phiếu, tương đương chênh lệch tới 6,36% ngay trong phiên.

Thực ra HTV cũng đã có dấu hiệu mua vào từ hôm qua với trên 136.000 cổ phiếu. Tuy nhiên đó mới chỉ là nỗ lực mua sàn thăm dò và chưa đủ quyết liệt để đỡ giá. HTV đã ra tin lợi nhuận quý 3 với lãi ròng 3,2 tỷ đồng, giảm gần 53% cùng kỳ. Con số lãi này không có gì đặc biệt. Tuy nhiên HTV lại ghi nhận một khoản tiền mặt gửi kỳ hạn dưới 1 năm tới 149,58 tỷ đồng, khá lớn so với mức vốn 100,8 tỷ đồng. Không rõ đây có phải là điểm hấp dẫn khiến lực bắt dao mạnh lên không, hay chỉ thuần túy vì giá đã giảm quá nhiều.

Đà rơi của “con dao” LTC không mạnh bằng HTV nhưng bên mua lại phải nỗ lực chặn đáy tới 6 phiên liên tục mới đảo ngược được đà giảm. LTC hôm nay còn tăng kịch trần và được chặn mua 52.800 cổ phiếu. 6 phiên mua vào với cổ phiếu này đã hấp thụ được khoảng 816.000 đơn vị. Tính từ giá đỉnh ngày 24/9 thì LTC cũng đã “bốc hơi” hơn 71%.

Với AAA, thực tế cổ phiếu này đã có thanh khoản trở lại từ cuối tháng 9 nhưng áp lực bán còn lớn khiến AAA tiếp tục hành trình giảm giá. Sau khi giảm 67% tính từ giá ngày 17/9, AAA về mức 30.000 đồng/cổ phiếu. Hôm nay AAA được đẩy lên kịch trần với khối lượng giao dịch trên 400.000 đơn vị. Giao dịch của cổ phiếu này ngày 26/10 chủ yếu là bên bán thoát hàng với khối lượng giao dịch tại giá trần khoảng 351.000 đơn vị.

Riêng với ba trường hợp đặc biệt này, giao dịch đột biến đi kèm diễn biến giá tăng cho thấy lực cầu bắt “dao” là khá mạnh. Với mức giảm giá thê thảm, chi phí vốn để mua vào lượng cổ phiếu tranh bán sàn cũng không phải là lớn. Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng khối lượng cổ phiếu kẹp trên đỉnh cao không hề nhỏ. Giá càng giảm mạnh thì trừ khối lượng giải chấp, đa số nhà đầu tư đành “cắn răng” chịu lỗ. Điều đó cũng có nghĩa là lượng cung thường trực còn lớn, tạo nên các ngưỡng cản trong hành trình phục hồi.

Không đến mức thảm hại như ba trường hợp dao rơi “kinh điển” trên, hàng loạt cổ phiếu nhỏ mấy tháng gần đây cũng đã từ từ đi xuống với tỉ lệ không hề nhỏ. Thống kê sơ bộ sàn HoSE với các mã có vốn hóa nhỏ hơn 500 tỷ đồng, có gần 30 cổ phiếu đã giảm trên 20% tính từ đầu tháng 9 đến nay. Đa số các cổ phiếu nhỏ giảm mạnh nhất đều tăng trần hoặc sát trần hôm nay như DTA, DXV (-40%), NVN (-32%) VES (-30%), VNI (-29%), PIT (-25%)…

HNX có số cổ phiếu giảm quá 20% thậm chí lên tới cả trăm mã. Riêng số giảm trên 40% cũng gần 20 mã. Ngoài những cổ phiếu tiêu biểu ở trên (AAA, LTC), còn xuất hiện hiện tượng bắt đáy hàng loạt tại VE9 (-55%), DLR (-48%), V21 (-46%), LCS (-45%), V15 (-43%)…

Tiếng lóng trên thị trường chứng khoán có câu: “con mèo chết cũng có thể nảy lên nếu được ném xuống từ độ cao thích hợp”, ám chỉ những cổ phiếu giảm quá mạnh luôn có đợt phục hồi kỹ thuật. Cứ nhìn mức giảm của những mã tiêu biểu tăng kịch trần hôm nay có thể thấy độ cao là quá lớn. Tuy nhiên, ẩn số của những cổ phiếu như vậy lại là độ nảy lên cao bao nhiêu. Không một nhà đầu cơ dám bắt “dao” nào lại kỳ vọng vào mức hoàn tăng 100%. Thoát ra ở thời điểm nào là cả một nghệ thuật, và cuộc chơi lúc này cũng khắc nghiệt không kém.

(Theo Vneconomy)

“Đại gia” viễn thông Trung Quốc vẫn ra rìa ở Mỹ

Huawei được thành lập vào cuối thập niên 1980 tại thành phố Thâm Quyến bởi một cựu sĩ quan quân đội Trung Quốc, ông Ren Zhengfei - Ảnh: WSI.

Dù đã phát triển mạnh ở nhiều thị trường, tập đoàn thiết bị viễn thông Huawei gần như vẫn đứng ngoài rìa thị trường Mỹ
Đầu năm nay, tập đoàn thiết bị viễn thông hàng đầu Trung Quốc Huawei đã cử đại diện tới thung lũng silicon để thực hiện một chiến dịch tuyển dụng nhân tài. Đây được xem là một bước đi khẳng định nỗ lực của Huawei trong việc đột phá vào thị trường Mỹ.

Theo tờ New York Times, trong suốt 1 thập kỷ qua, Huawei đã phát triển từ chỗ chỉ bắt chước sản phẩm của các công ty nước ngoài, tới một doanh nghiệp có tầm cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực thiết bị viễn thông và máy tính. Tuy nhiên, cho tới tận bây giờ, Huawei vẫn gần như bị đứng ngoài rìa ở thị trường Mỹ.

Huawei chỉ là một trong số nhiều công ty Trung Quốc đang tìm cách tiếp cận với những lĩnh vực kinh doanh cao cấp và đem lại nhiều lợi nhuận hơn tại Mỹ. Tuy nhiên, những lý do về an ninh khiến viễn thông trở thành một lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm đối với Washington.

Nhà mạng không dây lớn thứ ba của Mỹ là Sprint Nextel đang có ý định mua 3 tỷ USD thiết bị viễn thông tiên tiến, và Huawei được coi là một nhà cung cấp tiềm năng hàng đầu. Tuy nhiên, khả năng Sprint ký kết hợp đồng với Huawei đã làm các nhà chức trách Mỹ cảm thấy lo ngại.

Một số nghị sỹ và quan chức an ninh quốc gia Mỹ cho rằng, mối liên hệ mật thiết giữa Huawei và quân đội Trung Quốc có thể cho phép Bắc Kinh kiểm soát một phần hệ thống an ninh Mỹ, gây ra sự gián đoạn hoặc xâm nhập vào các cuộc gọi điện thoại và tin nhắn trên Internet.

Lường trước được những rào cản này, Huawei đã thuê nhiều nhà vận động hành lang, luật sư, chuyên gia tư vấn và các công ty quan hệ công chúng ở Washington hỗ trợ.

Ngoài ra, Huawei còn hỗ trợ thành lập một công ty phân phối các sản phẩm của hãng tại thị trường Mỹ có tên Amerilink Telecom, với hội đồng quản trị gồm những nhân vật “có máu mặt” như cựu nghị sỹ Richard A. Gephardt, nguyên Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) James D. Wolfensohn, và cựu CEO William A. Owens của công ty viễn thống Nortel Networks.

Quan chức của Amerilink đều cho biết, họ ưu tiên hỗ trợ Huawei vượt qua những rào cản vào thị trường Mỹ.

Và những nỗ lực của Huawei đã bước đầu được đền đáp. Mới đây, công ty viễn thông Internet của Mỹ có tên Clearwire đã bắt đầu thử nghiệm một hệ thống dựa trên công nghệ mạng 4G của Huawei. Tuy nhiên, thương vụ với Sprint, nếu thành công, mới là hợp đồng lớn nhất từ trước tới nay của Huawei với một đối tác Mỹ.

Nỗ lực tìm một chỗ đứng trên thị trường Mỹ của Huawei được xem là quan trọng, vì tập đoàn này là công ty đa quốc gia thực sự lớn lên trong nước của Trung Quốc. Một số nhà phân tích cho rằng, họ tin là sự nổi lên ngoạn mục của Huawei sẽ trở thành hình mẫu cho các công ty Trung Quốc khác khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Huawei hiện là nhà cung cấp thiết bị viễn thông lớn thứ hai thế giới sau tập đoàn Ericsson của Thụy Điển. Với sự hậu thuẫn của Chính phủ Trung Quốc, Huawei đã giành được nhiều hợp đồng lớn ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin. Tại châu Âu, Huawei thậm chí đã qua mặt cả Ericsson khi giành quyền cung cấp thiết bị cho nhiều nhà mạng lớn.

Mặc dù vậy, chặng đường đi đến thị trường Mỹ của Huawei vẫn vấp phải vô số trở ngại, chủ yếu về những lý do an ninh cũng như những cáo buộc về xâm phạm sở hữu trí tuệ và gián điệp kinh doanh. Trong thập kỷ qua, Huawei đã hai lần dính đơn kiện ở Mỹ từ hai trong số các đối thủ chính là Cisco và Motorola. Cả hai công ty này cáo buộc Huawei đánh cắp các thiết kế phần mềm và vi phạm bản quyền sáng chế.

Vào năm 2008, cũng chính những lo ngại về an ninh đã buộc Huawei phải từ bỏ kế hoạch cùng đối tác Mỹ Bain Capital mua lại công ty mạng 3Com của Mỹ với giá 2,2 tỷ USD.

Năm nay, Huawei cũng đã thất bại khi có ý định mua lại bộ phận mạng không dây của Motorola và một công ty phần mềm Internet băng thông rộng 2Wire của Mỹ. Các chuyên gia cho rằng, Motorola và 2Wire từ chối Huawei, vì lo ngại Washington có thể ngăn chặn thỏa thuận của họ với Huawei.

Trong một lá thư gửi các cơ quan chức năng Mỹ hồi tháng 8 vừa qua, một nhóm thượng nghị sỹ đảng Cộng hòa của Mỹ đã đặt ra những câu hỏi xung quanh việc Huawei có thể giành được hợp đồng với Sprint - nhà mạng có phục vụ quân đội Mỹ và nhiều cơ quan thực thi pháp luật của nước này.

Nhóm nghị sỹ này đã đề nghị Chính phủ rà soát lại hoạt động của Huawei tại Mỹ, đồng thời cho biết, họ lo ngại về “quá khứ” của công ty này, trong đó có việc Huawei cung cấp thiết bị viễn thông cho Iran và Iraq dưới thời cựu Tổng thống Saddam Hussein, có thể vi phạm luật trừng phạt của Liên hiệp quốc.

Sự thận trọng đối với Huawei còn lan sang nhiều quốc gia khác. Tại châu Âu, một số đối thủ của Huawei hiện đang phàn nàn về những khoản mà họ cho là trợ cấp mà Huawei nhận được từ Chính phủ Trung Quốc. Còn tại Ấn Độ, nhiều người lo ngại mạng lưới Huawei có thể gây ra những rủi ro an ninh. Về phần mình, Huawei phủ nhận việc họ có quan hệ với quân đội Trung Quốc, cũng như những cáo buộc về vi phạm sở hữu trí tuệ.

Theo giới phân tích, Huawei đã phát triển nhanh chóng thành một đối thủ đáng gờm tại một trong những lĩnh vực công nghệ quan trọng nhất và có mức độ cạnh tranh cao nhất, đó là những thiết bị cao cấp cho phép cải thiện việc phân phối âm thanh và hình ảnh trên Internet thông qua các thiết bị không dây.

Các chuyên gia cho rằng, sự vươn lên này của Huawei một phần là nhờ công ty đã chi mạnh cho công tác nghiên cứu và phát triển (R&D). Doanh nghiệp Trung Quốc nói chung yếu về R&D, nhưng Huawei đã có 17 trung tâm nghiên cứu trên thế giới, bao gồm tại các địa điểm như Dallas, Moscow, Bangalore, và gần đây nhất là một trung tâm mở tại Santa Clara, Mỹ.

Trên thực tế, trong số 96.000 nhân viên của Huawei, gần một nửa là nhân viên thuộc bộ phận R&D. Tháng 5 vừa qua, Huawei đã mở một trung tâm nghiên cứu trị giá lên tới 340 triệu USD tại Thượng Hải và cho biết, trung tâm này sẽ sử dụng tới 8.000 kỹ sư.

Tuy nhiên, nỗ lực trở thành một công ty đa quốc gia của Huawei không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái. Theo các chuyên gia từng làm việc lâu năm cho Huawei, ngoài những lý do khách quan như đã nêu trên, công ty có trụ sở ở Thâm Quyến này đã rất dò dẫm khi mới đặt chân ra thị trường bên ngoài, vì không hiểu rõ về môi trường kinh doanh ngoài Trung Quốc.

Giáo sư kinh tế Peter J. Williamson thuộc Đại học Cambridge cho rằng, dù còn nhiều ý kiến về những rủi ro an ninh mà Huawei có thể gây ra, sức mạnh công nghệ của tập đoàn này là điều không thể phủ nhận.

“Thị trường khó xâm nhập nhất đối với Huawei là Mỹ. Nhưng họ đã vào được châu Âu. Một khi họ đã làm việc được với Vodafone, một trong những nhà mạng lớn nhất thế giới, họ có thể trở thành đối tác của bất kỳ nhà mạng nào khác”, ông Williamson nói.

(Theo VNeconomy)

Saturday, 23 October 2010

Chương trình “INTERNSHIP DAY 2010” danh cho các bạn sinh viên năm cuối

Xem hình

Vào chủ nhật, lúc 7h30, ngày 31/10/2010 tại Hội trường 700, Học viện Tài chính, Hà Nội, CLB A&A đồng tổ chức với Trung tâm Ngoại Ngữ - Tin học CFI – Học viện Tài chính tổ chức chương trình ''INTERNSHIP DAY 2010'' cho các bạn sinh viên năm cuối trên toàn thành phố Hà Nội.

Chương trình được Khoa Kế toán – Học viện Tài chính, VACPA và CPA Australia bảo trợ tổ chức, với nội dung:

a) Trong hội trường 700

Phần 1: Giới thiệu quy trình thực tập

Nội dung: trong vòng 5 phút mỗi công ty phải nói được hai vấn đề

- Quy trình tuyển thực tập

- Yêu cầu với sinh viên thực tập

Cách thức thể hiện: Doanh nghiệp thuyết trình trực tiếp

Phần 2: Q&A

BTC sẽ đi thu các phiếu câu hỏi của các bạn sinh viên và chọn ra các câu hỏi để hỏi các doanh nghiệp tham gia

Sau đó là phần hỏi đáp trực tiếp các câu hỏi với các bạn sinh viên

b) Ngoài hội trường 700, tư vấn trực tiếp và nhận hồ sơ thực tập của các công ty tham gia.

Chương trình INTERNSHIP DAY 2010 năm nay có sự tham gia của các doanh nghiệp: Nexia ACPA, Mazars, PKF, Grant Thornton, AASC, A&C, UHY, Misa, Liên Việt Bank…

Các bạn sinh viên có quan tâm đến chương trình cần đăng ký với CLB sớm nhất có thể để có thể xắp xếp chỗ ngồi trong HT700 và nhận thông tin thực tập mới nhất từ phía các doanh nghiệp tham gia.

Cách thức đăng ký:

Soạn 1 email với tiêu đề: INTERNSHIP DAY 2010 – A&A, nội dung gồm có: Tên, Trường, Lớp và Số điện thoại. Sau đó gửi đến hòm thư CLB: aaclub1407@gmail.com

Hoặc truy cập vào link sau:

https://spreadsheets.google.com/viewform?formkey=dHFrYXl3VlhKdGQtQlJFRXRVWnRnRkE6MQ

Nếu có thắc mắc gì về cách thức đăng ký tham gia chương trình các bạn vui lòng liên lạc với số điện thoại: 0168 80 80 86

Doanh nghiệp nhà nước không đủ năng lực đóng vai trò chủ đạo

Xem hình

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định mọi thành phần kinh tế đều được coi trọng, đồng thời thừa nhận rằng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực nhà nước thấp hơn so với khu vực tư nhân, nhưng vẫn tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Câu hỏi đặt ra là liệu kinh tế nhà nước có đủ năng lực để đóng vài trò chủ đạo này hay không?

Góp phần trả lời câu hỏi này, bài viết này sử dụng các nguồn số liệu thống kê chính thức để đánh giá mức độ sử dụng nguồn lực và đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thành phần quan trọng nhất của kinh tế nhà nước, trong mối quan hệ so sánh với khu vực doanh nghiệp dân doanh trong nước (DNDD) và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Kết quả thống kê được tóm tắt trong bảng dưới đây.

Chưa tính đúng, tính đủ

Về phương diện sử dụng nguồn lực, theo số liệu thống kê chính thức, tỷ trọng vốn đầu tư và tín dụng của khu vực DNNN đã giảm một cách đáng kể lần lượt từ 57% và 37% trong giai đoạn 2001-2005 xuống 45% và 31% trong giai đoạn 2006-2009. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do chương trình cổ phần hóa DNNN, nhưng quan trọng hơn là do khu vực dân doanh đã lớn mạnh không ngừng kể từ khi ra đời Luật Doanh nghiệp 1999 và do dòng vốn FDI ồ ạt chảy vào Việt Nam cùng với tiến trình Việt Nam gia nhập WTO.

Tuy nhiên, tỷ trọng đầu tư và tín dụng theo số liệu chính thức chưa thực sự phản ánh đầy đủ thực trạng chiếm dụng nguồn lực của khu vực DNNN.

Về phương diện đầu tư, nhiều khoản đầu tư của Nhà nước cho các DNNN không nằm trong ngân sách, đồng thời nhiều khoản đầu tư của các DNNN, đặc biệt là của các tập đoàn và tổng công ty, được thực hiện qua các công ty con, và do vậy không được phản ánh một cách đầy đủ vào tổng đầu tư của khu vực này.

Bên cạnh đó, nhiều DNNN, đặc biệt trong lĩnh vực vận tải, hàng không, viễn thông, được sử dụng cơ sở hạ tầng từ nguồn đầu tư trực tiếp của Nhà nước.

Tương tự như vậy, về phương diện tín dụng, DNNN nhận được rất nhiều tín dụng từ Quỹ hỗ trợ phát triển trước đây và Ngân hàng Phát triển Việt Nam hiện nay nhưng không nằm trong cơ sở dữ liệu của hệ thống ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tín dụng dành cho các công ty con, công ty sân sau (kể cả doanh nghiệp cổ phần hóa) của nhiều tập đoàn và tổng công ty cũng không được thống kê đầy đủ.

Đấy là chưa kể đến một thực tế hiển nhiên là khu vực DNNN được hưởng rất nhiều đặc quyền, đặc lợi so với các khu vực còn lại. Cụ thể là DNNN được Nhà nước cấp đất kinh doanh, hoặc nếu phải thuê thì với mức giá không đáng kể so với giá trị thị trường, sau đó được sử dụng đất thuê để thế chấp vay vốn ngân hàng, trong khi các doanh nghiệp tư nhân không có lựa chọn này. Các DNNN, với sự hậu thuẫn của Nhà nước, cũng được ưu tiên tiếp cận tín dụng (trong nhiều trường hợp thông qua tín dụng chỉ định) và ngoại tệ khan hiếm với giá thấp hơn giá thị trường.

Mức đóng góp ngày càng giảm

Mặc dù được biệt đãi về phương diện tiếp cận nguồn lực, đồng thời trong nhiều trường hợp được hưởng vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, nhưng đóng góp của khu vực DNNN cho nền kinh tế lại rất hạn chế, không những thế lại đang trên đà đi xuống.

Thứ nhất, trong 10 năm trở lại đây tỷ lệ đóng góp của khu vực DNNN cho ngân sách nhà nước trung bình chưa tới 20% và ngày một giảm so với chính mình cũng như so với khu vực tư nhân (bao gồm khu vực DNDD và FDI). Nếu như trong giai đoạn 2001-2005, DNNN đóng góp 19,6% cho ngân sách, cao gần gấp rưỡi so với khu vực tư nhân, thì trong giai đoạn 2006-2009, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 17%, tức là chỉ bằng bốn phần năm so với khu vực tư nhân.

Thứ hai, đóng góp của khu vực DNNN vào GDP cũng đi theo xu hướng tương tự. Báo cáo của Chính phủ thường dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê cho rằng DNNN tạo ra khoảng 35% GDP của Việt Nam, nhưng điều này không chính xác vì 35% là tỷ lệ đóng góp của cả khu vực nhà nước - trong đó DNNN chỉ là một bộ phận.

Sau khi trừ đi GDP tạo ra từ các hoạt động của khu vực nhà nước nằm ngoài DNNN (như quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể thao, hoạt động đoàn thể...) thì trong giai đoạn 2006-2009, khu vực DNNN trung bình chỉ tạo ra khoảng 28% GDP, giảm từ mức 30% của giai đoạn 2001-2005.

Hơn nữa, đóng góp của khu vực DNNN vào tăng trưởng GDP đã giảm từ mức 33% trong giai đoạn 2001-2005 xuống 19% trong giai đoạn 2006-2009, nguyên nhân là do tốc độ tăng GDP của khu vực DNNN giảm từ 7,6% xuống 4,0% - tức là chỉ bằng một nửa so với khu vực tư nhân.

Thứ ba, về phương diện lao động - việc làm, kết quả điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ trọng lao động của khu vực DNNN giảm rất nhanh từ mức 44% trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 24% trong giai đoạn 2006-2008. Không những thế, tỷ lệ tạo ra việc làm mới cũng giảm một cách tương ứng từ -4% xuống -22%, tức là DNNN không những không tạo ra việc làm mới mà còn cắt giảm lao động, do vậy đặt gánh nặng tạo việc làm mới hoàn toàn trên vai của khu vực tư nhân, chủ yếu là của khu vực dân doanh.

Đã đành việc cắt giảm lao động là hệ quả khó tránh khỏi trong quá trình cổ phần hóa DNNN, nhưng nếu DNNN thực sự ngày một lớn mạnh thì chúng cũng phải có khả năng tạo ra việc làm mới, một yêu cầu tối quan trọng đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh và có lực lượng lao động trẻ dồi dào như Việt Nam.

Thứ tư, nếu nhìn vào hoạt động sản xuất công nghiệp, lĩnh vực trung tâm trong chiến lược phát triển theo hướng công nghiệp hóa của Việt Nam, thì vai trò của khu vực DNNN cũng hết sức khiêm tốn. Nếu như vào năm 1995, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước và tư nhân là 50%-50%, thì đến năm 2009, tỷ lệ này chỉ còn là 20-80%.

Không những thế, tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực nhà nước (theo giá cố định) đã giảm từ 29% trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 8% trong giai đoạn 2006-2009. Trong khi đó, đóng góp của khu vực dân doanh tăng từ 34% lên 46% trong cùng thời kỳ.

Thứ năm, có bằng chứng cho thấy các DNNN đóng góp một cách khiêm tốn cho kim ngạch xuất khẩu nhưng lại là nơi tạo ra một tỷ lệ lớn kim ngạch nhập khẩu. Vì các nguồn số liệu chính thức hiện nay không tách bạch số liệu xuất - nhập khẩu của khu vực DNNN và DNDD nên kết quả xuất - nhập khẩu của hai khu vực này chỉ có thể được ước tính một cách gần đúng. Cụ thể là sau khi trừ dầu thô, than và khoáng sản thì DNNN chỉ tạo ra khoảng 15-20% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Về phương diện nhập khẩu, số liệu còn hạn chế hơn nữa. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các dự án lớn như Dung Quất, Vinashin, và những hoạt động thâm dụng vốn và công nghệ (chủ yếu có được nhờ nhập khẩu) của DNNN thì tỷ trọng nhập khẩu của DNNN chắc chắn rất cao.

Kết hợp hai thực tế, một là khu vực FDI xuất siêu (nên khu vực trong nước nhập siêu) và hai là kim ngạch xuất khẩu của khu vực DNNN chỉ chiếm dưới 20%, trong khi nhập khẩu rất nhiều, có thể thấy rằng DNNN là một nguyên nhân quan trọng của tình trạng nhập siêu ngày một cao ở Việt Nam.

Điều này cũng có nghĩa là một số vấn đề vĩ mô như thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai và sức ép giảm giá tiền đồng Việt Nam sẽ không thể được giải quyết triệt để nếu không thay đổi chính sách buộc các DNNN trở nên hiệu quả và cạnh tranh hơn.

Bức tranh đã rõ

Những tính toán và phân tích trên đây cũng phù hợp với một số đánh giá trước đây về hiệu quả hoạt động của khu vực DNNN. Theo bài “Đánh giá hiệu quả đầu tư” (2010) của tác giả Bùi Trinh, dù tính theo vốn đầu tư thực hiện hay theo tích lũy tài sản thì hệ số ICOR của khu vực kinh tế nhà nước cũng cao gấp rưỡi hệ số ICOR chung của toàn nền kinh tế.

Theo báo cáo tóm tắt kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì trong năm 2008, 56/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) dưới 15%, tức là thậm chí còn thấp hơn mặt bằng lãi suất trong năm 2008 (là năm có chỉ số CPI trung bình lên tới 20%).

Điều này có nghĩa là nếu áp dụng các phương pháp kế toán đúng đắn thì hầu hết các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sẽ thua lỗ. Đồng thời, cũng có thể lập luận thêm rằng ngay cả khi những tập đoàn và tổng công ty có lãi thì chủ yếu nhờ vào sự bảo hộ của Chính phủ, nhờ vào vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, hay hàng rào thuế quan cao, và/hoặc được Chính phủ trợ cấp bằng vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên rẻ, hay được ban phát các hợp đồng béo bở.

Nhà nước nên từ bỏ quan điểm chọn trước một khu vực nào đó là “xương sống” hay “chủ đạo”, bất chấp kết quả hoạt động của khu vực này, mà cần tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng.

Nói tóm lại, khu vực nhà nước ở Việt Nam hiện chiếm hữu rất nhiều nguồn lực nhưng sử dụng chúng một cách kém hiệu quả, đóng góp rất khiêm tốn cho ngân sách, tăng trưởng GDP, tạo việc làm mới, phát triển công nghiệp, và xuất khẩu.

Trong khi đó, khu vực dân doanh hiệu quả hơn, đang ngày một trưởng thành và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế lại bị chèn lấn, thiếu nguồn lực, và phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh không bình đẳng.

Ở một nước đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, luôn luôn khát vốn và có áp lực tạo việc làm mới lớn như Việt Nam thì năng lực sử dụng vốn một cách hiệu quả, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu là những tiền đề thiết yếu để giúp đất nước phát triển.

Để đạt được những điều này, trước hết cần từ bỏ quan điểm chọn trước một khu vực nào đó là “xương sống” hay “chủ đạo”, bất chấp kết quả hoạt động của khu vực này. Thay vào đó, Nhà nước cần tạo ra một môi trường cạnh tranh công khai và bình đẳng, giúp cho khu vực dân doanh ngày một trưởng thành tương xứng với tiềm tăng và những đóng góp của khu vực này cho nền kinh tế quốc dân.

(Theo Thesaigontimes.vn)

Popular Posts