Thursday, 9 May 2013

Những điểm mới trong thông tư 45 so với thông tư 203


Những điểm mới trong Thông tư 45/2013/TT-BTC về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng, và trích khấu hao tài sản cố định áp dụng kể từ năm tài chính 2013
Một số điểm thay đổi mới trong nội dung thông tư này như sau:
1. Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ: chỉ thay đổi về giá trị của TSCĐ phải từ 30.000.000 đồng trở lên ( so với lúc trước chỉ có 10.000.000 đồng).
2. Qui định rõ hơn về các chi phí này bao gồm: Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, chi phí mua để có và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tối đa không quá 3 năm theo quy định của Luật thuế TNDN
3. Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, còn TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc thì nguyên giá là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ hữu hình vào sử dụng
Trường hợp sau khi mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ để xây dựng mới thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này; nguyên giá của TSCĐ xây dựng mới được xác định là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành.
Những tài sản dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ được xử lý hạch toán theo quy định hiện hành đối với thanh lý tài sản cố định
4. Nguyên giá tài sản cố định hữu hình do đầu tư xây dựng:
Nguyên giá TSCĐ do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành cộng (+) lệ phí trước bạ, các chi phí liên quan trực tiếp khác. Trường hợp TSCĐ do đầu tư xây dựng đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.
5. Tài sản cố định hữu hình nhận góp vốn, nhận lại vốn góp:
TSCĐ nhận góp vốn, nhận lại vốn góp là giá trị do các thành viên, cổ đông sáng lập định giá nhất trí; hoặc doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận; hoặc do tổ chức chuyên nghiệp định giá theo quy định của pháp luật và được các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
6. TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất:
TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất bao gồm:
+ Quyền sử dụng đất được nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp (bao gồm quyền sử dụng đất có thời hạn, quyền sử dụng đất không thời hạn).
+ Quyền sử dụng đất thuê trước ngày có hiệu lực của Luật Đất đai năm 2003 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên giá TSCĐ là quyền sử dụng đất được xác định là toàn bộ khoản tiền chi ra để có quyền sử dụng đất hợp pháp cộng (+) các chi phí cho đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (không bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất); hoặc là giá trị quyền sử dụng đất nhận góp vốn.
-           Quyền sử dụng đất không ghi nhận là TSCĐ vô hình gồm:
+          Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất.
+          Thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê (thời gian thuê đất sau ngày có hiệu lực thi hành của Luật đất đai năm 2003, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì tiền thuê đất được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh theo số năm thuê đất.
+          Thuê đất trả tiền thuê hàng năm thì tiền thuê đất được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ tương ứng số tiền thuê đất trả hàng năm.
-           Đối với các loại tài sản là nhà, đất đai để bán, để kinh doanh của công ty kinh doanh bất động sản thì doanh nghiệp không được hạch toán là TSCĐ và không được trích khấu hao.

7.  Đầu tư nâng cấp, sửa chữa tài sản cố định:
7.1.      Các chi phí doanh nghiệp chi ra để đầu tư nâng cấp tài sản cố định được phản ánh tăng nguyên giá của TSCĐ đó, không được hạch toán các chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
7.2.      Các chi phí sửa chữa tài sản cố định không được tính tăng nguyên giá TSCĐ mà được hạch toán trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ, nhưng tối đa không quá 3 năm.
Đối với những tài sản cố định mà việc sửa chữa có tính chu kỳ thì doanh nghiệp được trích trước chi phí sửa chữa theo dự toán vào chi phí hàng năm. Nếu số thực chi sửa chữa tài sản cố định lớn hơn số trích theo dự toán thì doanh nghiệp được tính thêm vào chi phí hợp lý số chênh lệch này. Nếu số thực chi sửa chữa tài sản cố định nhỏ hơn số đã trích thì phần chênh lệch được hạch toán giảm chi phí kinh doanh trong kỳ.
7.3.      Các chi phí liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau ghi nhận ban đầu được đánh giá một cách chắc chắn, làm tăng lợi ích kinh tế của TSCĐ vô hình so với mức hoạt động ban đầu, thì được phản ánh tăng nguyên giá TSCĐ. Các chi phí khác liên quan đến TSCĐ vô hình phát sinh sau ghi nhận ban đầu được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh
8.  Trường hợp trong hợp đồng thuê tài sản (bao gồm cả thuê hoạt động và thuê tài chính) quy định bên đi thuê có trách nhiệm sửa chữa tài sản trong thời gian thuê thì chi phí sửa chữa TSCĐ đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh nhưng thời gian tối đa không quá 3 năm.
9. Nguyên tắc trích khấu hao TSCĐ:
Trường hợp TSCĐ sử dụng trong các hoạt động phúc lợi phục vụ cho người lao động của doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư này có tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp căn cứ vào thời gian và tính chất sử dụng các tài sản cố định này để thực hiện tính và trích khấu hao vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp và thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý để theo dõi, quản lý
Trường hợp đánh giá lại giá trị TSCĐ đã hết khấu hao để góp vốn, điều chuyển khi chia tách, hợp nhất, sáp nhập thì các TSCĐ này phải được các tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định giá trị nhưng không thấp hơn 20% nguyên giá tài sản đó. Thời điểm trích khấu hao đối với những tài sản này là thời điểm doanh nghiệp chính thức nhận bàn giao đưa tài sản vào sử dụng và thời gian trích khấu hao từ 3 đến 5 năm. Thời gian cụ thể do doanh nghiệp quyết định nhưng phải thông báo với cơ quan thuế trước khi thực hiện.
Việc trích hoặc thôi trích khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng hoặc giảm. Doanh nghiệp thực hiện hạch toán tăng, giảm TSCĐ theo quy định hiện hành về chế độ kế toán doanh nghiệp.
10.  Đối với các công trình xây dựng cơ bản hoàn thành: đưa vào sử dụng, doanh nghiệp đã hạch toán tăng TSCĐ theo giá tạm tính do chưa thực hiện quyết toán. Khi quyết toán công trình xây dựng cơ bản hoàn thành có sự chênh lệch giữa giá trị tạm tính và giá trị quyết toán, doanh nghiệp phải điều chỉnh lại nguyên giá tài sản cố định theo giá trị quyết toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Doanh nghiệp không phải điều chỉnh lại mức chi phí khấu hao đã trích kể từ thời điểm tài sản cố định hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng đến thời điểm quyết toán được phê duyệt. Chi phí khấu hao sau thời điểm quyết toán được xác định trên cơ sở lấy giá trị quyết toán tài sản cố định được phê duyệt trừ (-) số đã trích khấu hao đến thời điểm phê duyệt quyết toán tài sản cố định chia (:) thời gian trích khấu hao còn lại của tài sản cố định theo quy định
11.  Xử lý đối với các tài sản cố định đã áp dụng thông tư trước ( TT 203) nay áp dụng thông tư 45, cần được xử lý như sau:
Đối với các tài sản cố định doanh nghiệp đang theo dõi, quản lý và trích khấu hao theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC nay không đủ tiêu chuẩn về nguyên giá tài sản cố định theo quy định tại Điều 2 của Thông tư này thì giá trị còn lại của các tài sản này được phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành của Thông tư này.
12.   Về khung thời gian khấu hao TSCĐ: cần xem vì có sự thay đổi về thời gian tối thiểu và tối đa. Tuy nhiên chủ yếu tăng thời gian tối đa lên nhiều so với qui định cũ.
BQT WEB

Wednesday, 8 May 2013

Lộ mặt nạ sau kiểm toán: Kêu ải kêu ai!


Đã có đến 549 doanh nghiệp chênh lệch lợi nhuận sau kiểm toán năm 2012. Theo thống kê của Vietstock, hiện có tới 319 doanh nghiệp báo chênh lệch giảm, từ lãi sang lỗ hay tăng lỗ sau kiểm toán năm 2012; và cũng có 230 doanh nghiệp chênh lệch tăng hay giảm lỗ. Như vậy, con số khớp nhau về lợi nhuận sau kiểm toán thì chỉ có 123 doanh nghiệp, còn lại là chưa công bố đầy đủ báo cáo trước hoặc sau kiểm toán.

Minh An (Vietstock)


Mỗi mùa báo cáo tài chính đi qua, vấn đề chênh lệch số liệu sau kiểm toán hay những ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên luôn làm nhức nhối giới đầu tư và cơ quan quản lý, nhưng đến nay tình trạng này vẫn không thuyên giảm. Thậm chí còn có thêm nhiều trường hợp làm nhà đầu tư sốc nặng hơn như PVX, VID, HLC hay ACB.
Việc tăng giảm giá cổ phiếu ngoài ảnh hưởng chung của thị trường, còn phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Chẳng vì thế mà khi một báo cáo tài chính “đẹp” được công bố thì dòng tiền rót về cổ phiếu đó và ngược lại. Tuy nhiên, nhà đầu tư chớ có vội mừng, bởi kết quả kinh doanh đó có “thật” hay không thì chỉ sau khi đơn vị kiểm toán vào cuộc mới rõ ngọn ngành.
Nếu được bầu chọn doanh nghiệp gây nhiều “scandal” nhất trong năm qua có lẽ PVX sẽ lọt vào danh sách đề cử. Bởi từ quý 2/2012 doanh nghiệp này đã bắt đầu trượt dốc với mức lỗ khủng 260 tỷ đồng, nhiều nhà đầu tư đã xem PVX là “tội đồ” của thị trường chứng khoán.
Một năm sau đó, PVX lại làm nhà đầu tư choáng váng với thông tin công bố: Công ty mẹ lỗ khủng 1,222 tỷ đồng năm 2012 và càng sốc hơn khi đột ngột biến từ lãi 19 tỷ năm 2011 sang lỗ 196 tỷ đồng. Chưa dừng lại ở đó, báo cáo tài chính kiểm toán 2012 được công bố với lợi nhuận sau thuế của PVX chênh lệch tới 260 tỷ đồng, tức tăng lỗ lên 1,338 tỷ đồng. Đây là con số chênh lệch giảm lớn nhất cho đến thời điểm này.
Lúc này thì không còn từ gì để dành cho PVX. Với mức giá trên 10x từ tháng 4/2012, đến nay cổ phiếu PVX chỉ còn loanh quanh 4x. Một sự thật mà hơn một năm sau nhà đầu tư mới được biết thì có thể thấy khả năng “vẽ báo cáo tài chính” của PVX ở mức nào.
ACB cũng là ngân hàng gây nhiều tiếng tăm trong năm 2012 với sự vụ liên quan đến bầu Kiên. Tháng 7/2012, khi mọi việc liên quan đến bầu Kiên chưa vỡ lẽ, giá cổ phiếu ACB luôn trên mức 25x. Đến lúc sóng gió ập tới (gần cuối tháng 8/2012), cổ phiếu ACB bắt đầu hành trình lao dốc.
Cũng từ đây, hoạt động kinh doanh của ACB được giới đầu tư “soi” kỹ hơn. Nếu như từ năm 2008 đến 2011, ACB luôn đạt lợi nhuận trên 2,000 tỷ đồng thì năm 2012 chỉ còn vỏn vẹn 928 tỷ đồng. Tuy nhiên, đây chưa phải là con số cuối cùng. Ngay sau khi kiểm toán vào cuộc thì con số trên mất đi 144 tỷ đồng, xuống mức 784 tỷ đồng. Và lúc này cổ phiếu ACB cũng chỉ còn 15x... (Bảng 1)
 Bảng 1
Đây chỉ là những gương mặt điển hình. Theo thống kê của Vietstock thì có tới 319 doanh nghiệp báo chênh lệch giảm, từ lãi sang lỗ hay tăng lỗ sau kiểm toán; và cũng có 230 doanh nghiệp chênh lệch tăng hay giảm lỗ. Như vậy, con số khớp nhau sau kiểm toán thì chỉ có 123 doanh nghiệp, còn lại là chưa công bố đầy đủ báo cáo trước hoặc sau kiểm toán.
Đó là chưa kể 171 doanh nghiệp chênh lệch giảm doanh thu sau kiểm toán điển hình như QCG giảm tới 1,141 tỷ đồng, PVX cũng giảm 435 tỷ đồng, TS4 giảm 236 tỷ đồng… Và cũng có 113 doanh nghiệp chênh lệch tăng doanh thu sau kiểm toán, đứng đầu danh sách là TTF tăng 449 tỷ đồng, PVC tăng 272 tỷ đồng, SHB tăng 170 tỷ đồng và MPC tăng 138 tỷ đồng…
Những biến động kết quả kinh doanh này đã ảnh hưởng trực tiếp đến “túi tiền” của nhà đầu tư nhưng hiện tại vẫn chưa có giải pháp triệt để trong công tác quản lý, đòi hỏi nhà đầu tư cần cẩn trọng hơn trong việc lựa chọn cổ phiếu.
BBT: Qua bài báo này, mặc nhiên đánh giá cao vai trò của kiểm toán độc lập, góp phần nhằm phản ánh trung thực, hợp lý hơn BCTC, tăng độ tin cậy vào KTV và công ty kiểm toán, cũng thể hiện sự đòi hỏi càng cao của xã hội với chất lượng kiểm toán BCTC.

Chiến lược kế toán – kiểm toán đến 2020, tầm nhìn 2030: CHUẨN HÓA CÔNG CỤ GIÁM SÁT, QUẢN LÝ NỀN KINH TẾ

Ông Đặng Thái Hùng
Chiến lược kế toán - kiểm toán (KT-KT) đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là tiền đề và động lực quan trọng để nâng tầm hoạt động kế toán, kiểm toán cũng như góp phần nâng cao hiệu quả, minh bạch hóa nền kinh tế nước nhà. Để rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Thời báo Tài chính Việt Nam đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Đặng Thái Hùng - Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán (Bộ Tài chính).
Hải Anh
PV: Chiến lược KT-KT đến năm 2020, tầm nhìn 2030 có tầm vóc, ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng lớn đến hoạt động KT-KT Việt Nam hiện nay như thế nào, thưa ông?
PGS.TS Đặng Thái Hùng: Hoạt động KT-KT cũng như nhiều lĩnh vực trong xã hội muốn phát triển cần có chiến lược để vừa định hướng vừa xác định mục tiêu, có giải pháp thực hiện để đạt được mục tiêu ấy. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử hình thành phát triển hơn 50 hoạt động kế toán và 20 năm hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam, được Thủ tướng Chính phủ quan tâm phê duyệt và ban hành một chiến lược cho sự phát triển dài hơi.
Lĩnh vực KT-KT với chức năng là tạo lập hệ thống thông tin về kinh tế - tài chính – ngân sách phục vụ cho việc điều hành và quyết định kinh tế của Nhà nước cũng như bản thân mỗi đơn vị tổ chức và có vai trò quan trọng đi đôi với sự phát triển kinh tế của đất nước qua từng thời kỳ. Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng thông tin KT-KT ngày càng đóng góp vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới là rất cấp thiết.
Chiến lược KT-KT đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được đặt ra trong bối cảnh nêu trên, hướng đến tạo lập hệ thống KT-KT Việt Nam đáp ứng được yêu cầu quản lý của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, dần hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế. Phấn đấu đến 2030, Việt Nam có một hệ thống KT-KT thực sự của kinh tế thị trường, tương đồng với thông lệ quốc tế.
PV: Thưa ông, Bộ Tài chính sẽ đóng vai trò quan trọng thế nào trong việc cụ thể hóa chiến lược này?
PGS.TS Đặng Thái Hùng: Bộ Tài chính được xác định là cơ quan tham mưu cho Chính phủ quản lý công tác KT-KT. Trong việc tổ chức thực hiện chiến lược Bộ Tài chính có 4 trách nhiệm chính.
Thứ nhất, chủ trì tổ chức triển khai thực hiện chiến lược, phê duyệt, chỉ đạo kế hoạch thực hiện nội dung chiến lược theo kế hoạch từng giai đoạn và cụ thể hóa chi tiết cho từng năm.
Thứ hai, hướng dẫn đôn đốc các Bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng nhiệm vụ được giao sẽ xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình, nội dung có liên quan đến chiến lược. Hoạt động KT-KT bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, Bộ Tài chính có trọng trách xây dựng tổ chức thực hiện các phần việc liên quan đến chiến lược cho các bộ quản lý theo lĩnh vực, các cơ quan quản lý theo chuyên ngành, địa phương quản lý theo địa bàn.
Thứ ba, chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan kiểm tra việc thực hiện chiến lược, đánh giá rút kinh nghiệm từng năm, có đánh giá sơ kết định kỳ 5 năm.
Thứ tư, chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu nội dung chiến lược trong trường hợp cần thiết.
PV: Hàng loạt công việc phải triển khai, trước mắt, Bộ Tài chính sẽ tập trung thực hiện những nội dung gì, thưa ông?
PGS.TS Đặng Thái Hùng: Chiến lược KT-KT bao quát nhiều hoạt động mà nội dung quan trọng là hoàn thiện hành lang pháp lý về KT-KT. Vì vậy, trong năm 2013, chúng tôi sẽ đẩy mạnh việc hoàn thiện và ban hành các thông tư hướng dẫn Luật Kiểm toán độc lập, 37 Chuẩn mực Kiểm toán vừa được Bộ Tài chính ban hành  (có hiệu lực từ 01/01/2014); xây dựng và hoàn thiện dự thảo nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kế toán và kiểm toán độc lập.
Bộ Tài chính sẽ nhanh chóng nghiên cứu thảo luận đề xuất những nội dung sửa đổi Luật Kế toán 2003 cho phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay; tiếp tục cập nhật hoàn thiện các chuẩn mực kế toán liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động trên thị trường chứng khoán – tài chính dần phù hợp, tương thích với chuẩn mực quốc tế, ban hành một số chế độ kế toán cho hoạt động dự trữ Nhà nước, quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài, kế toán công...; ban hành các văn bản pháp luật phục vụ cho mô hình Tổng Kế toán Nhà nước...
PV: Xin cảm ơn Ông./.
(Theo Thời báo Tài chính)

Sunday, 5 May 2013

Thông Tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013, hướng dẫn chế độ Quản Lý,Sử Dụng Và Trích Khấu Hao Tài Sản Cố Định

Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính Về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ)
Một số nội dung chính của Thông tư  này như sau:
Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định:
Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:
♦ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
♦ Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;
♦ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.
Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình.
Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình.
Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình:
Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 3, thông tư 45/2013/TT-BTC, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình.
Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả ba tiêu chuẩn nêu tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 45/2013/TT-BTC  thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, chi phí mua để có và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tối đa không quá 3 năm theo quy định của Luật thuế TNDN.
QSDĐ nhận chuyển nhượng hợp pháp cũng được xem là TSCĐ vô hình, trước đây theo Thông tư 203 chỉ có QSDĐ giao có thu tiền mới được xem là TSCĐ vô hình (khoản 2đ Điều 4).
 Mỗi tài sản cố định chỉ được phép thay đổi một lần phương pháp trích khấu hao trong quá trình sử dụng và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
 66446-tscd
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/06/2013 và áp dụng từ năm tài chính năm 2013.
Thông tư này thay thế Thông tư số 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Kể từ năm tính thuế 2013, tiết k điểm 2.2 khoản 2 Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được thực hiện theo quy định sửa đổi, bổ sung sau:
“k) Quyền sử dụng đất lâu dài không được trích khấu hao và phân bổ vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đầy đủ hoá đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được phân bổ dần vào chi phí được trừ theo thời hạn được phép sử dụng đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp quyền sử dụng đất giao có thu tiền có thời hạn được trích khấu hao để tính vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp”.
Xem chi tiết và tải toàn bộ thông tư về tại đây

Friday, 3 May 2013

Chuẩn mực kiểm toán mới: Góp phần nâng cao trách nhiệm các bên liên quan

Ông Bùi Văn Mai
Vừa qua Bộ Tài chính đã chính thức ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam để thay thế hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành, bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2014. Đây là bước tiến quan trọng trong lộ trình nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán Việt Nam. Để tìm hiểu thêm vấn đề này, phóng viên Báo Kiểm toán đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Văn Mai - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA).
LONG HOÀNG
* Ông có thể cho biết những điểm đáng chú ý của 37 chuẩn mực kiểm toán vừa mới được ban hành?
- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán là cơ sở để kiểm tra, kiểm soát nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC). Tuy nhiên, qua hơn 10 năm triển khai thì hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành từ 1999 đã bộc lộ nhiều vấn đề không còn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường. Năm 2009, Ủy ban chuẩn mực quốc tế đã ban hành lại hệ thống chuẩn mực kiểm toán, do đó Bộ Tài chính cũng nhận thấy Việt Nam phải ban hành lại hệ thống chuẩn mực này. Năm 2010 Bộ Tài chính đã giao việc nghiên cứu soạn thảo cho VACPA thực hiện. Thông tư 214/2012/TT-BTC (ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán) cũng là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên được ban hành do một Hội nghề nghiệp đề nghị. So với hệ thống chuẩn mực kiểm toán cũ, hệ thống chuẩn mực vừa ban hành có nhiều điểm đổi mới. 
Trước hết, hệ thống chuẩn mực này được ban hành sau khi Luật Kiểm toán độc lập đã được ban hành năm 2011. Như vậy đã có một văn bản có giá trị pháp lý cao thể hiện các quy định của Nhà nước về kiểm toán độc lập. Yêu cầu đặt ra là soạn thảo chuẩn mực kiểm toán phải đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, phù hợp với luật hiện hành. Trong hệ thống chuẩn mực, cách tiếp cận đã thay đổi mang tính chất áp dụng các kỹ thuật tiên tiến hơn trước. Trước đây khi tổ chức một cuộc kiểm toán thường dựa vào phương pháp chọn mẫu, là phương pháp phù hợp với điều kiện lúc đó, còn hiện nay nền kinh tế thị trường phát triển đa dạng, các doanh nghiệp (DN), tổng công ty đều phát triển theo hình thức đa ngành, đa nghề, phạm vi rộng, có quan hệ quốc tế nên chuẩn mực mới yêu cầu phải dùng phương pháp tiếp cận, đánh giá và xác định rủi ro. Tức là đánh giá toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ của một DN từ khâu ban hành nội quy, quy chế, quy trình xuất nhập, mua bán hàng hóa, tổ chức bộ máy,… xem khâu nào yếu, nhiều khả năng xảy ra rủi ro thì tập trung để kiểm toán. Cách tiếp cận mới này sẽ nâng cao kỹ năng xét đoán chuyên môn, kỹ năng đánh giá và nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên (KTV).
Báo cáo kiểm toán là sản phẩm của KTV. Báo cáo kiểm toán theo chuẩn mực mới cũng đòi hỏi trách nhiệm cao hơn của DN là đơn vị phải lập và trình bày một cách trung thực, hợp lý tình hình tài sản, vốn trên BCTC. Như vậy chuẩn mực mới giúp nâng cao trách nhiệm của tất cả các bên liên quan: KTV, công ty kiểm toán và DN khách hàng.
Ý kiến kiểm toán cũng có những thay đổi lớn. Cụ thể, quy định trước đây chia ý kiến kiểm toán làm 4 loại, gồm: chấp nhận toàn phần, ngoại trừ, không chấp nhận và từ chối cho ý kiến. Để hướng đến mục tiêu các BCTC khi đã đưa ra xã hội phải phản ánh trung thực và hợp lý, người làm BCTC phải gắn trách nhiệm của mình vào sản phẩm, chuẩn mực mới quy định chỉ có 2 loại ý kiến là chấp nhận toàn phần và không chấp nhận toàn phần.
Dự kiến sắp tới VACPA sẽ tiếp tục trình Bộ Tài chính ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán còn lại và 1 chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp.
* Gần đây chất lượng dịch vụ kiểm toán đang bị xã hội đặt dấu hỏi khi để xảy nhiều vụ việc sai phạm. Theo ông việc áp dụng các chuẩn mực kiểm toán mới sẽ có tác dụng thế nào trong vấn đề nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán? Trong các trường hợp sai phạm cần có hình thức xử lý như thế nào cho phù hợp?
- Những năm gần đây sai phạm về kiểm toán xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do khủng hoảng kinh tế nên các DN đều gặp khó khăn, có tâm lý làm đẹp BCTC. Nguyên nhân thứ hai là do hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành của ta đã lạc hậu, chưa thể hiện rõ được trách nhiệm của KTV và DN khách hàng. Tôi tin rằng sau khi những chuẩn mực mới được áp dụng triệt để thì chắc chắn chất lượng kiểm toán sẽ được nâng cao.
Về xử lý sai phạm, tôi cho rằng hệ thống pháp luật hiện còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những sai sót. Quy định xử lý về mặt tài chính hiện nay so với trước đã là khá cao, như sai phạm về lập BCTC từ phạt 20 triệu đồng dự kiến tăng lên trên 120 triệu đồng. Việc xử lý cần nhiều biện pháp kết hợp không chỉ dừng lại ở xử lý hành chính, nhưng theo tôi phải xử lý nhanh và kịp thời, thủ tục, quy trình xử phạt cần phải gắn trực tiếp với người tham gia kiểm tra, kiểm soát thì mới có hiệu quả hiệu lực. Đối với các công ty kiểm toán, hình thức xử phạt cao nhất chính là đình chỉ hành nghề và công khai trên thông tin đại chúng.
* Ngoài một số văn bản đã ban hành, ông có thể cho biết VACPA sẽ tiếp tục triển khai những biện pháp cụ thể gì để hướng dẫn thực hiện 37 chuẩn mực mới cũng như đưa Luật Kiểm toán độc lập vào cuộc sống, thực hiện các mục tiêu của Chiến lược Kế toán, Kiểm toán đến 2020?
- Hiện nay chúng tôi đang ưu tiên triển khai phổ biến các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Kiểm toán độc lập và Thông tư ban hành chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Cụ thể, VACPA đã và đang thực hiện kế hoạch đào tạo cập nhật kiến thức có liên quan cho hội viên, đã triển khai từ tháng 4/2013. Việc cập nhật kiến thức năm nay sẽ mở rộng cho cả các DN, thông qua Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước sẽ tập huấn cho các DN niêm yết. Bên cạnh đó VACPA cũng đã chủ trương viết các tài liệu hướng dẫn tóm tắt các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam; hệ thống hóa toàn bộ văn bản trên trang điện tử cho KTV và DN thuận tiện tra cứu; viết một số tài liệu hướng dẫn về nghiệp vụ, chuyên môn sâu như vấn đề chọn mẫu, xác định trọng yếu, gửi thư xác nhận giảng dạy thực hành kiểm toán theo chương trình kiểm toán mẫu và theo chuẩn mực mới,... hợp tác với giảng viên các trường Đại học để đưa các chuẩn mực kiểm toán này vào giảng dạy. Đây là những biện pháp rất hiệu quả mà quốc tế đang áp dụng.
* Xin cảm ơn ông./.

(Theo VACPA)

HÃNG THÀNH VIÊN – “NETWORK” (MẠNG LƯỚI) HAY “ASSOCIATION” (HIỆP HỘI)



BBT: Hiện nay tại Việt Nam có 28 doanh nghiệp kiểm toán là thành viên của các hãng kiểm toán và tư vấn quốc tế với các hình thức thành viên khác nhau. Hiện có 2 hình thức hãng thành viên quốc tế phổ biến nhất là “network” (mạng lưới) và “association” (hiệp hội). Vậy có sự phân biệt nào giữa mô hình “network” và “association” và có những lợi ích gì cho doanh nghiệp khi là thành viên của “network” hay “association”? Để giúp bạn đọc hiểu hơn về vấn đề này, Ban biên tập xin trích đăng bài viết của tác giả David Adams trên tập san ICAEW số tháng 2/2013.


V
ới công việc kinh doanh đang ngày càng được toàn cầu hóa, ngay cả những doanh nghiệp nhỏ nhất giờ đây cũng tham gia giao dịch quốc tế ở một mức độ nào đó. Ngành nghề kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán không phải là ngoại lệ. Doanh nghiệp kiểm toán thuộc mọi quy mô đều có ít nhất một số khách hàng quốc tế, do vậy không ngạc nhiên khi các hãng kiểm toán quốc tế ngày càng phát triển trong những năm gần đây. Không chỉ cho phép các doanh nghiệp kiểm toán đáp ứng yêu cầu của các khách hàng hiện tại và tương lai, là thành viên hãng quốc tế còn giúp thu hút nguồn nhân lực và chuẩn hóa các quy trình kinh doanh.
Một số hãng quốc tế đã phát triển thành những “network” có thương hiệu, trong khi một số khác vẫn duy trì cấu trúc “association”. Nhìn chung, “network” càng lớn thì quy mô trung bình của hãng thành viên càng lớn và đối tượng khách hàng càng phức tạp. Tuy nhiên, sự khái quát này lại ẩn chứa một thực tế phức tạp hơn. Có những định nghĩa được các tổ chức xây dựng chuẩn mực kế toán sử dụng để phân biệt “network” và “association”, nhưng những định nghĩa đó không được chấp nhận rộng rãi. Ranh giới giữa “network” và “association” có thể mờ nhạt, và ở một mức độ nào đó Big 4 được coi là những “network” có phạm vi hoạt động toàn cầu.
Theo Ông Graeme Gordon, Giám đốc điều hành của Praxity, được thành lập năm 2007 và hiện có 66 doanh nghiệp thành viên trên khắp thế giới: “Chúng tôi vẫn là “association”. Chúng tôi giữ nguyên cấu trúc này vì tất cả các thành viên của chúng tôi vẫn được hưởng lợi thế thương hiệu tại các thị trường của riêng họ, và do đó không có nghĩa lý gì chúng tôi phải chuyển đổi sang cấu trúc “network”.
Ông Rakesh Shaunak là Chủ tịch tập đoàn MHA, một “association” gồm 9 doanh nghiệp kiểm toán và tư vấn hoạt động khắp nước Anh. MHA lại là thành viên của Morison International, một “association” có 90 doanh nghiệp thành viên tại 65 quốc gia. Theo Ông Shaunak, chìa khóa thành công của các “association” được thiết lập thông qua việc đánh giá chất lượng với trách nhiệm cao nhất, và nền tảng chung giữa các doanh nghiệp thành viên. Những yếu tố này đảm bảo khách hàng được cung cấp các dịch vụ đáp ứng kỳ vọng của họ từ các doanh nghiệp thành viên.
Theo Ông Donald Watkin, Giám đốc điều hành của MSI Global Alliance, cũng là một “association”, không phải là “network”, thì các thành viên của “association” có xu hướng làm việc cho các khách hàng nhỏ và vừa và đảm bảo khách hàng được phục vụ tốt hơn trong một cấu trúc “association” linh hoạt hơn.
Các cuộc tranh luận vẫn tiếp diễn trong giới kiểm toán và giữa các cơ quan quản lý nhà nước về sự khác nhau giữa “network” và “association”, xoay quanh các vấn đề như có tiêu chuẩn chất lượng toàn cầu, nhãn hiệu và quản lý. Một số hãng tự tuyên bố là “network”, một số khác lại cho rằng họ hài lòng với mô hình “association” của mình và có thể để các vấn đề về kiểm soát chất lượng cho các cơ quan quản lý nhà nước địa phương thực hiện.
Tuy nhiên, Bà Jean Stephens, CEO của mạng lưới toàn cầu RSM International cho rằng định nghĩa của Tổ chức chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS Foundation) và Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đủ rõ để loại bỏ sự mập mờ. RSM là một “network” có thương hiệu hoạt động tại 94 quốc gia nhưng các doanh nghiệp thành viên vẫn độc lập và tự chịu trách nhiệm pháp lý. RSM cũng làm việc với các doanh nghiệp liên kết (correspondent firms) – là các doanh nghiệp không phải là thành viên đồng ý cung cấp dịch vụ cho các khách hàng tại những nơi không có doanh nghiệp mạng lưới nào.
Bà Stephens cho rằng ngay đến các doanh nghiệp kiểm toán cũng không phân biệt được rõ ràng giữa “network” và “association”, nói gì đến khách hàng. Theo Bà, khía cạnh quan trọng nhất của một “network” là sự liên kết một phần nền tảng khách hàng của các doanh nghiệp thành viên. “Network” thường không có sự liên kết về mặt tài chính mà liên kết bằng cách cùng nhau phục vụ ngày càng nhiều khác hàng. Để làm được điều đó, quan trọng là phải tin tưởng lẫn nhau, và vì thế rất nhiều thời gian được dành cho việc gặp mặt và tìm hiểu lẫn nhau, tạo cơ sở xây dựng mối quan hệ và niềm tin.
Còn theo Ông Clive Stevens, chủ phần hùn quản lý của Reeves, đồng thời là chủ tịch của Kreston International, được cho là mạng lưới kiểm toán lớn thứ 13 trên toàn cầu, thì động lực để trở thành “network”, thay vì “association” xuất phát từ mong muốn của các doanh nghiệp thành viên được sử dụng danh tiếng của mạng lưới để tìm kiếm các đối tác kinh doanh mới. Đó là lý do các “association” bắt đầu trở thành “network”, chia sẻ các chuẩn mực, hệ thống kiểm soát chất lượng và kiểm tra tính độc lập để có thể thực hiện các công việc mang tính quốc tế một cách chuẩn hóa hơn. Ông nói, “Chúng tôi chuyển từ “association” thành “network” và thiết lập các hệ thống kiểm soát chất lượng. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp thành viên biết được rằng các hệ thống được tổ chức nhất quán trên khắp thế giới. Đôi khi trong một “association” không có những sự kiểm tra đó và bạn không biết chất lượng của những người trong cùng một hiệp hội với bạn. Điều đó không phải là vấn đề với chúng tôi vì chúng tôi biết có một sân chơi ngang bằng cho các thành viên của mình”. Cũng theo Ông Stevens, sự phức tạp còn có thể phát sinh từ quy mô khác nhau của các doanh nghiệp thành viên. Có thể có một số doanh nghiệp kiểm toán khá nhỏ cung cấp dịch vụ cho một số công ty đại chúng tại Nepal, nhưng việc đó lại không xảy ra tại Anh. Nhưng quan trọng là phải thu hút được những doanh nghiệp thành viên tốt nhất trong một nền kinh tế nhất định.
Một số doanh nghiệp kiểm toán nhỏ tại Anh thấy khó trở thành thành viên của một hãng quốc tế lớn. Nhưng theo Ông Kevin Arnold, CEO của Nexia International, nếu không có một hãng phù hợp để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp kiểm toán nhỏ, họ có thể tự hình thành nên hãng của mình, cũng giống như trường hợp một số doanh nghiệp kiểm toán hiện là thành viên của Nexia đã làm trước đây. Khó khăn là doanh nghiệp càng nhỏ thì càng khó có thể đạt được cấu trúc quốc tế.
Có nhiều nguyên nhân cho việc các hãng quốc tế muốn tuyển các thành viên mới, ví dụ do nhu cầu thị trường, do thiếu dịch vụ trong các lĩnh vực nhất định như tài chính doanh nghiệp hay tư vấn quản lý, hay do sự tác động của các yếu tố bên ngoài như thành viên rút khỏi hãng hay các vụ mua bán, sáp nhập…Mặc dù cả “network” và “association” cho rằng cấu trúc của họ giúp họ thích ứng với những sự thay đổi về quản lý nhà nước hay sự thiếu nhất quán của môi trường quốc tế, một số thay đổi về quản lý nhà nước, đáng chú ý là những cải cách về kiểm toán sắp tới tại Châu Âu cũng sẽ ảnh hưởng đến họ và các thành viên của họ.
Một số doanh nghiệp thành viên trong mạng lưới cũng có thể hợp tác với nhau để trở thành các tổ chức lớn và phức tạp hơn mà nếu hoạt động độc lập thì không đáp ứng được một số yêu cầu. Theo Bà Stephens, hiện RSM International đã đạt đến giai đoạn này trong đó các doanh nghiệp thành viên làm việc với nhau để phục vụ nhu cầu của các công ty đa quốc gia hoạt động tại 40 hay 50 quốc gia.
Sự khác biệt về văn hóa giữa các quốc gia cũng có thể là rào cản cho sự phát triển của các hãng quốc tế. Thậm chí nguy hiểm hơn là khi một doanh nghiệp thành viên chưa sẵn sàng áp dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế. Đôi khi một số doanh nghiệp chỉ vừa bắt đầu tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế, vì thế nhân viên của họ chưa nhận được sự đào tạo cần thiết. Ví dụ như tại Châu Phi, nhiều tổ chức nghề nghiệp chỉ đang bắt đầu phát triển.
Tuy nhiên phần lớn đều cho rằng rào cản văn hóa có thể được vượt qua bằng sự tăng cường trao đổi thông tin trong mạng lưới, xây dựng các mối quan hệ thực sự, trực tiếp gặp gỡ trao đổi chứ không chỉ đơn thuần là trao đổi qua điện thoại. Và một lợi ích khác của việc là thành viên của một mạng lưới mạnh, chất lượng cao là nhận được sự hỗ trợ và cố vấn từ những thành viên khác đã từng trải qua các khó khăn tương tự.
Dù sao thì sự tồn tại của các “network” và “association” quốc tế đang trở nên ngày càng hữu ích cho các tổ chức thuộc mọi quy mô đang tìm kiếm đối tác là các doanh nghiệp kiểm toán và hữu ích cho chính các doanh nghiệp kiểm toán.  Xu hướng các doanh nghiệp kiểm toán thuộc mọi hình thức và quy mô tạo lập mối quan hệ với các đối tác khắp thế giới chắc chắn sẽ còn trở nên phổ biến hơn trong ngành nghề này trong những năm tiếp theo, khi mà khách hàng cũng ngày càng mở rộng hoạt động ra quy mô quốc tế.
(VTT - VACPA)

Những CEO lương cao nhất nước Mỹ

8 vị lãnh đạo công ty có mức lương, thưởng tới cả trăm triệu USD mỗi năm và bằng cả nghìn nhân viên dưới quyền cộng lại.

Báo cáo của Chính phủ Mỹ về lương thưởng trong lĩnh vực công nghiệp là cơ sở để Bloomberg tính toán mức lương trung bình của các CEO hàng đầu nước này trong năm 2012. Dưới đây là danh sách 8 vị tổng giám đốc thù lao cao hơn 1.000 lần so với mức trung bình của nhân viên trong công ty.
Ảnh: Bloomberg
Ron Johnson, cựu CEO của công ty chuyên đồ thời trang JC Penny có thu nhập 53,3 triệu USD. Số tiền này cao gấp 1.795 lần so với lương của trung bình của nhân viên (29.688 USD). Ông giữ vị trí người đứng đầu công ty cho đến hết tài khóa 2012.
Ảnh: AP
Đứng thứ 2 trong danh sách là CEO Michael Jeffries của công ty Abercrombie 7 Fitch. Ông nhận số tiền tương đương với Ron Johnson nhưng chỉ cao hơn 1.640 lần so với nhân viên.
David Simon, CEO tập đoàn Simon Property có thù lao "khủng" 137,2 triệu USD một năm, hơn 1.594 lần so với nhân viên, những người kiếm được cũng không ít tiền (hơn 86.000 USD).
"Dân chơi" Larry Ellison của Oracle có thu nhập 96,2 triệu USD, gấp 1.287 lần so với mức 74.693 USD của nhân viên.
Ảnh: AP
Ông chủ của nhãn hiệu Starbucks xếp thứ 5 trong danh sách với chênh lệch 1.135 lần về lương thưởng (28,9 triệu USD so với 25.463 USD).
Ảnh: AP
69,9 triệu USD là số tiền của CEO tập đoàn CBS Leslie Moonves nhận được, trong khi nhân viên kiếm được khoảng 63.930 triệu USD, bằng một phần 1.111 của sếp.
Ảnh: AFP
Ralph Lauren, chủ của nhãn hiệu thời trang cùng tên hưởng số tiền 36,3 triệu USD, cao hơn 1.083 lần so với nhân viên (trung bình 33.550 USD).
Xếp cuối trong danh sách là ông chủ Mark Parker của Nike, nhưng chênh lệch cũng tới 1.050 lần so với nhân viên. Những người này nhận lương ngang ngửa với công ty của Ralph Lauren.

Popular Posts