Monday, 5 December 2011

10 CEO có tài khuynh đảo cục diện doanh nghiệp

Xem hình

Việc điều hành một công ty đa quốc gia hay một nghiệp đoàn gia đình vốn dĩ đã cần tới một nhà lãnh đạo với những kỹ năng đặc biệt. Song yêu cầu sẽ còn cao hơn, khi công ty đó đang lâm vào cảnh sống dở chết dở.
Một giám đốc điều hành (CEO) có thể chuyển bại thành thắng, đưa một công ty từ bờ vực phá sản trở lại với thành công, phải là người có tài thực sự, có chương trình hành động và mục tiêu cụ thể, có tính sáng tạo và sự kiên nhẫn.

Có người cho rằng, nhân tài cũng cần có thiên thời, địa lợi. Nếu không gặp thời, thì vị CEO đó dù giỏi thế nào cũng khó thay đổi được cục diện. Tuy nhiên, 10 gương mặt dưới đây, theo hãng tin CNBC, thực sự là tài không đợi thời.

Peter Cuneo, hãng giải trí Marvel Entertainment

Nhiệm kỳ: 9/1999 – 12/2002


Peter Cuneo gia nhập Marvel Entertainment vào thời điểm hãng giải trí này đang nợ chồng chất, thiếu tiền mặt và bầu không khí làm việc trong công ty vô cùng chán nản. Cuneo đã tập trung vào mở rộng nghiệp vụ quốc tế của công ty và đưa ra mô hình mới về phim truyện, truyền hình và các sản phẩm tiêu dùng.

Chẳng hạn như những bộ phim của Marvel được dựa trên các nhân vật đã trở thành “bom tấn”. Cuneo cũng trẻ hóa mảng kinh doanh truyện tranh của Marvel. Khi ông bắt đầu nắm quyền ở Marvel, cổ phiếu công ty chỉ có giá 94 xu, nhưng 10 năm sau (khi Cuneo đảm nhận cương vị Phó chủ tịch), Marvel được bán lại cho Walt Disney với giá hơn 4 tỷ USD, tương đương 54 USD/cổ phiếu.

Richard Clark, hãng dược Merck & Co.

Nhiệm kỳ: 5/2005 – 12/2010


Richard Clark đã làm cho Merck & Co. suốt 35 năm. Khi ông lên nắm giữ chức CEO, công ty đang trong cuộc chiến pháp lý về sản phẩm dược Vioxx đã bị thu hồi do có liên quan tới các bệnh tim mạch và đột quỵ. Clark đã cắt giảm nhân lực và đóng cửa 5 nhà máy nhằm có thể tiết kiệm được 4 tỷ USD đến năm 2010.

Ông đã sắp xếp lại việc quản lý và quảng bá thị trường, tập trung sức vào các dòng sản phẩm mới đầy hứa hẹn của Merck. Nhờ vậy, Clark đã khôi phục được danh tiếng của công ty, dàn xếp xong vụ Vioxx và được cấp phép thêm cho 8 loại thuốc mới trong 2 năm. Vào 2008, giá cổ phiếu của Merck đã trở lại mức cao trước vụ Vioxx và tăng gấp đôi so với mức giá hồi tháng 4/2005.

Gordon Bethune, Continental Airlines

Nhiệm kỳ: 11/1994 – 11/2004


Gordon Bethune gia nhập công ty này, khi Continental Airlines vừa hoàn thành thời gian tái cơ cấu sau phá sản. Vào thời điểm đó, hãng hàng không này đang lỗ tới 55 triệu USD mỗi tháng và xếp hạng bét trên mọi tiêu chí, từ vận chuyển hành khách cho tới chuyển nhận hàng hóa.

Dưới sự lãnh đạo của Bethune, Continental Airlines đã ngừng những đường bay không có lợi nhuận, tăng cường chất lượng dịch vụ tại các trung tâm của hãng, tái thương lượng chuyện nợ nần và cho thuê, thực hiện các kế hoạch thanh toán có tính khích lệ… Giá cổ phiếu của Continental đã tăng từ 2 USD lên hơn 50 USD. Hiện Continenetal nằm trong số các hãng bay số một về sự hài lòng của khách hàng.

Sergio Marchionne, tập đoàn xe Fiat

Nhiệm kỳ: 6/2004 đến nay


Khi Sergio Marchionne nắm cương vị giám đốc điều hành Fiat, công ty đang ngập đầu trong nợ nần và thua lỗ. Ông đã đóng cửa các nhà máy, cắt giảm việc làm và thay thế ban lãnh đạo nhằm tăng thị phần và chuyển thua lỗ thành lợi nhuận. Marchionne cũng giành được thỏa thuận với Chrysler và đàm phán chấm dứt hợp tác với General Motors.

Trong hai năm, ông không những cứu được công ty khỏi tình trạng phá sản mà còn mở rộng hoạt động sang Ấn Độ và Trung Quốc. Sau 17 quý thua lỗ liên tiếp, bộ phận xe hơi của Fiat cuối cùng cũng có lãi vào năm 2005. Những “nước cờ” dứt khoát và dũng cảm khiến cho cái tên Sergio Marchionner trở thành lựa chọn sáng giá cho giải thưởng CEO châu Âu năm 2009 do chuyên trang ôtô uy tín Automonive News bình chọn.

Mark Hurd, hãng công nghệ HP

Nhiệm kỳ: 3/2005 – 8/2010


Mark Hurd nắm quyền quản hạt hãng công nghệ HP từ tay bà Carly Forina. Ông nổi tiếng với vụ dàn xếp ổn thỏa những rắc rối trong vụ thâu tóm Compaq của HP hồi năm 2002. Hurd đã đẩy mạnh trọng tâm chiến lược của HP, tập trung đầu tư vào công nghệ. Để nâng cao hiệu quả hoạt động, ông đã mạnh tay cắt giảm nhân lực và chi phí doanh nghiệp.

Hurd đã phân quyền lại lực lượng kinh doanh và chú trọng việc đào tạo, tuyển dụng và hỗ trợ khách hàng. Giá trị cổ phiếu của công ty nhanh chóng tăng trở lại. Trong giai đoạn từ năm tài chính 2006 - 2009, doanh thu của HP đã tăng trưởng từ 80 tỷ USD lên 114,6 tỷ USD và giá cổ phiếu tăng hơn hai lần. Tuy nhiên, Hurd đã buộc phải từ chức vì một vụ bê bối liên quan tới tình dục.

Terry S. Semel, Yahoo

Nhiệm kỳ: 5/2001 – 6/2007


Semel từng làm việc suốt một thời gian dài cho Warner Bros, trước khi đầu quân vào Yahoo. Thời điểm ông năm quyền ở Yahoo là khi nhuệ khí cùng doanh thu quảng cáo của công ty này đang lao dốc. Semel đã ngồi vào cái ghế của Timothy Koogle. Để đảo ngược tình thế, Semel đã tăng cường quảng bá các sản phẩm của Yahoo cũng như công tác phân phối bán hàng. Ông cũng cố gắng chuyển công ty này từ một mô hình quảng cáo trực tuyến sang một doanh nghiệp kinh doanh thu phí.

Semel đã đạt được thỏa thuận với hãng viễn thông SBC (nay là AT&T), bán băng thông rộng cho hàng triệu hộ gia đình ở Mỹ. Yahoo đã thu được 43 triệu USD trên doanh thu 953 triệu USD vào năm 2002, so với mức lỗ 93 triệu USD trên doanh thu 717 triệu USD vào một năm trước đó. Tuy nhiên, từ thời kỳ của Semel, Yahoo cũng rơi vào cảnh cạnh tranh khó khăn với Google và Facebook. Có thể nói, Semel đã góp công lớn trong việc đưa khôi phục Yahoo sau thời kỳ bùng nổ “dot com”, nhưng ông cũng chính là người bị chỉ trích nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng của Yahoo.

Lee Iacocca, hãng xe Chrysler Motor

Nhiệm kỳ: 1979 – 1992


Sau khi bị sa thải khỏi cương vị Chủ tịch Ford Motors vào năm 1978, Lee Iacocca đã đảm nhiệm vai trò giải cứu Chrysler Motor, một trong những biểu tượng của nước Mỹ đang bên bờ vực phá sản. Iacocca đã tái đàm phán các hợp đồng với các hãng cho thuê xe hơi, sa thải nhân công và tiếp nhận khoản tiền giải cứu 1,5 tỷ USD từ chính quyền Liên bang Mỹ.

Iacocca đã thành công trong việc hồi sinh Chrysler, bắt đầu bằng mẫu K-car cỡ trung vào năm 1981. Tiếp đó, ông lại thành công với những mẫu minivan đầu tiên, Dodge Caravan và Plymouth Voyager, các dòng xe đã xác lập tiêu chuẩn cho những phương tiện vận tải thân thiện với gia đình. Năm 1983, Chrysler thu được 925 triệu USD và đủ khả năng trả lại khoản vay của chính phủ.

James R. Cantalupo, hãng đồ ăn nhanh McDonald's

Nhiệm kỳ: 2002 - 2004


Năm 2001, James Cantalupo đã rời chức Chủ tịch của McDonald's để nghỉ hưu. Tuy nhiên, ông buộc phải trở lại để giải cứu hãng đồ ăn nhanh, sau khi doanh thu của McDonald's giảm 2 năm liên tiếp. Chuỗi cửa hàng cung cấp đồ ăn nhanh này đã bị chê bai là cung cấp những thực phẩm không tốt cho sức khỏe, không phù hợp với những khách hàng mong cầu một cuộc sống lành mạnh.

Cantalupo đã chuyển hướng, đáp ứng nhu cầu của các khách hàng “có ý thức với sức khỏe” bằng cách đưa thêm các món salad, táo thái lát và thực đơn giảm cân vào danh sách lựa chọn của người tiêu dùng. Doanh thu bắt đầu tăng mạnh trở lại. Đầu năm 2003, những cố gắng của Cantalupo đã được đền đáp. Lãi ròng quý 1 của hãng đạt 327,4 triệu USD, tăng mạnh so với mức 253,1 triệu USD cùng kỳ năm trước đó. Cổ phiếu của hãng cũng tăng đều. Tiếc là Cantalupo đã qua đời do đau tim vào tháng 4/2004.

Steve Jobs, hãng công nghệ Apple

Nhiệm kỳ: 1996 - 2001


Đồng sáng lập Apple đã trở lại công ty này vào năm 1996 và trở thành CEO tạm quyền sau khi Apple thu mua NeXT. Steve Jobs là CEO chính thức của Apple vào năm 2007. Vào giai đoạn đầu sau khi trở về, ông đã giúp Apple đang gặp khó khăn về tiền mặt, nhận được một khoản đầu tư 150 triệu USD từ đối thủ Microsoft để đổi lại những cổ phiếu không có quyền bỏ phiếu. Jobs đã sắp xếp lại dây chuyền sản xuất, mở các cửa hàng bán hàng trực tiếp tới người tiêu dùng, cắt giảm chi phí hoạt động và tập trung quảng bá vào máy tính cá nhân.

Ông cũng dẫn dắt công ty tiến vào địa hạt âm nhạc trực tuyến, ra mắt máy nghe nhạc iPod, tái định hình mảng kinh doanh điện thoại di động với iPhone. Từ khi Jobs trở lại, cổ phiếu của Apple đã tăng hơn 9.000%. Theo A.M. Sacconaghi Jr., một nhà phân tích của hãng nghiên cứu Bernstein Research, thì đã có hơn 314 triệu máy nghe nhạc iPod, 129 triệu điện thoại iPhone và 29 triệu máy tính bảng iPad được bán ra. Tháng 8/2011, Jobs từ chức CEO và qua đời 3 tháng sau đó do ung thư tuyến tụy.

Mickey Drexler, hãng thời trang Gap

Nhiệm kỳ: 1995 - 2004


Khi Mickey Drexler tiếp quản công ty này vào năm 1995, Gap đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ. Kế hoạch chuyển bại thành thắng của Drexler bao gồm quyết định ngừng bán quần jean hiệu Levi’s và các sản phẩm không tên tuổi khác. Drexler tập trung bán sản phẩm Gap với mục tiêu hướng tới khách hàng nhiều tuổi và giàu có. Ông đã tái thiết kế dây chuyền sản xuất, các cửa hàng từ sàn cho tới trần và thực hiện các chiến lược quảng cáo có tính đột phá.

Drexler đã ra mắt những sản phẩm quần áo thời trang nhưng tiện dụng, đưa Gap trở thành công ty có giá trị 14,5 tỷ USD. Ông đã đưa ra sáng kiến “Ngày thứ 6 tự do”, vào ngày đó, mọi người có thể mặc những trang phục tự do, không gò bó kiểu công sở. Dưới sự lãnh đạo của Drexler, doanh thu của Gap đã tăng lên 9,1 tỷ USD vào năm 1999, vượt xa con số 6,5 tỷ USD một năm trước. Drexler đã rời công ty này vào năm 2002 và nắm quyền lãnh đạo ở hãng may mặc J. Crew.
(Theo vneconomy.vn)

6 rủi ro "chết người" của doanh nghiệp

Xem hình

Theo nghiên cứu của Câu lạc bộ Giám đốc tài chính Việt Nam (VCFO), có hơn 300 loại rủi ro mà doanh nghiệp (DN) hay gặp. Trong đó, 6 rủi ro "chết người" thường xuất hiện trong những giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng hoặc biến động bất thường. Những rủi ro này, nếu DN không biết cách đối phó, sẽ cực kỳ nguy hiểm cho hoạt động của DN.

1. Rủi ro mất cân đối dòng tiền

Nhựa Tân Hóa (VKP), Vận tải Vinaship (VNA), Vitaly (VTA), Đầu tư Thương mại TNG (TNG) là những cái tên từng được kiểm toán lưu ý về khả năng dừng hoạt động liên tục do có nợ ngắn hạn vượt quá tài sản ngắn hạn. Điển hình, chênh lệch giữa nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn tại VNA cuối quý III/2011 là 259,2 tỷ đồng, tại TNG là 72,4 tỷ đồng.

Để ngăn chặn rủi ro này, nhiều doanh nghiệp như Long Hậu (LHG) đã tìm cách kiểm soát chi tiêu chặt chẽ, lập dự báo nguồn tiền hàng tháng/tuần. Ngoài ra, phương án tập trung quản lý nợ phải thu, tăng chiết khấu thanh toán nhanh cũng được các DN như Intresco (ITC) tính đến.

Các chuyên gia khuyến nghị, nếu có thể, DN nên thay đổi chính sách chia lợi nhuận theo hướng tăng dự trữ nguồn tiền, chú ý phân tích thêm xu hướng của một số chỉ số tài chính.

2. Rủi ro bị lừa đảo trong thu xếp vốn

Thời điểm chính sách tín dụng thắt chặt và DN khó tiếp cận được nguồn vốn là lúc mà hoạt động lừa đảo trong môi giới, tư vấn thu xếp vốn xuất hiện nhiều nhất. Mới đây, Phòng An ninh kinh tế (PA81) của Công an tỉnh Quảng Nam đã kịp thời ngăn chặn hành vi lừa đảo chào mời cho vay vốn với lãi suất thấp từ 6 doanh nghiệp nước ngoài.

Những vụ lừa đảo kiểu này thường khiến DN "tiền mất, tật mang". Do đó, DN cần tìm hiểu kỹ uy tín của đơn vị tư vấn, kiểm tra kỹ nguồn vốn ưu đãi từ nước ngoài và không ứng trước tiền phí khi sử dụng dịch vụ thu xếp vốn.

3. Rủi ro lãi vay cao

Trong tình hình lạm phát tăng và tín dụng siết chặt, rủi ro lãi vay cao là rất phổ biến. Đơn cử, trong khi lãi gộp quý III/2011 của Vạn Phát Hưng (VPH) chỉ đạt mức 1,9 tỷ đồng thì lãi vay phải trả lên tới 8,3 tỷ đồng. Kết quả là VPH bị lỗ.

Để khắc phục, nhiều doanh nghiệp như Agifish (AGF) chỉ vay ngoại tệ là chính. Một số DN thì tìm vốn qua các kênh khác như TTCK. Đó là lý do vì sao, dù biết cổ đông không hào hứng, nhưng không ít doanh nghiệp vẫn chào bán cổ phiếu.

4. Rủi ro về tài trợ vốn

Bất ổn trong hệ thống ngân hàng đã khiến hoạt động cho vay của các ngân hàng có nhiều thay đổi. Một số ngân hàng đã ngừng hoặc hạn chế giải ngân dù trước đó đã hứa sẽ hỗ trợ vốn cho DN triển khai dự án. Điều này dẫn đến tình trạng "chết lâm sàng" của nhiều DN bất động sản. Tìm cách tăng thanh khoản cho dòng tiền hiện là câu chuyện đau đầu của nhiều DN.

Một số DN như Đầu tư Bình Chánh (BCI), Sacomreal (SCR) đã hoãn, giãn tiến độ ở các dự án chưa cần thiết đầu tư. Với Intresco, Phát triển BĐS Phát Đạt…, ưu tiên sắp tới là chọn lựa những công trình, dự án có vòng quay vốn nhanh, cho hiệu quả ngắn hạn. Giới phân tích dự báo, xu hướng tìm vốn mới, qua các hình thức như liên doanh liên kết, M&A… sẽ phát triển mạnh ở những ngành chịu rủi ro về tài trợ vốn như bất động sản, tài chính.

5. Rủi ro giảm sức mua

Kinh tế khó khăn và lạm phát tăng cao đã khiến sức mua của thị trường giảm mạnh. Thống kê của một DN sản xuất hàng thời trang có gần 40 cửa hàng, đại lý bán lẻ trên cả nước cho thấy, lượng hàng tồn tính đến cuối tháng 7/2011 chiếm khoảng 60% tổng lượng hàng sản xuất của DN. Điều này phần nào nói lên rằng, tình trạng giảm sức mua đang hiện diện ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực.

Trong bối cảnh đó, các chuyên gia khuyến nghị, không có cách nào khác là DN phải cơ cấu lại sản phẩm/dịch vụ- chỉ tập trung vào những mặt hàng mà thị trường có nhu cầu, hoặc ưu tiên những nhóm hàng có giá thấp hơn. Thủ Đức House (TDH) là một DN đang theo hướng này, Công ty đã tính đến phương án xây nhà giá 400-500 triệu đồng/căn.

Các chuyên gia cũng lưu ý, DN nên tập trung kiểm soát giá thành sản phẩm/dịch vụ để đảm bảo giá vốn không chiếm quá nhiều trong doanh thu và tăng khả năng cạnh tranh.

6. Rủi ro mất ổn định nguồn cung ứng

Khi kinh tế bất ổn và mọi thứ đều tăng giá thì tình trạng hàng hóa/dịch vụ đầu vào không ổn định, chất lượng giảm sút, giá thành tăng vọt… là khó tránh khỏi. Đơn cử, do giá vải tăng, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may chỉ hưởng 10% trong 30% tăng lên của giá hàng xuất khẩu.

Một giải pháp như tăng cường đầu tư vùng nguyên liệu đã được Công ty Cửu Long An Giang (ACL) áp dụng. Hay Công ty Bình Tân tìm thêm nhiều nguồn cung khác từ Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia… để giảm rủi ro biến động nguyên liệu đầu vào.

(Theo Đầu tư chứng khoán)

Sunday, 4 December 2011

Sự ảnh hưởng của phương pháp kế toán khoản đầu tư vào công ty con trên BCTC công ty mẹ đến BCTC hợp nhất

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN KHOẢN ĐẦU TƯ VÀO CÔNG TY CON TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MẸ ĐẾN BÁO CÁO TÀI CHÍNH HỢP NHẤT

Để phản ánh trung thực tính hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của toàn bộ tập đoàn, khoản đầu tư vào công ty (cty) con phải được áp dụng theo phương pháp vốn chủ sở hữu (CSH) khi lập báo cáo tài chính (BCTC) hợp nhất bất kể khoản mục đó được hạch toán trên BCTC của cty mẹ theo phương pháp nào.

Đoàn Thị Dung

C

ho đến nay, ba phương pháp kế toán đối với khoản đầu tư vào cty con trên BCTC của công ty mẹ thường được sử dụng: Phương pháp giá vốn, phương pháp vốn CSH, phương phá vốn CSH không hoàn hảo.

Theo phương pháp giá vốn, giá phí hợp nhất kinh doanh được phản ánh trên tài khoản Đầu tư vào cty con hoặc khi có sự giảm giá (tổn thất) đáng kể đối với khoản đầu tư này. Doanh thu hoạt động tài chính do đầu tư vào công ty con trên BCTC của cty mẹ được xác định trên cơ sở số cổ tức được công ty con chính thức công bố phân phối và tỷ lệ quyền lợi kinh tế của cty mẹ trong vốn CSH của cty con. Như thế số lợi nhuận thuần hoặc số lỗ trong kỳ của công ty con không ảnh hưởng trực tiếp đến số doanh thu của hoạt động đầu tư vào cty con được ghi nhận trên sổ sách kế toán của cty mẹ trong kỳ đó.

Phương pháp giá vốn dựa trên cơ sở mối quan hệ pháp lý của cty mẹ và cty con. Cả cty mẹ và cty con là những thực thể pháp lý riêng biệt, doanh thu hoạt động đầu tư vào cty con được ghi nhận trên sổ sách kế toán của cty mẹ chỉ khi cty con công bố chính thức phân phối cổ tức. Điều đó có nghĩa là khi gắn trách nhiệm pháp lý về việc phân phối cổ tức của cty con đối với cty mẹ thì doanh thu hoạt động tài chính đầu tư vào cty con mới được cty mẹ ghi nhận. Ngoài ra, phương pháp này đơn giản, giảm bớt công việc ghi chép trên sổ kế toán của cty mẹ do loại bỏ các bút toán điều chỉnh theo yêu cầu của phương pháp vốn CSH.

Tuy nhiên, phương pháp giá vốn tồn tại hai nhược điểm cơ bản. Thứ nhất,phương pháp này không phản ánh thực chất kinh tế của cty con vì số lợi nhuận thuần hoặc lỗ trong kỳ của cty con không được phản ánh trực tiếp trên BCTC của cty mẹ trong kỳ đó. Do cty mẹ có khả năng kiểm soát hoạt động kinh doanh và chính sách tài chính của cty con nên cty mẹ có thể phóng đại số doanh thu tài chính từ hoạt động đầu tư vào công ty con bằng nhiều cách khác nhau; chẳng hạn, cty mẹ có thể tạo sức ép cty con phải phân phối số cổ tức lớn hơn cho dù lợi nhuận thuần trong kỳ của cty này nhỏ hoặc cty mẹ không phản ánh số lỗ mà cty con phải gánh chịu trong kỳ. Nhược điểm này của phương pháp giá vốn bị chỉ trích ở chỗ nó không cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin kinh tế để đánh giá khả năng sinh lời và bức tranh tài chính có liên quan đến khoản đầu tư vào cty con. Thứ hai, khi BCTC hợp nhất được lập, rất nhiều thủ tục kế toán liên quan cần phải được thực hiện để xác định số lợi nhuận chưa phân phối đầu kỳ giống như chỉ tiêu này được lập theo phương pháp vốn CSH.

Theo phương pháp vốn CSH, giá vốn hợp nhất kinh doanh được phản ánh trên tài khoản Đầu tư vào cty con. Sau đó tài khoản này được điều chỉnh tăng lên hoặc giảm xuống tùy thuộc vào số lợi nhuận thuần hoặc số lỗ của cty con trong kỳ, số phân bổ chênh lệch giữa giá hợp lý và giá ghi sổ tài sản – nợ phải trả của cty con tại thời điểm hợp nhất, số phân bổ lợi thế thương mại phát sinh, số lợi nhuận hoặc lỗ chưa thực hiện phát sinh từ những nghiệp vụ nội bộ trong tập đoàn chưa phân bổ cho cty mẹ và số cổ tức cty mẹ được hưởng trong kỳ. Như thế, phương pháp này ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính do đầu tư vào công ty con theo số lợi nhuận được cty con thực hiện chứ không phải số cổ tức được cty này phấn phối hay công bố phân phối trong kỳ; do đó, phương pháp vốn CSH phù hợp với phương pháp kế toán dồn tích.

Phương pháp vốn CSH cho phép đầu tư đánh giá được khả năng sinh lời và bức tranh tài chính có liên quan đến khoản đầu tư vào công ty con. Phương pháp này còn cho phép nhân viên kế toán lập BCTC hợp nhất tự kiểm tra số liệu được lập có chính xác hay không. Lý do là nếu phương pháp vốn CSH được công ty mẹ sử dụng để kế toán khoản đầu tư vào cty con thì hao đẳng thức sau luôn xảy ra (loại trừ khi lý luận thực thể doanh nghiệp được áp dụng) :

Lợi nhuận thuần trên BCKQKD cty mẹ = lợi nhuận thuần trên BCKQKD hợp nhất

Lợi nhuận chưa phân phối trên bảng CĐKT = lợi nhuận chưa phân phối trên bảng CĐKT hợp nhất

Bảng 1

Tuy nhiên phương pháp vốn CSH không thể hiện được mối quan hệ có tính pháp lý giữa cty mẹ và cty con trong một tập đoàn. Số lợi nhuận của cty con được cty mẹ phản ánh trên BCTC của cty mẹ chưa chắc đã thực sự thu hút được nếu nhue cty con phá sản. Ngoài ra, phương pháp này còn đòi hỏi nhiều bút toán điều chỉnh trên sổ sách kế toán của cty mẹ.

Theo phương pháp vốn CSH không đầy đủ, khoản đầu tư vào cty con được cty mẹ áp dụng phương pháp vốn CSH nhưng không đầy đủ với các khoản loại trừ hoặc điều chỉnh.

Tại Việt Nam, Chuẩn mực Kế toán số 25 quy định: “trên BCTC riêng của cty mẹ, các khoản đầu tư của cty mẹ vào cty con đã trình bày trên BCTC hợp nhất được trình bày theo phương pháp giá gốc. Khi lập BCTC hợp nhất của tập đoàn, kế toán sử dụng phương pháp vốn CSH với quan điểm hợp nhất BCTC theo lý thuyết cty mẹ mở rộng.

Tóm lại, cho dù áp dụng phương pháp vốn CSH, phương pháp giá gốc, phương pháp giá vốn CSH không hoàn hảothif kết quả trình bày trên BCTC hợp nhất vẫn như nhau nếu áp dụng một quan điểm hợp nhất trên cơ sở cùng một lý luận kế toán.Tuy nhiên, phương pháp loại trừ và điều chỉnh sẽ có sự khác biệt đối với các trường hợp riêng biệt của từng phương pháp này trong quá trình lập BCTC hợp nhất. Kết luận này có thể được biểu thị dưới dạng sơ đồ Bảng 1.

(Theo Tạp chí Kế toán & Kiểm toán)

Nguồn: VACPA

Thursday, 1 December 2011

Theo đuổi bằng cấp nghề nghiệp ACCA và cơ hội sở hữu Iphone 4

Xem hình

Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, các tổ chức doanh nghiệp ngày càng hướng đến việc ưu tiên tuyển mộ các nhân sự có chất lượng cao, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế và áp lực cao. Chứng chỉ Kế toán công chứng Anh quốc (ACCA) từ lâu đã được coi là một chứng chỉ vàng trong lĩnh vực kế toán, tài chính và kiểm toán trên thế giới và là thước đo rõ rệt về trình độ và khả năng làm việc của mỗi cá nhân. Nhân sự có trong tay bằng cấp này luôn là sự săn đón của các công ty tuyển mộ nhân sự.

Các bằng cấp hành nghề của Hiệp hội ACCA ngày càng được biết đến nhiều bởi sinh viên và cán bộ ngành kế toán tài chính ở Việt Nam tuy số lượng người có trong tay bằng cấp này còn chưa nhiều. Do vậy, cánh cửa vào nghề kế toán-kiểm toán và thăng tiến trong lĩnh vực này sẽ rộng mở khi bạn sở hữu tấm bằng danh giá này. Như Bill Gate có nói “Đầu tư cho giáo dục không bao giờ là đủ, nhất là sự đầu tư cho tương lai” và ngay từ bây giờ bạn hãy tìm hiểu, định hướng và nắm bắt cơ hội tương lai cho chính mình.

Với gần 15 năm tiên phong giảng dạy các bằng cấp hành nghề như ACCA, CAT, CFA, CIMA… ở Việt nam và 25 năm ở các quốc gia khác trên thế giới, FTMSGlobal tự hào đã mang lại thành công cho hàng ngàn học viên và góp phần vào sự phát triển của ngành Kế Toán, Tài Chính và Kiểm toán của nước nhà. Đặc biệt, FTMSGlobal hiện đang là tổ chức đào tạo duy nhất của Việt Nam đạt chuẩn chất lượng Bạch kim (Platinum) – chứng nhận cao nhất trong thang đánh giá của ACCA về chất lượng đào tạo và tỷ lệ đậu.

Chuẩn bị cho kỳ thi tháng 6/2012, FTMS Hà nội khai giảng 14 môn học của chương trình ACCA, với nhiều chính sách ưu đãi học phí và hỗ trợ cho học viên. Học viên tham gia chương trình được bốc thăm và có cơ hội lớn trúng Iphone 4.




Môn học

Giảng viên / Trợ giảng

Khai giảng/

Thời gian học

F1- Accounting in Business

Nguyễn Hồng Hà, Hội viên ACCA

Tháng 3/2012

Thời gian học: Buổi tối và các ngày cuối tuần

F2-Management Accounting

Nguyễn Thị Tuyết Mai, CFA level II, Thạc sỹ Tài chính, ĐH Wesminster

F3-Financial accounting

Đỗ Hồng Vân, Hội viên ACCA

F4-Corporate and Business Law (VNM)

Nguyễn Văn Nam, Tiến sỹ Luật

F5-Performance Management

Chan Tze Kang, Hội viên ACCA

Bùi Thu Trang, Hội viên ACCA

F6- Taxation (VNM)

Sẽ thông báo sau

F7- Financial Reporting

Robert Moulin, Hội viên ACCA kỳ cựu (FCCA)

Đỗ Hồng Vân, Hội viên ACCA

F8-Audit and Assurance

Balbeer Singh Mangat, Hội viên ACCA kỳ cựu (FCCA),

F9-Financial Management

Elliot Betts, Hội viên ACCA

P1-Governance, Risk and Ethics

Hua Chia Yee, Hội viên ACCA kỳ cựu (FCCA), hội viên CFA

P2-Corporate Reporting

Robert Moulin, Hội viên ACCA kỳ cựu (FCCA)

P3-Business Analysis

Marty Windle, Hội viên ACMA

P4-Advanced Financial Management

Hua Chia Yee, Hội viên ACCA kỳ cựu (FCCA), hội viên CFA

P5-Advance Performance Management

Elliot Betts, Hội viên ACCA

Vui lòng lick vào đường link để xem chi tiết profile của giảng viên http://www.ftmsglobal.edu.vn/acca/lecturer

CHƯƠNG TRÌNH ƯU ĐÃI HỌC PHÍ, KỲ THI THÁNG 6/2012

Chi tiết học phí xin xem tại http://www.ftmsglobal.edu.vn/acca/fee

  • Giảm học phí theo các deadline đóng sớm, lên tới 35% học phí.

ĐĂNG KÝ TRƯỚC 30/12/2011 ĐỂ HƯỞNG HỌC PHÍ THẤP NHẤT

  • Tặng sách gốc trị giá 2.050.000 VND (text & revision kit) cho 1 môn học bất kỳ của ACCA nếu đóng 3 môn ACCA trước 30/12
  • Bạn được quyền tham gia bốc thăm trúng 2 chiếc I Phone 4 khi đóng học phí cho 3 môn ACCA trước 30/12
  • Giảm tiếp 5% khi đăng ký trên 5 môn (*)
  • Giảm tiếp 5% cho học viên đăng ký theo nhóm 5 (*)

(*) Các chiết khấu này được cộng dồn và giảm từ học phí tại thời điểm đóng.

Để biết thêm về các thông tin liên quan đến chương trình ACCA tại FTMS Hà Nội, anh/chị vui lòng gọi điện đến số điện thoại (04) 35 73 55 77 hoặc truy cập website www.ftmsglobal.edu.vnFacebook: www.facebook.com/FTMS.Global.VN

(Theo Đầu tư chứng khoán)

Nâng cao chất lượng kiểm toán để bảo vệ môi trường đầu tư

Xem hình

Trước nhiều vụ gian lận BCTC của các công ty niêm yết gần đây, gây mất niềm tin của công chúng đầu tư, nhiều vấn đề đang đặt ra đối với ngành kế toán, kiểm toán Việt Nam.

Làm thế nào để nâng cao chất lượng kiểm toán, kế toán để bảo vệ môi trường đầu tư? ĐTCK giới thiệu bài viết của bà Rachel Chee, hội viên Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh (ACCA), Giám đốc nghiệp vụ của Viện Kế toán công chứng Malaysia về kinh nghiệm trong việc quản lý hội viên của ngành kiểm toán Malaysia.

Tương tự như Việt Nam, ở Malaysia, Bộ Tài chính là cơ quan chịu trách nhiệm cấp chứng chỉ kế toán viên công chứng (CPA). Nhưng việc quản lý hành nghề của các kế toán viên công chứng lại thuộc về Viện Kế toán công chứng Malaysia (MIA), tổ chức nghề nghiệp của các kế toán viên công chứng.

Tổ chức này có chức năng ban hành các quy định liên quan đến hoạt động hành nghề của các CPA, quản lý hội viên, chịu trách nhiệm giám sát về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của hội viên và bồi dưỡng, đào tạo kiến thức, đạo đức nghề nghiệp. Tại Malaysia, chỉ khi trở thành hội viên của MIA, các kế toán viên công chứng mới đủ điều kiện cung cấp dịch vụ.

Hội viên của MIA được chia làm 3 loại: Loại 1 gồm các kế toán viên được cấp phép (chuyển đổi từ kế toán hoặc đang hành nghề). Loại 2 gồm các kế toán viên công chứng (có trình độ chuyên môn, vượt qua kỳ thi sát hạch của MIA và có 3 năm kinh nghiệm thực tế). Loại 3 gồm những những đối tượng làm việc trong lĩnh vực đào tạo và giáo dục nâng cao về kế toán, có bằng đại học, bằng thạc sỹ chuyên ngành kế toán và 3 năm kinh nghiệm giảng dạy.

Để trở thành một kế toán viên công chứng ở Malaysia, đòi hỏi phải hoàn thành bằng kế toán ở Malaysia được công nhận theo Điều lệ kế toán, có 3 năm kinh nghiệm làm việc liên quan do MIA đánh giá, hoàn thành một bằng cấp nước ngoài được chấp thuận bởi MIA, vượt qua kỳ thi sát hạch của MIA, đạt được tư cách thành viên của một cơ quan kế toán chuyên nghiệp được công nhận theo Điều lệ kế toán.

Khi được Hội đồng MIA chấp thuận, người có chứng chỉ phải bắt đầu hành nghề trong vòng 6 tháng (đối với người mới) hoặc 3 tháng (nếu gia nhập vào một công ty hiện tại) kể từ ngày phát hành chứng chỉ, nếu không chứng chỉ sẽ bị hủy bỏ.

Kiểm toán viên phải tham gia hành nghề công toàn thời gian; phải có bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ở mức tối thiểu 100.000 RM khi bắt đầu hành nghề. Việc cung cấp các dịch vụ kiểm toán, thuế và phá sản là các dịch vụ theo luật định tại Malaysia và yêu cầu phải có giấy phép do cơ quan chính phủ ban hành.

Một điểm khác với Việt Nam là kiểm toán viên phải trải qua vòng phỏng vấn của Ủy ban cấp bằng kiểm toán viên (Ủy ban này do Văn phòng Tổng kế toán thành lập), nhằm đảm bảo các ứng viên được cấp bằng là xứng đáng và có năng lực.

Ủy ban bao gồm các đại diện từ Văn phòng Tổng kế toán, UBCK Malaysia, Ngân hàng Trung ương Malaysia, Ủy ban Các công ty của Malaysia và Viện Kế toán công chứng Malaysia.

Các ứng viên sẽ được kiểm tra kiến thức toàn diện, gồm: các quy định và nguyên tắc liên quan đến thị trường vốn và chứng khoán, các quy định liên quan đến ngân hàng, bảo hiểm và các ngành liên quan, Luật Doanh nghiệp, các chuẩn mực kiểm toán, BCTC, quy định về thuế, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán. Năm 2009, tỷ lệ đỗ của cả nước ghi nhận chỉ có 27%.

Tại Malaysia, quy định kiểm toán bắt buộc đối với toàn bộ các công ty thành lập theo Điều lệ công ty. Tại thời điểm cuối năm 2010, Malaysia có 920.000 công ty đang hoạt động, trong khi, chỉ có 1.514 kiểm toán viên.

Do vậy, Malaysia cũng phải áp dụng nhiều biện pháp để nâng cao tỷ lệ đỗ như xác định phạm vi kiến thức phỏng vấn; thành lập diễn đàn cấp bằng kiểm toán viên với sự tham gia của các thành viên để chia sẻ kinh nghiệm và để giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng, đưa ra bảng câu hỏi tự đánh giá cho các ứng viên...

Cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ngày càng nhiều doanh nghiệp đổ vỡ đã gây ra hoài nghi về độ tin cậy vào kiểm toán. Thực tế đòi hỏi yêu cầu một sự giám sát độc lập đối với các kiểm toán viên.

Hội đồng Giám sát kiểm toán Malaysia được thành lập vào ngày 1/4/2010 dưới sự bảo trợ của UBCK có chức năng tiếp nhận, quản lý danh sách đăng ký kiểm toán viên các công ty đại chúng trên cơ sở gia hạn hằng năm và kiểm tra hoạt động hành nghề của họ.

Khái niệm các công ty đại chúng ở Malaysia rất rộng, bao gồm các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán, công ty bảo hiểm, ngân hàng, tổ chức tài chính, các công ty quản lý quỹ, kinh doanh chứng khoán, giao dịch hợp đồng tương lai…

Viện Kế toán công chứng Malaysia cũng đưa ra các quy định nghiêm ngặt. Một kiểm toán viên không được kiểm toán cho công ty nếu kiểm toán viên đó đang nợ công ty này một khoản nợ vượt quá 2.500 RM; hoặc kiểm toán viên là nhân viên của công ty đó; hoặc có quan hệ chủ - nhân viên với một nhân viên công ty đó; là một cổ đông hoặc có vợ/chồng là cổ đông của công ty; hoặc kiểm toán viên chịu trách nhiệm hoặc là đối tác, chủ, nhân viên của một người chịu trách nhiệm lưu giữ bản ghi các thành viên hoặc bản ghi các bên nắm giữ giấy nợ của công ty…

Trách nhiệm của kiểm toán viên là phải đưa ra các ý kiến về việc thu thập thông tin và giải trình cần thiết của công ty được kiểm toán; sổ sách kế toán và các hình thức ghi chép khác của công ty được lưu giữ đã theo đúng yêu cầu hay chưa; các tài liệu kế toán của các chi nhánh của công ty có đầy đủ; các thủ tục và phương pháp sử dụng để hợp nhất báo cáo tài chính hợp nhất có phù hợp hay không.

Để bảo vệ nhà đầu tư, yêu cầu bắt buộc đối với kiểm toán viên là phải báo cáo lên Phòng đăng ký nếu trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phát hiện thấy có những vi phạm Luật Điều lệ công ty và tồn tại các tình huống mà kiểm toán viên đó cho rằng vấn đề chưa được hoặc sẽ không được giải quyết một cách ổn thỏa; Kiếm toán viên cũng có thể đưa vấn đề đó ra trước ban lãnh đạo công ty. Đặc biệt, Malaysia có các quy định về điều tra, tố cáo bắt buộc áp dụng với kiểm toán viên các công ty đại chúng phạm tội gian lận, không trung thực.

Rachel Chee

(Theo Đầu tư chứng khoán)

Nhiều DN chưa áp dụng chuẩn báo cáo tài chính quốc tế

Xem hình

PetroViệt Nam lại gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường vốn quốc tế. Nguyên nhân chính lại chính nằm ở các chuẩn mực báo cáo tài chính.

Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn khi muốn thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là do các DN chưa áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế.

Là một trong những tập đoàn lớn của Nhà nước, nhưng PetroViệt Nam lại gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường vốn quốc tế. Nguyên nhân chính lại chính nằm ở các chuẩn mực báo cáo tài chính. Bởi cho đến nay, những ngành đặc thù như Dầu khí, Năng lượng vẫn chưa có một hệ thống chuẩn mực BCTC theo thông lệ quốc tế, khiến nhà đầu tư nước ngoài phải mất nhiều thời gian mới đánh giá được các chỉ tiêu tài chính cũng như năng lực cạnh tranh của tập đoàn. Chính điều này đã cản trở tập đoàn tiếp cận với nguồn vốn quốc tế.

Ông Nguyễn Xuân Sơn, Phó Tổng giám đốc PVN cũng thừa nhận, "Dầu khí là ngành có độ mở và hội nhập cao, đặc biệt trong thời gian tới phải thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư quốc tế, thị trường vốn quốc tế. Tuy nhiên, được họ quan tâm và đánh giá cao về năng lực tài chính, Petro phải sớm áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính theo thông lệ quốc tế. Còn chuẩn mực kế toán của Việt Nam hiện có một số điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, nên nhà đầu tư nước ngoài mất khá nhiều thời gian để tiếp cận với BCTC của chúng tôi".

Tuy nhiên, không chỉ những doanh nghiệp thuộc ngành Dầu khí, mà còn rất nhiều doanh nghiệp đã niêm yết trên sàn hay các công ty đại chúng cũng rất thiếu các báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế (IFRS). Theo kiểm toán Deloitte, hiện nay các thị trường vốn quốc tế như Singapore, Hongkong hay New York... đều yêu cầu các doanh nghiệp muốn huy động vốn từ những thị trường này phải cung cấp các BCTC theo chuẩn mực IFRS. Chính vì thế, để thu hút nguồn vốn ngoại một cách thuận lợi, các doanh nghiệp Việt Nam cần sớm áp dụng các chuẩn mực IFRS.

Ông David Anderson, Giám đốc điều hành công ty Kiểm toán và Tư vấn Deloitte cho rằng: "Chuẩn mực kế toán Việt Nam sử dụng nguyên tắc chi phí để phân tích các nghiệp vụ kế toán và kết quả tài chính, trong khi chuẩn mực BCTC quốc tế sử dụng giá trị hợp lý. Ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, doanh nghiệp sẽ thấy họ phải lập 2 báo cáo, một báo cáo lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và một báo cáo lập theo chuẩn mực BCTC quốc tế. Do vậy, doanh nghiệp sẽ phải chạy song song để đáp ứng yêu cầu của việc lập 2 báo cáo nói trên. Tuy đây là một quá trình không hề đơn giản, nhưng để thu hút được nguồn vốn lớn từ thị trường quốc tế thì các DN cần sớm đáp ứng được những yêu cầu này".

Petro Việt Nam cho biết, hiện đang xúc tiến làm việc với Bộ Tài chính và các doanh nghiệp kiểm toán để xây dựng một chuẩn mực BCTC quốc tế cho các ngành dầu khí, năng lượng. Tuy nhiên, các chuyên gia kiểm toán cho rằng, để giống như các nước phát triển khác, không chỉ có ngành dầu khí nói riêng, mà các doanh nghiệp Việt Nam nói chung cần sớm đi theo khung chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế.

(Theo VTV)

4 hãng kiểm toán lớn nhất thế giới có thể "'biến mất'


Các đại gia của ngành kiểm toán như Deloitte, Ernst & Young, KPMG và PricewaterhouseCoopers đang đứng trước khả năng bị xẻ làm đôi theo đề xuất mới của Ủy ban châu Âu (EC).

Ông Michel Barnier, ủy viên thương mại của Liên minh châu Âu, đã khiến ngành kiểm toán thế giới choáng váng. Ông cảnh báo dự thảo luật mới của công sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng kiểm toán và hoạt động cạnh tranh trong dài hạn.

Dự thảo này đã được trình lên Nghị viện châu Âu. Theo đó, các công ty kiểm toán sẽ phải chia tách độc lập hoàn toàn bộ phận kiểm toán và phi kiểm toán, hiện đang đóng góp khoảng 1/3 lợi nhuận.

Dự thảo của ông đã được đưa ra sau nhiều tháng vận động và dự kiến tác động lớn nhất đến 4 công ty kiểm toán lớn nhất thế giới bao gồm PwC, KPMG, Deloitte và Ernst & Young.

Nhóm công ty kiểm toán nhỏ, được cho là sẽ hưởng lợi từ dự thảo mới của ông, cũng cho rằng dự thảo này hoàn toàn không có lợi.

Các công ty kiểm toán lớn phản đối kịch liệt dự thảo luật của ông Barnier bởi nếu được chấp thuận, chắc chắn lợi nhuận sẽ bị ảnh hưởng lớn.

Dự thảo sẽ cần phải được chính phủ và nghị viện châu Âu chấp thuận trước khi được áp dụng thực.

Thông thường, một công ty kiểm toán không được phép cung cấp dịch vụ tư vấn và hậu kiểm cho cùng một doanh nghiệp. Thị trường lo ngại về khả năng các công ty kiểm toán thông đồng để cùng giữ lợi ích. Thời gian qua, không ít doanh nghiệp đã nộp đơn xin phá sản dù từng được kiểm toán xác nhận có khả năng tài chính tốt.

Ông David Sproul, CEO tại Deloitte, khẳng định quy định mới nếu được áp dụng sẽ gây ra nhiều hậu quả không mong muốn và tác động đến chất lượng kiểm toán đối với tất cả các công ty nhiều ngành, đặc biệt các tổ chức tài chính.

(Theo CafeF)

Popular Posts