Monday, 15 April 2013

“Túng làm liều” trên báo cáo tài chính

Tình trạng ghi nhận doanh thu ảo, ghi nhận khi chưa đủ điều kiện, áp dụng sai chuẩn mực kế toán vẫn tiếp tục tái diễn, đặc biết là với các DN gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh.
 Hằng Phương
D
ù trước mùa lập BCTC năm, cơ quan quản lý đã có hội nghị rút kinh nghiệm về những “sai sót thường gặp” trên BCTC của DN niêm yết, nhưng tình trạng đó vẫn tái diễn trên BCTC đã được công bố, đặc biệt ở các DN bất động sản, khối DN gặp nhiều khó khăn trong năm qua. 
Khái quát của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) về những sai sót, rủi ro trên BCTC năm 2012 của nhóm DN bất động sản, xây lắp niêm yết, khối DN chiếm khoảng 30% số lượng DN niêm yết đã phần nào cho thấy bức tranh của chất lượng BCTC năm 2012. Có thể kể đến tình trạng ghi nhận doanh thu ảo, ghi nhận khi chưa đủ điều kiện, áp dụng sai chuẩn mực kế toán, như DN là chủ đầu tư vẫn áp dụng chuẩn mực kế toán số 15 - Hợp đồng xây dựng để ghi nhận doanh thu theo tiến độ xây dựng, trong khi đúng ra phải áp dụng chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác, vẫn tiếp tục tái diễn. Thậm chí, tình trạng thuyết minh chính sách kế toán một đằng, thực tế áp dụng một nẻo, đặc biệt là các khoản mục có cách hạch toán đặc thù như doanh thu, giá vốn. Nhiều DN trong khối đã không thực hiện trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dù giá bất động sản trong năm qua đã giảm mạnh, có dự án giảm tới 40 - 50%. Đối với DN xây lắp, có thể có các công trình đã ghi nhận hết doanh thu, những vẫn còn giá trị sản lượng dở dang chưa được kết chuyển xác định giá vốn, hoặc giá trị sản lượng dở dang lớn hơn giá trị doanh thu còn được ghi nhận…
Hầu hết những sai sót trên BCTC của nhóm DN này đều nằm trong nhóm “sai sót thường gặp” mà cơ quan quản lý đã lưu ý các DN niêm yết và các DN kiểm toán hồi cuối năm 2012 cũng như không nằm ngoài những dự liệu của cơ quan quản lý trước mùa công bố BCTC 2012. Bởi năm qua được coi là đỉnh điểm khó khăn của các DN, đặc biệt là khối DN bất động sản khi thị trường gần như tê liệt, rất ít giao dịch thành công và để có những con số đẹp trên BCTC, nhiều DN bất động sản đã phải vận đến rất nhiều thủ thuật kế toán để “xào nấu” số liệu tài chính.
Nhìn rộng ra khối DN niêm yết trên thị trường, số lượng báo cáo tài chính có “vấn đề” không nhỏ. Chẳng hạn, tại CTCP Thái Hòa (THV), đơn vị kiểm toán đã ngoại trừ khoản mục hàng tồn kho lên tới trên 555,6 tỷ đồng, với lý do “hạn chế từ phía đơn vị”, không thể tham gia chứng kiến kiểm kê tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định tại thời điểm 31/12/2012 và cũng không thể thực hiện thủ tục kiểm kê tại thời điểm kiểm toán. Điều khiến người đọc BCTC nghi ngờ về tính xác thực của thông tin hàng tồn kho mà THV đưa ra là bởi theo logic thông thường, không có lý gì một DN đang đứng trước sức ép nợ phải trả ngắn hạn lên tới gần 1.100 tỷ đồng như THV lại để số dư hàng tồn kho lớn như vậy, trong khi hàng tồn kho của THV (là cà phê) không phải không có khả năng thanh khoản. Với khoản mục hàng tồn kho bị ngoại trừ chiếm tới gần 40% tổng tài sản, BCTC của THV liệu có còn đáng tin về tính trung thực và hợp lý hay không? 
Việc DN không thực hiện trích lập dự phòng rủi ro khoản phải thu quá hạn, không trích lập dự phòng các khoản đầu tư tài chính cũng khá phổ biến. Trường hợp CTCP Docicmexco (FDG) là một ví dụ. Với khoản nợ dự phòng chưa được trích lập lên tới trên 6 tỷ đồng, mà kiểm toán lưu ý sẽ “làm chi phí quản lý bị thiếu và lợi nhuận trước thuế tăng lên với số tương ứng”, FDG làm nhẹ đi con số thua lỗ trong năm 2012, khi dừng lại ở mức 31,1 tỷ đồng. Hay CTCP Mirea (KMR) không thực hiện trích lập dự phòng phải thu khó đòi của Công ty Mirea Fiber Tech, cổ đông lớn của KMR tại Hàn Quốc. Kiểm toán đã lưu ý, nếu trích lập dự phòng khoản phải thu khó đòi này theo quy định thì vốn chủ sở hữu của Công ty sẽ giảm đi 23,47 tỷ đồng, đồng thời lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cũng giảm tương ứng. Hẳn KMR có lý do để làm điều này, bởi dù không trích lập dự phòng khoản phải thu 22,47 tỷ đồng thì năm 2012, Công ty chỉ lãi trước thuế 2,2 tỷ đồng...
Những vi phạm chuẩn mực kế toán vẫn diễn ra ngày càng nhiều, dù gần đây, cơ quan quản lý đã tăng cường hợp tác với hội nghề nghiệp kiểm toán để kiểm tra, phát hiện những sai sót trên BCTC sau kiểm toán. Sau cuộc tọa đàm về các vấn đề cần lưu ý liên quan đến BCTC của các DN đầu tư, kinh doanh bất động sản và xây lắp do Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cùng VACPA phối hợp tổ chức mới đây, VACPA cho biết, Hội đặt kế hoạch sẽ tổ chức các cuộc tọa đàm hàng quý về BCTC của từng nhóm ngành. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở mức độ nhắc nhở những DN có sai sót và yêu cầu giải trình, thì e rằng, “đến hẹn lại lên”, nhiều DN vẫn áp dụng các chiêu thức không minh bạch để ra được một bản BCTC sáng sủa hơn.
(Theo ĐTCK)

'BẢN ÁN' NẶNG NHẤT LÀ MẤT UY TÍN TRÊN THỊ TRƯỜNG

Ông Bùi Văn Mai
Cho rằng các mức xử phạt bằng tiền đối với kiểm toán viên, công ty kiểm toán cố tình sai phạm trên báo cáo kiểm toán vẫn thấp, nhưng Ông Bùi Văn Mai, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) cho rằng, “bản án” nặng nhất đối với kiểm toán viên, công ty kiểm toán có sai phạm trong việc lập báo cáo kiểm toán là đánh mất uy tín đối với thị trường.

Hằng Phương

Thưa ông, tình trạng vi phạm chuẩn mực kế toán khi lập BCTC của khối DN niêm yết, những thực thể được coi là lành mạnh nhất trong nền kinh tế do phải chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của những quy định công bố thông tin, vẫn diễn ra khá phổ biến. Vậy nguyên do tại đâu?
Trước tiên, cần phải khẳng định là chất lượng BCTC của các DN nói chung và chất lượng BCTC của khối DN niêm yết nói riêng đã được nâng cao đáng kể từ khi có hoạt động kiểm toán độc lập, nhất là trong vài năm trở lại đây, sau khi hành lang pháp lý cho hoạt động kế toán, kiểm toán đã được ban hành khá đầy đủ, đồng bộ gồm Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán và nhiều chế độ kế toán cụ thể. Tuy nhiên, các sai sót, thậm chí gian lận trong việc lập và trình bày BCTC vẫn tồn tại, kéo dài và có phần tinh vi, giá trị các sai phạm ngày càng lớn.
Ông Bùi Văn Mai cho biết, là tổ chức nghề nghiệp của những kiểm toán viên, trong 8 năm kể từ khi thành lập, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) luôn nỗ lực để hỗ trợ tốt nhất đối với Hội viên trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cũng như môi trường hoạt động. Hội đã học tập và áp dụng kinh nghiệm quản lý hội viên từ nhiều tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp trên thế giới.
Hàng năm, VACPA tổ chức từ 30 - 40 lớp đào tạo cập nhật kiến thức cho 1.500  - 1.600 kiểm toán viên. VACPA cũng tổ chức nhiều hoạt động không thu phí như các hội thảo, trao đổi rút kinh nghiệm về những sai sót thường gặp trong kiểm toán BCTC, trong kiểm tra chất lượng các công ty kiểm toán...; tư vấn miễn phí về nghiệp vụ, chế độ, chính sách pháp luật liên quan. VACPA cũng cung cấp cho hội viên các công cụ hỗ trợ lập báo cáo tài chính như Ebook - Hệ thống hóa các văn bản pháp luật tài chính, kế toán; chương trình kiểm toán mẫu (sản phẩm của dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ); thực hiện việc bảo vệ quyền lợi của hội viên trong các tranh chấp, khiếu kiện...
VACPA đã ký Biên bản hợp tác với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước để phối hợp nâng cao chất lượng kiểm toán BCTC, góp phần công khai, minh bạch thông tin tài chính trên TTCK.
Theo tôi, tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên do, mà chủ yếu là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, tình hình sản xuất - kinh doanh của DN khó khăn, trong khi phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của cổ đông, nên một số DN cố tình làm sai, sao cho ra được bản BCTC sáng sủa hơn so với tình hình thực tế. Ngoài ra, do hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, các cơ chế chính sách trong điều kiện thị trường ngày càng phức tạp, người làm quản lý hoặc làm kế toán có thể không nắm bắt hết được các quy định pháp luật, nên vô tình làm sai.
Ông có cho rằng sở dĩ các vi phạm chuẩn mực kế toán tái diễn nhiều lần là do chế tài xử phạt đối với các vi phạm của DN này chưa đủ mạnh?
Theo quy định hiện hành về xử phạt vi phạm phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán thì đối với các hành vi giả mạo BCTC cao nhất là 20 triệu đồng. Mức này là tương đối cao so với một cá nhân, nhưng lại không đáng kể so với DN. Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán đang được Bộ Tài chính gửi xin ý kiến đã nâng mức xử phạt với hành vi vi phạm hành chính về kế toán, kiểm toán có liên quan đến BCTC lên mức 80 triệu đồng. Mức này cũng đã khá cao, nhưng có thể chưa đủ răn đe với DN, vì giá trị trục lợi từ hành vi gian lận BCTC (như giữ giá hoặc làm giá cổ phiếu tăng cao) có thể lớn hơn rất nhiều so với mức phạt khi DN vi phạm.
Không hiếm BCTC được hạch toán sai, như trường hợp BCTC năm 2011 của CTCP Phát triển đô thị công nghiệp (D2D) hạch toán sai chuẩn mực về doanh thu nhưng vẫn được kiểm toán viên chấp nhận. Vậy, ông đánh giá thế nào về chất lượng dịch vụ kiểm toán hiện nay?
Một khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn sai phạm thì trách nhiệm lúc này không chỉ thuộc về đơn vị lập BCTC, mà còn là trách nhiệm của kiểm toán viên. Cũng như người làm kế toán của DN, có trường hợp kiểm toán viên không nắm bắt hết các tình huống thực tế và chính sách kế toán, tài chính, nên không phát hiện ra sai phạm hoặc bị đơn vị thuyết phục và đồng tình với quan điểm xử lý của DN.
Việc tuân thủ chuẩn mực kế toán, có nhiều trường hợp phải đưa ra Hội đồng thẩm định với nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm và được cung cấp thêm nhiều thông tin khác mới kết luận được sai đúng. Cho nên, việc một kiểm toán viên, một nhóm kiểm toán xét đoán tình huống trong khoảng thời gian hạn chế trong mùa kiểm toán bận rộn sẽ không thể chắc chắn đúng hoàn toàn.
Năm qua, UBCK ra quyết định xử phạt 11 công ty kiểm toán thực hiện kiểm toán công ty quản lý quỹ. Điều này xuất phát từ thực tế, do quy chế quản lý tài chính, sử dụng nguồn quỹ đầu tư chứng khoán đều mới và cũng rất phức tạp. Các công ty kiểm toán mới thực hiện kiểm toán nghiệp vụ này, mà mỗi công ty chỉ kiểm toán bình quân 1 - 2 khách hàng nên còn ít kinh nghiệm. Chất lượng dịch vụ kiểm toán 1 - 2 năm vừa qua còn sai sót, một phần nữa là do chúng ta vẫn thực hiện kiểm toán theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành từ năm 1999 - 2005, đã lạc hậu so với quốc tế trên dưới 15 năm rồi. Từ năm 2014, kiểm toán phải tuân theo chuẩn mực mới ban hành tháng 12/2012, tôi hy vọng rằng, khi ấy sẽ ít có sai sót hơn.

Có ý kiến cho rằng, mức phạt tiền cao nhất quy định tại Dự thảo Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán từ 140 – 200 triệu đồng đối với tổ chức kiểm toán và phạt tiền từ 70 – 100 triệu đồng khi lập báo cáo kiểm toán không trung thực là quá nhẹ, bởi hệ lụy của những sai phạm với nhà đầu tư là rất lớn. Quan điểm của ông ra sao về vấn đề này?
Mức xử phạt từ 140 - 200 triệu đồng theo Luật Chứng khoán đã cao gấp 10 lần mức hiện hành (20 triệu đồng), trong khi Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán cho hành vi tương tự, phạt từ 60 – 80 triệu, đều là thấp khi hành vi thông đồng có thể đem lại lợi ích lớn hơn rất nhiều lần tiền phạt.
Ở một số nước tiên tiến trên thế giới, quy định mức phạt trên từng mức lợi ích đem lại từ sai phạm, ví dụ mức phạt tiền hành vi sai phạm bằng 3 - 5 lần mức lợi ích do sai phạm đem lại. Quy định này thường khó thực hiện, nhưng tác dụng răn đe tốt hơn nhiều. Thông tư 64/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính đã quy định, mức phạt cao nhất là 10 lần mức phí kiểm toán của hợp đồng bị phạt, nhưng quy định này còn ít có tiền lệ tại Việt Nam.
Cá nhân tôi cho rằng, kiểm toán viên, công ty kiểm toán cần nhận thức rằng “bản án” nặng nhất cho những sai phạm trong việc lập báo cáo kiểm toán là đánh mất uy tín đối với thị trường, bởi dịch vụ kiểm toán là dịch vụ xác nhận niềm tin.

(Theo ĐTCK)

Friday, 5 April 2013

BẠN CÓ BIẾT? 10 CÔNG TY KIỂM TOÁN LỚN NHẤT VIỆT NAM NĂM 2012


Thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) vừa hoàn thành việc tổng hợp và lập "Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động năm 2012 và phương hướng hoạt động năm 2013 của các công ty kiểm toán" trong cả nước.
 

Theo số liệu báo cáo, 10 công ty kiểm toán lớn nhất năm 2012 theo từng chỉ tiêu như sau:














BBT - VACPA

Sunday, 31 March 2013

Các yếu tố quan trọng cho một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính hiệu quả


Báo cáo tài chính (BCTC) hiện nay là một thông tin tài chính quan trọng để đánh giá "sức khỏe" của một doanh nghiệp.
Các yếu tố quan trọng cho một cuộc kiểm toán  báo cáo tài chính hiệu quả
Các yếu tố quan trọng cho một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính hiệu quả
Trong nền kinh tế ngày càng phát triển, khả năng nhận được những thông tin tài chính kém tin cậy cũng gia tăng. Chính vì vậy, kiểm toán độc lập có vai trò kiểm tra để cung cấp cho bên thứ ba (người sử dụng thông tin) những thông tin tài chính chính xác và tin cậy nhất. Để có được những báo cáo kiểm toán đối với tài chính DN đạt chất lượng không phải là công việc dễ dàng đối với các công ty kiểm toán (CTKT) trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, có một số yếu tố quan trọng luôn chi phối và quyết định đối với kết quả, chất lượng các cuộc kiểm toán.

Tầm quan trọng của giai đoạn chuẩn bị

Đa số các kiểm toán viên lâu năm đều khẳng định, quá trình chuẩn bị cho cuộc kiểm toán sẽ quyết định đến hiệu quả của toàn bộ cuộc kiểm toán.

Giai đoạn này có vai trò quan trọng bởi nó chuẩn bị đầy đủ về mặt vật chất, con người để tiến hành một cuộc kiểm toán, điều này chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Làm tốt công tác chuẩn bị sẽ hạn chế được những rủi ro, những bất đồng với đơn vị được kiểm toán.

Bên cạnh đó sự đồng thuận, phối hợp giữa CTKT và phía đơn vị được kiểm toán cũng giữ vai trò quyết định đến hiệu quả của cuộc kiểm toán. Với kinh nghiệm hơn 20 năm làm việc trong nghề, ông Ngô Đức Đoàn - Tổng giám đốc Công ty tư vấn tài chính kế toán & kiểm toán (AASC) chia sẻ: Để một cuộc kiểm toán được thành công cần phải có sự hợp tác và nỗ lực của cả đoàn kiểm toán và đơn vị được kiểm toán. Công tác phối hợp này xuyên suốt từ giai đoạn trao đổi, ký kết hợp đồng kiểm toán đến giai đoạn thực hiện và kết thúc kiểm toán.

Ông Đoàn cũng cho biết, mục tiêu của hai bên là đều hướng đến việc đơn vị được kiểm toán có một BCTC minh bạch, có giá trị và hiệu quả. Để làm được điều này, các kiểm toán viên cần phải có sự hiểu biết sâu về đơn vị được kiểm toán như về cấu trúc quản lý, tổ chức sản xuất và đặc biệt là ban tài chính kế toán của đơn vị. Có hiểu rõ đơn vị được kiểm toán thì lập kế hoạch kiểm toán, xác định mục tiêu, xây dựng chương trình kiểm toán mới đảm bảo chất lượng. Ngược lại phía đơn vị được kiểm toán thì lập kế hoạch kiểm toán cũng cần hiểu bộ máy điều hành, kinh nghiệm thực tế của các công ty kiểm toán từ đó lựa chọn công ty kiểm toán phù hợp với doanh nghiệp mình nhất. Có sự hiểu biết về nhau thì việc phối hợp trong công việc, cung cấp hồ sơ tài liệu, thủ tục cần thiết mới thuận lợi, ít vướng mắc.

Tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp

Một trong những khó khăn lớn của CTKT là vừa phải tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp vừa phải duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng. Chính yếu tố này tiềm ẩn nguy cơ suy giảm vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế và xói mòn giá trị của các dịch vụ kiểm toán. Bằng chứng của sự ảnh hưởng của nhân tố trên là sự mở đường cho các "sản phẩm" kém chất lượng - hiện tượng gian lận, báo cáo sai số liệu.

Trọng tâm của hiện tượng này là sự thiếu hụt về sự hiểu biết và tầm nhìn về giá trị của hoạt động kiểm toán. Mối quan hệ giữa kiểm toán viên và DN không đơn thuẩn là quan hệ cung cấp dịch vụ thông thường vì kiểm toán là một hoạt động phức tạp có liên quan chặt chẽ đến các quy định của pháp luật về chất lượng kiểm toán và chuẩn mực nghề nghiệp. Do đó hoạt động kiểm toán chịu sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố môi trường kiểm toán.

Theo quan điểm của Bà Hà Thu Thanh - Tổng giám đốc Deloitte Việt Nam, với lĩnh vực kiểm toán, không có khái niệm thỏa hiệp, mà chỉ có khái niệm chuẩn mực đạo đức và tính độc lập. Một khi được đối tác trả tiền để tư vấn, chúng tôi phải nói ra những điều có ích cho DN, dù họ không muốn nghe.

Một số chuyên gia cho rằng, lý do của sự phụ thuộc của các CTKT đối với các khách hàng là muốn duy trì mối quan hệ lâu dài. Bên cạnh những lợi ích kinh tế, những hợp đồng có thời gian dài thường kéo theo những mối quan hệ, tâm lý nhượng bộ những khách hàng quen biết và xu hướng dựa vào những số liệu kiểm toán của các năm trước để lập báo cáo kiểm toán cho năm sau. Để khắc phục cần thực hiện việc chuyển đổi các CTKT. Hợp đồng kiểm toán chỉ nên được ký kết với một thời hạn ngắn, từ 1 đến 3 năm.

Bên cạnh đó hoạt động kiểm toán liên quan đến các bên thứ ba là những đối tượng sử dụng thông tin tài chính của các đơn vị được kiểm toán (nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế...), những đối tượng này không chi trả trực tiếp cho việc sử dụng dịch vụ kiểm toán nhưng là những thành tố quan trọng trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ kiểm toán và nhu cầu sử dụng dịch vụ kiểm toán của DN.

Rủi ro gian lận

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng không nhỏ tới các DN Việt Nam. Dưới sức ép cạnh tranh trên thị trường, chi cổ tức cho cổ đông, khả năng thanh toán..., thì việc xuất hiện những gian lận để "làm đẹp" BCTC là điều không khó hiểu.

Những ví dụ điển hình về chất lượng báo cáo kiểm toán còn nhiều hạn chế thời gian qua có thể kể đến là trường hợp của CTCP Bông Bạch Tuyết, CTCP Dược Viễn Đông...

Theo kinh nghiệm của một số kiểm toán viên lâu năm, khi đối mặt với rủi ro gian lận, kiểm toán viên cần phải giữ được thái độ hoài nghi nghề nghiệp, cho dù đó là khách hàng lâu năm và trong quá khứ không có dấu hiệu gian lận nào. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp cần phải đặt câu hỏi về những cơ hội gian lận và bản chất của giao dịch cho từng bộ phận.

Việc làm cho các thông tin tài chính trung thực và khách quan, trở nên tin cậy hơn do có dự chứng thực của kiểm toán viên ngày càng quan trọng trong nền kinh tế hiện nay. Các CTKT cần hiểu, có được những báo cáo tài chính tin cậy hiệu quả vừa là thách thức cũng là cơ hội khẳng định thương hiệu, vai trò của mình trong nền kinh tế./.

(Theo Báo KTNN - số 23)

Những vụ án kinh tế chấn động: Enron - “Kẻ dối trá vĩ đại”

Nhà đầu tư mất trắng hàng tỷ USD. 20.000 nhân viên mất việc làm và thậm chí mất cả khoản tiền dành dụm cả đời. Công ty Enron được thành lập vào năm 1985, với doanh thu đến 101 tỷ USD trong năm 2000. Họ từng là tập đoàn năng lượng hùng mạnh nhất Hoa Kỳ, hoạt động ở trên 40 nước.
Những vụ án kinh tế chấn động: Enron - “Kẻ dối trá vĩ đại”
Những vụ án kinh tế chấn động: Enron - “Kẻ dối trá vĩ đại”

Thế nhưng, qua nhiều vụ làm ăn man trá, hối lộ, những ông chủ Công ty Enron đã gây ra vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính tới tháng 12-2001. Nhà đầu tư mất trắng hàng tỷ USD. 20.000 nhân viên mất việc làm và thậm chí mất cả khoản tiền dành dụm cả đời.
Ngôi sao sáng
Năm 1985, Kenneth Lay sáp nhập Houston Natural Gas và InterNorth để thành lập công ty năng lượng Enron. Đầu những năm 1990, Lay góp phần vận động bán điện theo giá thị trường, nhờ vậy, những nhà giao dịch như Enron có thể bán năng lượng với giá cao hơn và gia tăng đáng kể lợi nhuận thu được.
Đến năm 1992, Enron đã lớn mạnh trở thành nhà buôn khí tự nhiên lớn nhất Bắc Mỹ. Tháng 11-1999, công ty khai trương website giao dịch EnronOnline để quản trị tốt hơn việc kinh doanh giao dịch các hợp đồng. Trong một nỗ lực nhằm đạt được tăng trưởng hơn nữa, Enron đã theo đuổi chiến lược đa dạng hóa.
Enron sở hữu và điều hành một loạt các tài sản bao gồm các đường ống dẫn khí, các nhà máy điện, các nhà máy bột giấy và giấy, các nhà máy nước, cùng với nhiều loại hình dịch vụ trên toàn cầu. Enron cũng kiếm thêm doanh thu bằng cách mua bán những hợp đồng trong cùng mảng sản phẩm và dịch vụ mà công ty có tham gia.
Giá cổ phiếu Enron tăng vùn vụt, từ đầu thập niên 1990 đến cuối năm 1998 đã nhảy vọt 311%, vượt trội so với tỷ lệ tăng trưởng của chỉ số S&P 500. Trong 2 năm bản lề thiên niên kỷ, giá cổ phiếu Enron tăng tiếp 56% và 87%, trong khi chỉ số S&P tăng 20% vào năm 1999 và giảm 10% vào năm 2000. Enron tiếp tục là ngôi sao sáng chói trên TTCK.
Tới ngày 31-12-2000, cổ phiếu Enron có giá 83,13USD/cổ phiếu và vốn hóa thị trường của công ty vượt mốc 60 tỷ USD, cao gấp 70 lần thu nhập và 6 lần giá trị sổ sách, cho thấy TTCK kỳ vọng nhiều vào triển vọng tương lai của Enron. Thêm vào đó, Enron 6 năm liền được cuộc khảo sát của Tạp chí Fortune đánh giá là “Công ty sáng tạo bậc nhất Hoa Kỳ”.
Vụ phá sản lớn nhất
Khi Jeffrey Skilling được thuê vào công ty và sau đó đảm nhận vị trí CEO Enron, dưới sự dung túng của Lay, Skilling đã tập trung vào việc đáp ứng những sự kỳ vọng của Phố Wall bằng cách phát triển một ban bệ điều hành che giấu hàng tỷ USD thua lỗ và nợ nần từ những thương vụ và dự án bị thất bại. Họ khai thác các kẽ hở kế toán, sử dụng các thể chế có mục đích đặc biệt (những “đối tác” do Enron kiểm soát) và các báo cáo tài chính không trung thực.
Họ thậm chí gây áp lực để Công ty kiểm toán Arthur Andersen (một trong 5 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới) bỏ qua các vấn đề kế toán nhiều rủi ro ở Enron. Ngoài những lời tự đánh bóng về khả năng quản lý, Enron được quảng cáo rất hiệu quả qua Arthur Andersen và các nhà phân tích Phố Wall, nhờ vậy số người mua cổ phiếu của công ty cao kỷ lục.
Chi nhánh Houston của Arthur Andersen nhận 1 triệu USD/tuần còn tham gia cả việc tìm kiếm đối tác cho Enron. Số tiền kếch xù trên đã làm mờ mắt các nhân viên kiểm toán và họ dễ dàng bỏ qua nguyên tắc. Theo đó, những báo cáo tài chính không minh bạch đã không mô tả rõ ràng hoạt động và tình hình tài chính của Enron cho các cổ đông và giới phân tích, thay vào đó, chúng tô vẽ hiệu quả hoạt động của công ty. Vụ việc vỡ lở vào tháng 10-2001.
Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90USD vào giữa năm 2000 đã tuột dốc không phanh xuống chỉ còn chưa tới USD vào cuối tháng 11-2001. Ủy ban Chứng khoán và giao dịch Hoa Kỳ (SEC) bắt đầu điều tra. Đối thủ cạnh tranh Dynegy đề nghị mua lại Enron nhưng thương vụ bất thành và ngày 2-12-2001, Enron nộp đơn xin bảo hộ phá sản. Với tài sản lên tới 63,4 tỷ USD, đây là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính đến thời điểm đó.


Nhiều người trong ban điều hành Enron đã bị kết tội và tống vào tù. Trong đó, 2 lãnh đạo cao nhất Jeffrey Skilling và Kenneth Lay từ người hùng trở thành những “kẻ dối trá và lừa gạt vĩ đại”, đã khoa trương quá mức tình trạng sức khỏe của công ty và đưa công ty tới thảm cảnh phá sản, khiến cho nhà đầu tư mất hàng tỷ USD và khoảng 20.000 nhân viên Enron bị mất việc làm, nhiều người trong số họ mất luôn những khoản tiết kiệm cả đời vì đã góp vốn vào công ty.
Skilling và Lay bị buộc tội che giấu, làm những báo cáo giả và gian lận chứng khoán. Skilling còn bị kết tội giao dịch nội gián, phải chịu phạt 45 triệu USD và 24 năm tù. Về phần Lay, ông ta đã chết vì nhồi máu cơ tim trong lúc chờ đợi bản án dành cho mình. Công ty kiểm toán Arthur Andersen bị một tòa án quận kết tội cản trở tư pháp vì tiêu hủy giấy tờ liên quan đến vụ kiểm toán Enron.
Mặc dù sau đó tòa tối cao đã gỡ bỏ phán quyết của tòa án quận nhưng trên thực tế, Arthur Andersen đã phải đóng cửa vì mất hầu hết khách hàng. Điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ, Tổng giám đốc điều hành Arthur Andersen, ông Joe Berardino thừa nhận đã phạm sai lầm nghiêm trọng.
Tuy khẳng định rằng Arthur Andersen đã làm tất cả để hạn chế thấp nhất khả năng đổ vỡ của Enron, nhưng họ lại hủy hầu hết tài liệu có liên quan đến vụ việc, ngay cả khi Ủy ban Chứng khoán đã mở cuộc điều tra.
Trong lúc đó, nhân viên và các cổ đông Enron kiện tụng nhưng kết quả nhận được rất hạn chế mặc dù rõ ràng là họ đã mất hàng tỷ USD tiền lương hưu và thị giá cổ phiếu khi Enron sụp đổ. Vụ bê bối này đã đánh động nhà chức trách ban hành luật định mới Sarbanes-Oxley 2002 nhằm tăng cường tính chính xác báo cáo tài chính của các công ty đại chúng cũng như hoạt động của các công ty kiểm toán.
Vụ bê bối Enron đã đưa họ tới giải IgNobel “Sử dụng sáng tạo nhất những con số tưởng tượng” vào đầu năm 2002, nhưng không một cựu thành viên nào trong ban quản lý Enron chịu nhận giải thưởng khét tiếng này.
Theo Bảo Trúc
SGĐTTC

Thông tư 214 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán cho năm tài chính 2014

Bộ tài chính ban hành Thông tư 214/2012 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán mới. Bắt đầu từ năm tài chính 2014 sẽ chính thức áp dụng thêm 37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam có số hiệu và tên gọi mới.
Thông tư 214 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán cho năm tài chính 2014
Thông tư 214 ban hành 37 chuẩn mực kiểm toán cho năm tài chính 2014
Quy định trên được ban hành tại Thông tư số 214/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính theo đề nghị của Chủ tịch Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán.
Thông tư ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam áp dụng đối với doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, kiểm toán viên hành nghề và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập.
37 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam có số hiệu và tên gọi như sau: Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 1- Kiểm soát chất lượng doanh nghiệp thực hiện kiểm toán, soát xét báo cáo tài chính, dịch vụ đảm bảo và các dịch vụ liên quan khác (VSQC1). Chuẩn mực số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Chuẩn mực số 210- Hợp đồng kiểm toán. Chuẩn mực số 220- Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực số 230- Tài liệu, hồ sơ kiểm toán...
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2014. Đối với các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính và các công việc kiểm toán khác được thực hiện trước ngày Thông tư có hiệu lực mà đến thời điểm đó trở đi mới phát hành báo cáo kiểm toán thì phải áp dụng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ban hành theo Thông tư này.
Các chuẩn mực kiểm toán số 1000 “Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành”, Chuẩn mực kiểm toán số 930 “Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính” ban hành theo Quyết định số 03/2005/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chuẩn mực kiểm toán số 910 “Công tác soát xét báo cáo tài chính”, Chuẩn mực kiểm toán số 920 “Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục thoả thuận trước” ban hành theo Quyết định số 195/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi có chuẩn mực mới thay thế.
DOWNLOAD THÔNG TƯ

Theo Báo Hải quan

Monday, 25 March 2013

XÂY DỰNG, BAN HÀNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM: CẦN PHẢI NHANH, NHẠY HƠN

Ông Bùi Văn Mai
Theo sự ủy quyền của Bộ Tài chính, từ năm 2009 đến 2012, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã tổ chức nghiên cứu, soạn thảo để trình Bộ Tài chính ban hành lại 37 Chuẩn mực kiểm toán (CMKiT) Việt Nam. Dự thảo các CMKiT ban hành lại (trong đó có CMKiT số 700: Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính, có nhiều điểm thay đổi, khác biệt với mẫu báo cáo kiểm toán (BCKT) hiện hành) được xây dựng trên cơ sở các CMKiT quốc tế có hiệu lực từ 15/12/2009 đã được VACPA trình Bộ Tài chính trong năm 2012, và dự kiến ban hành trong thời gian tới, áp dụng cho các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) có năm tài chính kết thúc vào 31/12/2013. Trong khi CMKiT Việt Nam (sửa đổi) còn chưa được ban hành thì mới đây Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) đã xây dựng Dự án sửa đổi CMKiT quốc tế số 700. Ông Bùi Văn Mai - Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng thư ký VACPA đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Kiêm toán về vấn đề này.
ĐỖ LONG (thực hiện)
Ông có thể vui lòng cho biết những thông tin đáng chú ý về dự án nói trên của IFAC?
Ngày 21/6/2012, Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm bảo (IAASB) của IFAC đã công bố Thư mời tham gia ý kiến về việc sửa đổi mẫu BCKT của KTV độc lập. Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành việc lấy ý kiến, IAASB sẽ xây dựng và công bố dự thảo CMKiT sửa đổi vào tháng 6/2013, tiếp tục hoàn thiện và chính thức ban hành CMKiT sửa đổi vào tháng 6/2014. Trong Thư mời tham gia ý kiến, câu hỏi lớn nhất mà IAASB đặt ra là “Liệu những dự kiến thay đổi đối với BCKT có đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng về tính minh bạch của BCTC và cuộc kiểm toán, cũng như cung cấp những giá trị mà người sử dụng đang tìm kiếm hay không?”.
BCKT vẫn được coi là sản phẩm cao nhất của kiểm toán viên - là phương tiện trao đổi thông tin chính thức chủ yếu giữa kiểm toán viên với người sử dụng BCTC và BCKT. Để đảm bảo tính dễ hiểu, BCKT phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng theo đúng mẫu quy định, nhất quán cả về tiêu đề và thứ tự các mục, nội dung. Các thông tin trong BCKT phải bao gồm: đối tượng của cuộc kiểm toán, thành phần của BCTC được kiểm toán, tóm tắt công việc của KTV, tên CMKiT áp dụng (quốc tế hoặc Việt Nam), trách nhiệm của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán và của KTV, cơ sở và ý kiến của KTV về BCTC được kiểm toán theo CMKiT Quốc tế hiện hành… Ngoài ra, KTV còn phải báo cáo theo các yêu cầu khác của pháp luật. Mẫu BCKT này đã chứng tỏ nhiều ưu điểm và được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia, qua nhiều thập kỷ. Do mẫu BCKT hiện hành của Việt Nam còn chưa đầy đủ các yêu cầu đó nên dự thảo CMKiT số 700 đang trình Bộ Tài chính đã tiếp thu mẫu BCKT hiện hành của quốc tế.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và thay đổi không ngừng của xã hội, sự biến động lớn của nền kinh tế, đặc biệt là sự xuất hiện ngày càng nhiều các giao dịch kinh tế phức tạp, dưới nhiều hình thức nên các yêu cầu về lập và trình bày BCTC cũng ngày càng được đặt ra nhiều hơn, chi tiết hơn và chặt chẽ hơn. Đồng thời, người sử dụng BCTC và BCKT cũng mong muốn biết được thông tin cụ thể và đầy đủ hơn về cuộc kiểm toán, muốn KTV diễn giải và đưa ra ý kiến về nhiều khía cạnh trong thông tin tài chính của đơn vị, thay vì chỉ giới hạn là xác nhận sự “trung thực và hợp lý” của BCTC được kiểm toán. Do đó, IAASB cho rằng cần thiết phải tiếp tục thay đổi mẫu BCKT của KTV độc lập. Chất lượng của một cuộc kiểm toán chỉ được khẳng định và kiểm chứng bằng một sản phẩm đầu ra duy nhất là BCKT với đầy đủ thông tin cần thiết đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. BCKT phải thể hiện được những công việc mà KTV đã làm và làm nổi bật những vấn đề chính mà KTV đã phát hiện và kết luận qua cuộc kiểm toán đó.
Vậy các nội dung định hướng thay đổi trong CMKiT quốc tế này là gì, thưa ông? 
5 nội dung thay đổi quan trọng trong mẫu BCKT mà IAASB tin rằng các thay đổi này là cần thiết và có thể áp dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới, bao gồm: Một là, Bổ sung thêm đoạn với tiêu đề “Bình luận/Nhận xét của KTV” vào BCKT để nhấn mạnh các vấn đề mà theo xét đoán của KTV là quan trọng nhất để giúp người sử dụng hiểu rõ về BCTC được kiểm toán, hoặc về cuộc kiểm toán. Đó phải là yêu cầu bắt buộc đối với các BCKT đơn vị có liên quan đến lợi ích công chúng, và có thể vận dụng để áp dụng trong BCKT cho các đơn vị khác. Hai là, KTV phải đưa ra “Kết luận về giả định hoạt động liên tục” mà Ban Giám đốc đơn vị sử dụng để lập BCTC, đồng thời, KTV phải nêu rõ liệu KTV có (hoặc không) nhận thấyđối với bất kỳ yếu tố không chắc chắn trọng yếu nào liên quan đến giả định hoạt động liên tục. Ba là, KTV phải trình bày về “Bất kỳ điểm không nhất quán trọng yếu nào” giữa BCTC được kiểm toán và các thông tin khác mà KTV nhận thấy khi đọc các thông tin khác, đồng thời, xác định rõ thông tin khác mà KTV đã đọc. Bốn là, đoạn “Ý kiến kiểm toán” và các thông tin đặc biệt của đơn vị được kiểm toán phải được trình bày ở vị trí nổi bật trong BCKT (thậm chí có thể ở ngay phần mở đầu của BCKT). Năm là, đưa vào BCKT “Các thông tin khác” về việc thực hiện cuộc kiểm toán và làm rõ trách nhiệm của KTV, Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán.
Với vai trò là đơn vị được giao nghiên cứu, soạn thảo CMKiT Việt Nam, trước tình hình trên, VACPA đã và đang xúc tiến những hoạt động gì để tham gia ý kiến theo đề nghị của IFAC, đồng thời để bổ sung, hoàn thiện dự thảo CMKiT Việt Nam (cụ thể là CMKiT số 700) trước khi Bộ Tài chính thông qua và ban hành? 
Việc sửa đổi CMKiT quốc tế 700 thực sự là cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay đối với nhiều nước trên thế giới, vì thế chắc chắn IAASB sẽ hoàn thành công việc này theo đúng kế hoạch đã định. Điều này cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho Việt Nam, khi mà CMKiT Việt Nam số 700 dự kiến được ban hành lại đầu năm 2013 đã thể hiện “độ trễ” so với CMKiT quốc tế số 700 sửa đổi (sẽ được ban hành lại 2014). Tuy nhiên do CMKiT Việt Nam là văn bản pháp luật do Bộ Tài chính ban hành phải theo một quy trình gồm nhiều bước (dự thảo CMKiT 700 cũng đã trải qua tất cả các bước trước khi ban hành) nên không thể sửa đổi lại; mặt khác CMKiT 700 mới của IFAC dự kiến tháng 6/2014 mới ban hành nên không thể sử dụng để làm cơ sở sửa lại dự thảo CMKiT 700 của Việt Nam ngay được. Các yêu cầu (5 điểm) dự kiến bổ sung CMKiT 700 của quốc tế cũng có cao so với điều kiện của Việt Nam nên cũng chưa thể áp dụng cho tất cả các cuộc kiểm toán BCTC. Chúng tôi dự kiến khoảng cuối năm 2014 khi IAASB đã công bố chính thức CMKiT 700 mới, VACPA sẽ trình Bộ Tài chính tài liệu hướng dẫn một số điểm cần áp dụng cho các cuộc kiểm toán BCTC công ty có lợi ích công chúng như công ty niêm yết, đại chúng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, ngân hàng và các tổ chức tài chính…Tuy nhiên qua sự kiện này, chúng tôi nhận thấy việc cập nhật và ban hành CMKiT nói riêng và chuẩn mực kế toán của Việt Nam nói chung cần phải có giải pháp nhanh, nhạy hơn hiện nay.
Xin trân trọng cảm ơn ông!./.
(Theo VACPA)

Popular Posts